BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA DU LỊCH
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN BÁ VŨ
LỚP : 13DLH1
MSSV: 1321000951
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ LỮ HÀNH
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN: ThS. LÊ THỊ LAN ANH
TP.HCM, Tháng 12 năm 2015
BỘ TÀI CHÍNH
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÀI CHÍNH – MARKETING
KHOA DU LỊCH
SINH VIÊN THỰC HIỆN : NGUYỄN BÁ VŨ
THỰC HÀNH NGHỀ NGHIỆP
ĐỀ TÀI:
TÀI NGUYÊN DU LỊCH TỈNH PHÚ YÊN
CHUYÊN NGÀNH QUẢN TRỊ LỮ HÀNH
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU ............................................................................................................ 1
1.
Lý do chọn đề tài: ......................................................................................................... 1
2.
Mục tiêu nghiên cứu: ................................................................................................... 2
3.
Phạm vi nghiên cứu: .................................................................................................... 2
4.
Phương pháp nghiên cứu............................................................................................. 2
5.
Cấu trúc của đề tài ........................................................................................................ 3
PHẦN NỘI DUNG ..................................................................................................... 4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN ........................................................................................ 4
1.1. Tài nguyên du lịch ........................................................................................................ 4
1.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên ..................................................................... 4
1.1.2. Tài nguyên du lịch nhân văn .................................................................... 5
1.1.3. Vai trò của tài nguyên du lịch .................................................................. 6
1.2. Khái quát về tỉnh Phú Yên .......................................................................................... 8
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Ngày nay, du lịch đã trở thành nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hóa –
xã hội, một ngành kinh tế quan trọng của nhiều tỉnh thành của Việt Nam. Du lịch không
những có khả năng tạo ra nguồn thu nhập rất lớn cho từng địa phương mà còn góp giao
lưu văn hóa giữa các vùng miền trên lãnh thổ Việt Nam.
Với những đặc trưng đặc sắc của mình cùng tài nguyên du lịch đa dạng, Phú Yên
có nhiều sức hút đối với khách du lịch trong và ngoài nước. Thực tế nhiều năm qua đã
cho thấy hoạt động của du lịch Phú Yên đã có những phát triển đáng khích lệ, lượng
khách du lịch ngày càng tăng, nhưng vẫn chưa khẳng định được vị thế của mình trong
du lịch Việt Nam. Quy mô và chất lượng các loại hình du lịch chưa ngang tầm với tiềm
năng, hiệu quả kinh doanh của các ngành du lịch còn khiêm tốn, chưa quảng bá được
hình ảnh một cách rộng rãi để thu hút du khách. Mặc dù đã có những định hướng được
ưu tiên đặc biệt, nhưng nhìn chung cơ sở vật chất du lịch Phú Yên vẫn chưa tích cực phát
huy hết lợi thế của mình và cũng chưa khai thác đúng tiềm năng mà thiên nhiên ban tặng.
Sản phẩm du lịch hầu hết khá đơn điệu, trùng lắp, chất lượng dịch vụ còn yếu.
Thực tế cho thấy, sản phẩm du lịch của Phú Yên chỉ dừng lại ở việc đưa du khách
đi ngắm Ghềnh Đá Đĩa, Bãi Môn – Mũi Điện; ngắm san hô tại các hòn đảo ven bờ và
thưởng thức đặc sản biển. Những tour độc đáo hấp dẫn du khách còn hạn chế. Theo ước
tính, có tới 60% số du khách chỉ ghé qua Phú Yên rồi đến các điểm du lịch khác, không
lưu trú hoặc lưu trú 1 đêm. Một trong những nút thắt khiến du lịch Phú Yên chưa thực
sự tạo được bứt phá là sự thiếu sự kết nối của các điểm đến. Toàn tỉnh có 18 di tích lịch
sử và danh thắng cấp quốc gia; tuy nhiên chưa có sự phối hợp tốt giữa Ban quản lý các
khu di tích này với các công ty lữ hành. Vì vậy, nhiều di tích chưa được đưa vào thành
tuyến, điểm tham quan thường xuyên của các tour du lịch. Cùng với sự thiếu hấp dẫn và
phân tích trong phương pháp nghiên cứu này là dữ liệu thứ cấp. Nguồn dữ liệu thứ cấp
được thu thập từ tài liệu của các nhà nghiên cứu trước đây, các tài liệu, báo cáo của tỉnh
Phú Yên, Tổng cục du lịch, Tổng cục thống kê và của ngành du lịch tỉnh Phú Yên…
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 2
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
5. Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần mở đầu, tài liệu tham khảo, báo cáo gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận
Chương 2: Tài nguyên du lịch tỉnh của Phú Yên
Chương 3: Đề xuất khai thác hiệu quả tài nguyên du lịch tỉnh Phú Yên
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 3
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thực vật, động vật là những yếu tố thỏa mãn nhu cầu khám phá, tìm hiểu tự nhiên
của con người. Sự đa dạng của hệ sinh thái động thực vật cũng là yếu tố ảnh hưởng rất
lớn tới sức hấp dẫn khách du lịch của điểm đến.
Ngoài ra tài nguyên nước cũng ảnh hưởng rất lớn tới các loại hình kinh doanh du
lịch, với tài nguyên nước thì có thể kinh doanh các loại hình du lịch như: Du lịch thể
thao, giải trí, chữa bệnh, câu cá… Đặc biệt với các nguồn nước khoáng ngầm có tác
dụng chữa bệnh thì cần phải được khai thác thật tốt để thỏa mãn nhu cầu nghỉ dưỡng và
chữa bệnh của khách du lịch hiện nay.
Tài nguyên du lịch nhân văn
Theo Luật Du lịch Việt Nam (năm 2005) quy định tại điều 13, chương II thì
“Tài nguyên du lịch nhân văn gồm truyền thống văn hóa, các yếu tố văn hóa, văn nghệ
dân gian, di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ kiến trúc, các công trình lao động sáng tạo
của con người và các di sản văn hóa vâth thể, phi vật thể khác có thể được sử dụng phục
vụ mục đích du lịch”.
Tài nguyên du lịch nhân văn do con người tạo ra, hay nói cách khác, nó là đối tượng
và hiện tượng được tạo ra một cách nhân tạo. Đây cũng là nguyên nhân khiến cho tài
nguyên du lịch nhân văn có những điểm khác biệt nhiều so với tài nguyên du lịch tự
nhiên.
Di tích lịch sử - văn hóa là tài sản quý báu của mỗi vùng, mỗi quốc gia, mỗi dân
tộc và cả nhân loại. Nó là những gì tốt đẹp nhất về truyền thống tinh hoa của dân tộc
được kết tinh trong các di tích lịch sử - văn hóa qua tiến trình lịch sử lâu dài, qua nhiều
thế hệ nó trở thành tài nguyên vô cùng quý báu cho các thế hệ đi sau. Thông qua các di
tích lịch sử - văn hóa ấy mà các thế hệ sau có thể hiểu biết về lịch sử, về quá khứ biết
đến nền văn minh nhân loại xa xưa.
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 5
DI SẢN TỰ NHIÊN
Lễ
hô ̣i
Dân
tô ̣c
ho ̣c
DI SẢN VĂN HÓA
Nhân
văn
khác
DI SẢN HỖN HỢP
Hình 1. Sơ đồ phân loại tài nguyên du li ̣ch
Vai trò của tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là yếu tố cơ bản để tạo thành các sản phẩm du lịch (trong sản
phẩm du lịch, tài nguyên du lịch chiếm giá trị từ 80 – 90%). Sự phong phú và đa dạng
của tài nguyên du lịch đã tạo nên sự phong phú, đa dạng của sản phẩm du lịch. Tài
nguyên du lịch càng độc đáo, đặc sắc thì giá trị của sản phẩm du lịch và độ hấp dẫn khách
du lịch ngày càng tăng. Số lượng, chất lượng, sự phân bố của các dạng tài nguyên du
lịch ảnh hưởng trực tiếp đến quy mô, số lượng, chất lượng sản phẩm và hiệu quả hoạt
động du lịch. Ở đâu có số lượng và mức độ tập trung các tài nguyên du lịch tự nhiên và
nhân văn lớn thì ở đó có đầy đủ các điều kiện tổ chức các loại hình du lịch như: Du lịch
lễ hội, tâm linh, leo núi, làng nghề, du lịch văn hoá, lịch sử. Tài nguyên du lịch mang
tích khách quan và có vai trò rất lớn để phát triển du lịch của một quốc gia nào đó.
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
là các giá trị hữu hình của tài nguyên du lịch. Giá trị vô hình của tài nguyên du lịch được
khách cảm nhận thông qua những xúc cảm tâm lí, làm thỏa mãn nhu cầu của khách, tạo
nên tính độc đáo của du lịch.
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 7
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
1.2.
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
Khái quát về tỉnh Phú Yên
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Phú Yên là một tỉnh ven biển thuộc vùng duyên hải Nam Trung Bộ Việt Nam. Phú
Yên trải dài từ 12°42'36" đến 13°41'28" vĩ Bắc và từ 108°40'40" đến 109°27'47" kinh
Đông. Diện tích tự nhiên: 5.060 km², phía Bắc giáp tỉnh Bình Định, phía Nam giáp
Khánh Hòa, phía Tây giáp Đắk Lắk và Gia Lai, phía Đông giáp biển Đông. Phú Yên có
vị trí địa lý và giao thông tương đối thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.
Phú Yên nằm ở miền Trung Việt Nam, tỉnh lỵ Phú Yên là thành phố Tuy Hòa, cách
thủ đô Hà Nội 1.160 km về phía Bắc và cách Thành phố Hồ Chí Minh 560 km về phía
Nam theo đường Quốc lộ 1A. Ngoài ra, Phú Yên còn có 1 thị xã là Sông Cầu và 7 huyện:
Đông Hòa, Đồng Xuân, Phú Hòa, Sơn Hòa, Sông Hinh, Tây Hòa và Tuy An.
Phú Yên có 3 mặt là núi, phía Bắc có dãy Đèo Cù Mông, phía Nam là dãy Đèo Cả,
phía Tây là mạn sườn Đông của dãy Trường Sơn. Ở giữa sườn Đông của dãy Trường
Sơn có một dãy núi thấp hơn đâm ngang ra biển tạo nên cao nguyên Vân Hòa; là ranh
giới phân chia hai đồng bằng trù phú do sông Ba và sông Kỳ Lộ bồi đắp. Diện tích đồng
tộc sống chung với nhau. Chăm, Êđê, Ba Na, Hrê, Hoa, Mnông, Raglai là những tộc
người đã sống lâu đời trên đất Phú Yên. Sau ngày miền Nam được giải phóng, sau khi
thành lập huyện Sông Hinh (1986) có những dân tộc từ miền núi phía Bắc di cư vào vùng
đất Sông Hinh như Tày, Nùng, Dao, Sán Dìu,...
Diện tích đất nông nghiệp 72.390 ha, đất lâm nghiệp khoảng 209.377 ha, đất chuyên
dùng 12.297 ha, đất dân cư 5.720 ha, đất chưa sử dụng 203.728 ha; có nhiều loại gỗ và
lâm sản quý hiếm. Trong bảng xếp hạng về Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt
Nam năm 2014, tỉnh Phú Yên xếp ở vị trí thứ 47/63 tỉnh thành.
Với bờ biển dài 189 km, có nhiều vịnh, bãi, vũng, đầm phá, gành còn mang vẻ đẹp
hoang sơ tạo nên những cảnh quan sinh thái phong phú, đa dạng là tiềm năng rất lớn cho
du lịch biển, du lịch nghỉ dưỡng và du lịch sinh thái. Bên cạnh đó, Phú Yên có nhiều
vùng bãi triều nước lợ, cửa sông, đầm phá, vịnh rất thuận lợi cho phát triển nuôi trồng
thủy sản xuất khẩu. Đây là tiềm năng, lợi thế để Phú Yên phát triển kinh tế biển.
Nền sản xuất nông nghiệp chủ yếu là lúa, mía,cây hoa màu với trình độ thâm canh
khá. Với cánh đồng Tuy Hòa, cánh đồng lúa rộng nhất miền Trung, lương thực, đặc biệt
là lúa, nhân dân đã tự túc và có phần sản xuất ra các tỉnh lân cận. Sản lượng lúa bình
quân hàng năm ước trên 320.000 tần, đáp ứng nhu cầu địa phương và bán ra tỉnh ngoài.
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 9
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
Mặc dù không phải là trọng tâm nhưng đây là ngành kinh tế thu hút nhiều lao động của
tỉnh, giải quyết công ăn việc làm cho người dân, góp phần xóa đói giảm nghèo.
Phú Yên có diện tích vùng biển trên 6.900km2 với trữ lượng hải sản lớn: trên 500
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
Phú Yên có nền văn hóa truyền thống đầy bản sắc được kế thừa và không ngừng
phát triển làm phong phú và đa dạng đời sống tinh thần của 31 dân tộc anh em trong
Tỉnh. Phú Yên còn là một vùng đất có bề dày lịch sử và chiều sâu văn hóa, nét đặc sắc
của văn hóa Phú Yên là sự đan xen, giao thoa và hòa hợp của nền văn hóa Việt - Chăm
như Tháp Nhạn, Thành Hồ và đặc biệt là nền Văn hóa Đá, với các di tích danh thắng
quốc gia Chùa Đá Trắng, núi Đá Bia gắn liền với huyền thoại Vua Lê Thánh Tông một
thời mở cõi, đặc biệt là bộ kèn đá có niên đại cách ngày nay khoảng 2.000 năm.
Nhiều di tích Lịch sử - Cách mạng - Văn hóa và danh lam thắng cảnh ở Phú Yên
như: Nơi thành lập Chi bộ Đảng đầu tiên ở Phú Yên; Hội trường Mùa Xuân, nhà thờ Bác
Hồ. Vụ thảm sát Ngân Sơn - Chí Thạnh; chiến thắng đường Năm, Tàu Không số Vũng
Rô; mộ và đền thờ Lê Thành Phương, Lương Văn Chánh; Mũi Điện, Tháp Nhạn; đầm
Ô Loan; gành Đá Dĩa, chùa Đá trắng đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng là các di
tích lịch sử - cách mạng - văn hóa và danh lam thắng cảnh cấp quốc gia.
Phú Yên có nhiều lễ, hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc. Nhiều
hoạt động văn hóa đã trở thành truyền thống như: lễ hội Lương Văn Chánh, lễ hội Lê
Thành Phương, hội thơ Nguyên Tiêu, hội đua thuyền đầm Ô Loan, hội đua thuyền sông
Chùa, …
Tiềm năng phát triển du lịch của Phú Yên rất đa dạng. Khả năng khai thác để phát
triển du lịch: Ở khu vực Đông Bắc phát triển du lịch biển, nghỉ dưỡng kết hợp với tham
quan thắng cảnh. Ở khu vực Đông Nam có điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch thể
thao, vui chơi giải trí cao cấp kết hợp với du lịch sinh thái và tham quan thắng cảnh. Ở khu
vực phía Tây là khu bảo tồn thiên nhiên Krông Trai, là nơi phát triển du lịch sinh thái kết
hợp với du lịch tham quan các làng bản dân tộc, các công trình thuỷ điện, thủy lợi...
Cơ sở hạ tầng du lịch của Phú yên được đầu tư mạnh. Phú Yên hiện có 1 khách sạn
5 sao (Cendeluxe), 3 khách sạn 4 sao (Kaya, Sài Gòn - Phú Yên, Long Beach), và nhiều
khách sạn khác như Hương Sen, khách sạn Công Đoàn... Cơ sở vui chơi, nghỉ dưỡng thì
có khu giải trí - sinh thái Thuận Thảo, khu resort Sao Việt, bãi Tràm Hideaway...
là đến ghềnh Đá Đĩa hoặc đi theo tuyến đường ven biển từ Tuy Hòa đến ghềnh Đá Đĩa
dài khoảng 35 km.
Ghềnh Đá Đĩa như một tổ ong khổng lồ rộng khoảng 50m, dài 200m với những
khối đá hình lăng trụ xếp liền nhau, ngay ngắn cùng vươn mình ra biển khơi. Những trụ
đá hoặc nghiêng nghiêng theo thế tiến ra biển, hoặc xếp thẳng đứng chồng chất lên nhau,
cao thấp khác nhau tựa như những chồng dĩa được xếp ngay ngắn. Cũng bởi vậy, mà tên
gọi Ghềnh Đá Đĩa vừa thân thuộc, vừa gần gũi.
Theo các nhà nghiên cứu khoa học, đá ở Ghềnh Đá Đĩa thuộc loại đá bazan được
hình thành từ quá trình hoạt động của núi lửa vùng cao nguyên Vân Sơn, cách vị trí
Ghềnh Đá Đĩa khoảng 30km theo đường chim bay cách đây gần 200 triệu năm. Dòng
dung nham này khi phun trào gặp nước biển lạnh đông cứng lại, cùng với hiện tượng di
ứng lực nên toàn bộ khối nham thạch bị rạn nứt đa chiều: dọc, xiên, ngang tạo thành các
khối đá nứt hình bát giác, lục giác, ngũ giác… thẳng đứng hoặc xiên thoai thoải, nửa
chìm nửa nổi trên biển.
Trên thế giới cũng có những danh thắng Ghềnh Đá Đĩa nổi tiếng như ở: bờ biển
Đông Bắc Ireland với núi đá Giant’s Causeway, ghềnh đá Órganos ở đảo La Gomera nổi
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 13
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
tiếng của Tây Ban Nha, hay trong hang động Fingal ở đảo Staffa, Scotland hay ở đảo
JeJu của Hàn Quốc. Ghềnh Đá Đĩa được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là di tích
thắng cảnh cấp quốc gia với hình dạng giống như một tổ ong khổng lồ nhô ra biển, là
một kỳ quan thiên nhiên độc đáo.
Mặc dù đã được công nhận là một thắng cảnh quốc gia vào năm 1997, nhưng cái
Việt Nam công nhận là Di tích Lịch sử Văn hóa cấp quốc gia.
Hiện đã có đường nối từ Tuy Hòa vào Vũng Rô. Đường Phước Tân- Bãi Nga chạy
dọc ven biển qua nhiều thắng cảnh như Mũi Điện, Bãi Môn tạo nhiều thuận lợi để phát
triển kinh tế xã hội.
Vũng Rô là một trong ba địa điểm có điều kiện tự nhiên tốt nhất tại Việt Nam để
xây dựng cảng biển lớn (hai địa điểm còn lại là Cam Ranh và Vân Phong). Hơn nữa việc
nằm cạnh cảng trung chuyển container quốc tế Vân Phong tạo cho Vũng Rô lợi thế rất
lớn cho các hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa, giao lưu với thế giới. Nhằm khai thác
lợi thế cảng Vũng Rô, khu kinh tế Nam Phú Yên đã được thành lập.
2.1.3. Đầm Ô Loan
Đầm Ô Loan nằm về phía Nam thị trấn Chí Thạnh thuộc địa phận huyện Tuy An,
dưới chân đèo Quán Cau, có diện tích toàn mặt nước là 1.570ha, cách thành phố Tuy
Hoà về phía bắc 20 km. Nước trong đầm thuộc loại nước lợ (nước xà hai) do đầm ăn
thông ra biển bằng cửa Lễ Thịnh, đưa nước mặn vào đầm mỗi khi thuỷ triều lên; đầm
cũng nhận nước ngọt từ sông Cái và các con suối nhỏ chung quanh đổ vào. Bao bọc
quanh đầm là núi Đồng Cháy, núi Cẩm và cồn An Hải. Do thế đất đồi là đất sỏi nhớt nên
mùa mưa làm xói lở, kéo theo lượng phù sa khá lớn bồi lắng lòng đầm. Do vậy, lòng
đầm chỗ sâu nhất khoảng 6 mét, chỗ cạn, thường là ven bờ, khoảng trên 1 mét. Riêng
phía trên cửa Lễ Thịnh thuộc địa phận An Hải mực nước sâu tới 10 mét.
Trong dân gian có nhiều huyền thoại về tên gọi đầm Ô Loan, nhưng gần gũi nhất
là câu chuyện về nàng Loan và chim Ô thước đã được truyền tụng từ đời này sang đời
khác. Theo lời kể của ông Cao Phi Yến một nhân sĩ và là nhà nghiên cứu văn hoá dân
gian kể lại rằng: Ngày xưa, có nàng tiên trên trời rất xinh đẹp tên nàng Loan, nhưng tính
tình hay tinh nghịch. Một ngày nọ nàng Loan mượn con chim Ô thước bay xuống trần
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 15
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
kiện năm 1775 khi tướng Tống Phước Hiệp huy động toàn quân chúa Nguyễn tấn công
quân Tây Sơn đóng tại đây. Trong Thế chiến thứ hai, vào tháng 4 năm 1945, hải quân
Đế quốc Nhật Bản tiến vào vịnh để đánh chiếm hòng làm bàn đạp tiến sâu vào đất liền
nhưng bị máy bay của quân Đồng Minh bắn cháy.
Ngày nay, Xuân Đài là một trong những vịnh được các chuyên gia đánh giá là có
tiềm năng du lịch lớn nhất nhì miền Trung với cảnh sắc hữu tình, có nhiều đảo, bãi tắm
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 18
Báo cáo Thực hành nghề nghiệp
GVHD: ThS. Lê Thị Lan Anh
rất đẹp và hoang sơ. Nơi đây đang được quy hoạch đẻ phát triển các loại hình du lịch
nghỉ dưỡng,du lịch thể thao nước, du lịch sinh thái biển. Xuân Đài còn nổi tiếng vì có
nhiều loại hải sản ngon, quý như ghẹ Sông Cầu, tôm hùm, cá mú,... Năm 2011, Vịnh
Xuân Đài được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xếp hạng di tích quốc gia.
2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn
2.2.1. Tháp Nhạn
Tháp Nhạn là một tháp Chăm nằm bên bờ bắc sông Đà Rằng, gần quốc lộ 1A, thuộc
thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Tháp là nơi thờ phụng thần linh của người Chăm cổ.
Tháp Nhạn nằm trên núi Nhạn, soi bóng trên Đà giang vĩ đại tạo nên bức tranh sơn thủy
hữu tình: Núi Nhạn - Sông Đà Rằng.
Tháp Nhạn được người Chăm sinh sống ở lưu vực châu thổ sông Ba xây dựng vào
cuối thế kỷ thứ 11, đầu thế kỷ 12 trên một khu đất tương đối bằng phẳng gần đỉnh núi
Nhạn. Chung quanh việc xây dựng ngọn tháp trên núi Nhạn, có truyền thuyết kể rằng,
thuở ấy quân của ông Lương Phù Già (tức Lương Văn Chánh) giao tranh với quân Chăm
(Chiêm Thành). Chiến trường diễn ra ở phần đất thành phố Tuy Hoà ngày nay. Quân của
Nagar ở Nha Trang, đó là xây dựng theo hình thức tầng cao. Tháp có hình tứ giác với 4
tầng, càng lên cao càng thu nhỏ lại so với tầng dưới, nhưng vẫn theo phong cách tầng
dưới. Tháp cao gần 23,5m, mỗi cạnh chân tháp dài 10m.
Nóc của tháp gồm nhiều lớp xếp, phần chóp được cấu tạo bằng phiến đá nguyên
tảng có hình búp sen cân đều. Đó là biểu tượng Linga của người Chăm. Trên đỉnh tháp,
bốn mặt đều có bốn cửa sổ giả, tách biệt giữa phần trên và tầng dưới. Cửa chính ở hướng
đông, phần trên cửa hình vòm, xây cuốn theo kiểu giật cấp, trụ và xà ngang của cửa là
khối đá vôi mềm, dễ đẽo gọt, đục chạm.
Bên trong tháp, tường xây thẳng đứng cao vút từ phần đế tháp cho đến hết phần
thân. Càng lên cao, tường càng thu nhỏ dần cho đến đỉnh, tạo thành hình chóp nón. Trên
mặt tường tháp không có hoa văn trang trí, chỉ có một vài họa tiết hoa văn hình rồng
được chạm khắc cách điệu bằng đá hoa cương đặt bên ngoài góc tháp. Trong lòng tháp
không có bệ thờ, không có tượng, chỉ có một am nhỏ phía trước để thờ bà Thượng Đỉnh
Chúa Thiết A Na Diễn Ngọc Phi được xây dựng từ thời Hậu Lê.
SV: Nguyễn Bá Vũ – Lớp 13DLH1
Trang 20