LỜI MỞ ĐẦU
Ở Việt Nam hiện nay, tương tự như chuẩn chung của thế giới, qui định về
phát hành trái phiếu cũng chặt chẽ hơn phát hành cổ phiếu. Đối với trái
phiếu doanh nghiệp, ngoài qui định phải có mức vốn điều lệ đã góp từ mười
tỷ trở lên và hoạt động kinh doanh của năm liền trước phải có lãi, đồng thời
không có lỗ luỹ kế như với phát hành cổ phiếu, công ty muốn chào bán trái
phiếu ra công chúng còn phải đảm bảo không có các khoản nợ phải trả quá
hạn trên một năm. Thêm vào đó, công ty phải có thời gian hoạt động từ 1
năm trở lên và báo cáo tài chính của năm liền kề trước năm phát hành được
kiểm toán để đảm bảo tính minh bạch và công khai về thông tin cho các nhà
đầu tư.Thị trường trái phiếu của Việt Nam còn nhỏ với tổng giá trị khoảng
trên 70 nghìn tỷ đồng Việt Nam, bằng 7,7% GDP, nhưng môi trường kinh tế
xã hội của Việt Nam ổn định, tỷ giá USD/VND trong những năm qua ít biến
động, nên thị trường trái phiếu VN được đánh giá sẽ tiếp tục là điểm đến hấp
dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài. Thêm vào đó, xu hướng các doanh
nghiệp phát hành trái phiếu ra công chúng thay vì chủ yếu huy động vốn vay
từ ngân hàng sẽ mang đến một diện mạo mới cho thị trường trái phiếu, một
sự chuyển mình và phát triển mạnh, bền vững. Trên thị trường trái phiếu
hiện nay đáng chú ý có hai loại trái phiếu chính là trái phiếu Chính phủ Việt
Nam và trái phiếu chuyển đổi của một số ngân hàng
Trái phiếu Chính phủ Việt Nam được các nhà đầu tư đánh giá khá cao.
Tháng 10 năm 2005, lần đầu tiên trái phiếu Chính phủ Việt Nam được phát
hành ra thị trường vốn quốc tế. 750 triệu USD trái phiếu đã được các nhà
đầu tư mua hết ngay trong vòng 30 giây sau khi phát hành. Một kết quả khó
có thể khả quan hơn. Đợt trái phiếu này sẽ được mua bán lại trên tất cả các
trung tâm chứng khoán (thị trường thứ cấp) lớn như Hongkong, Singapore,
London, New York, Boston... liên tục đến năm 2016.Trong bài báo của tác
giả Beth Thomas trên tờ Bloomberg số ra ngày 23/3/2007, công ty Pacific
Investment Management Co. and HSBC Holdings Plc cho rằng nếu Việt
Nam nới lỏng các hạn chế về phát hành trái phiếu bằng ngoại tệ thì có
thể khai thác tốt hơn nhu cầu của các nhà đầu tư quốc tế cũng như cắt giảm
nước ngoài mua hết với mức lãi suất thấp nhất trong vòng ba năm trở lại đây
6,8%/năm. Từ sau lần này, những đợt phát hành tiếp theo lãi suất trái phiếu
sẽ cố định, nhưng mệnh giá sẽ thay đổi. Giá trái phiếu sẽ không là 100.000
đồng nữa, mà có thể xuống 99.000-98.000 đồng hay lên 101.000-102.000
đồng. Sức hấp dẫn của trái phiếu càng cao, thì giá trúng thầu sẽ càng thấp
hơn mệnh giá và ngược lại.Ngay sau đợt phát hành trái phiếu lô lớn trên,
ngày 15/3, tập đoàn định mức tín nhiệm Moody’s của Mỹ đã nâng mức tín
nhiệm đối với trái phiếu chính phủ Việt Nam từ ổn định lên tích cực trong
bậc xếp hạng Ba3 hiện có. Theo của Moody's, mức trần đánh giá của trái
phiếu giao dịch bằng ngoại tệ vẫn đứng ở mức Ba2, với triển vọng "ổn
định". Mức trần đánh giá của tiền gửi chính phủ bằng ngoại tệ tăng từ "ổn
định" lên "tích cực" trong bậc xếp hạng B1 hiện có. Mức trần đánh giá của
trái phiếu Chính phủ giao dịch bằng nội tệ vẫn đứng ở mức Ba1.
Xuất phát từ thực tế đó,cùng với sự gợi ý của giáo viên hướng dẫn và anh
chị hướng dẫn thực tập, em đã chọn đề tài :
Hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu chính phủ tại Trung tâm giao
dịch chứng khoán Hà Nội.
Nội dung của đề tài bao gồm:
Chương 1: Lý luận chung về phát hành Trái phiếu Chính phủ.
Chương 2 : Thực Trạng công tác phát hành Trái phiếu Chính phủ tại Trung
tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (TTGDCKHN).
Chương 3: : Một số giải pháp hoàn thiện công tác phát hành trái phiếu chính
phủ tại TTGDCKHN.
LỜI CẢM ƠN.
Trong quá trình học tập, nghiên cứu tại nhà trường kết hợp với thời gian
thực tập tại Trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội , được sự giúp đỡ hết
khoán mới gọi là phát hành chứng khoán. Nếu đợt phát hành dẫn đến việc
đưa một loại chứng khoán của một tổ chức lần đầu tiên ra công chúng thì gọi
là phát hành lần đầu ra công chúng. Nếu việc phát hành đó là việc phát hành
bổ sung bởi tổ chức đã có chứng khoán cùng loại lưu thông trên thị trường
thì gọi là đợt phát hành chứng khoán bổ sung. Tuy nhiên, không phải mọi
đối tượng đều được phát hành chứng khoán mà chỉ những chủ thể phát hành
mới có được quyền này.
1.1. Các phương thức phát hành chứng khoán.
Có 2 phương thức phát hành chứng khoán trên thị trường sơ cấp. Đó là phát
hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng.
Phát hành riêng lẻ (Private Placement): Là việc công ty phát hành chào bán
chứng khoán của mình trong phạm vi một số người nhất định (thông thường
là cho các nhà đầu tư có tổ chức có ý định nắm giữ chứng khoán một cách
lâu dài) như công ty bảo hiểm, quỹ hưu trí... với những điều kiện hạn chế
chứ không phát hành rộng rãi ra công chúng. Các ngân hàng đầu tư cũng có
thể tham gia vào việc phát hành riêng lẻ với tư cách nhà phân phối để hưởng
phí phát hành. Đa số các đợt phát hành trái phiếu đều thực hiện dưới hình
thức phát hành riêng lẻ, việc phát hành cổ phiếu thường - cổ phiếu phổ thông
ít khi được thực hiện dưới hình thức này.
Phát hành chứng khoán ra công chúng: là việc phát hành trong đó chứng
khoán có thể chuyển nhượng được bán rộng rãi ra công chúng cho một số
lượng lớn người đầu tư nhất định (trong đó phải dành một tỷ lệ cho các nhà
đầu tư nhỏ) và khối lượng phát hành phải đạt một mức nhất định.
Ý nghĩa của việc phân biệt giữa phát hành riêng lẻ và phát hành ra công
chúng
Việc phân biệt phát hành riêng lẻ và phát hành ra công chúng là để xác định
những người phát hành rộng rãi ra công chúng phải là những công ty có chất
lượng cao, hoạt động sản xuất kinh doanh tốt, nhằm bảo vệ cho công chúng
đầu tư nói chung, nhất là những nhà đầu tư nhỏ thiếu hiểu biết. Đồng thời,
sung cho các cổ đông cũ trước khi chào bán ra công chúng bên ngoài. Dĩ
nhiên, sẽ có một số cổ đông không muốn mua thêm cổ phiếu của công ty.
Do vậy, công ty cần có một tổ chức bảo lãnh dự phòng sẵn sàng mua những
quyền mua không được thực hiện và chuyển thành những cổ phiếu để phân
phối ra ngoài công chúng. Có thể nói, bảo lãnh theo phương thức dự phòng
là việc tổ chức bảo lãnh cam kết sẽ mua nốt số chứng khoán còn lại chưa
được phân phối hết của tổ chức phát hành và bán lại ra công chúng. Tại các
nước đang phát triển, khi các tổ chức bảo lãnh còn non trẻ và chưa có tiềm
lực lớn thì phương thức bảo lãnh phát hành dự phòng lại là phương thức bảo
lãnh thông dụng nhất.
* Bảo lãnh với cố gắng cao nhất: là phương thức bảo lãnh mà theo đó tổ
chức bảo lãnh tổ chức bảo lãnh thoả thuận làm đại lý cho tổ chức phát hành.
Tổ chức bảo lãnh không cam kết bán toàn bộ số chứng khoán mà cam kết sẽ
cố gắng hết sức để bán chứng khoán ra thị trường, nhưng nếu không phân
phối hết sẽ trả lại cho tổ chức phát hành phần còn lại.
* Bảo lãnh theo phương thức bán tất cả hoặc không: trong phương thức này,
tổ chức phát hành yêu cầu tổ chức bảo lãnh bán một số lượng chứng khoán
nhất định, nếu không phân phối được hết sẽ huỷ toàn bộ đợt phát hành.
* Bảo lãnh theo phương thức tối thiểu - tối đa: là phương thức trung gian
giữa phương thức bảo lãnh với cố gắng cao nhất và phương thức bảo lãnh
bán tất cả hoặc không. Theo phương thức này, tổ chức phát hành yêu cầu tổ
chức bảo lãnh bán tối thiểu một tỷ lệ chứng khoán nhất định (mức sàn).
Vượt trên mức ấy, tổ chức bảo lãnh được tự do chào bán chứng khoán đến
mức tối đa quy định (mức trần). Nếu lượng chứng khoán bán được đạt tỷ lệ
thấp hơn mức yêu cầu thì toàn bộ đợt phát hành sẽ bị huỷ
1.3. Phương pháp hành chứng khoán.
Nói chung, tất cả các đơn vị muốn phát hành chứng khoán ra công chúng
trước hết phải được phép của Uỷ ban chứng khoán quốc gia. Để Uỷ ban có
cơ sở xem xét một đơn vị có đủ điều kiện phát hành chứng khoán hay
không, đơn vị phải làm đơn xin phát hành kèm theo một bản cáo bạch.
* Thời hạn chào bán:
Tổ chức phát hành phải phát hành chứng khoán theo phương án đã được
duyệt trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày giấy phép phát hành có hiệu lực.
Quá thời hạn trên, tất cả các chứng khoán chưa bán hết không được phát
hành tiếp ra công chúng.
* Đình chỉ phát hành:
Tổ chức được cấp giấy phép phát hành bị đình chỉ việc phát hành, nếu Uỷ
ban Chứng khoán Nhà nước phát hiện những sai lệch hoặc những thông tin
không chính xác trong bản cáo bạch có thể ảnh hưởng tới quyết định đầu tư
và gây thiệt hại cho người đầu tư. Tổ chức phát hành phải sửa đổi, bổ sung
theo yêu cầu của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước và thông báo công khai
việc sửa đổi, bổ sung này.
Trường hợp việc phát hành bị đình chỉ, người đầu tư có quyền huỷ bỏ việc
đặt mua chứng khoán hoặc trả lại chứng khoán đã mua; trong trường hợp
này tổ chức phát hành và các tổ chức có liên quan khác có nghĩa vụ hoàn trả
tiền cho người mua trong vòng 30 ngày, kể từ ngày việc phát hành bị đình
chỉ.
Sau khi được phép của Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước, công ty có thể chọn
những cách phát hành sau:
1). Bán riêng cho các nhà đầu tư lớn:
Tại những nước đã phát triển những định chế trung gian như: công ty bảo
hiểm, quỹ đầu tư, quỹ hưu bổng,.v.v… sẽ là những khách hàng mua chứng
khoán với khối lượng lớn. Do đó, công ty có thể bán trực tiếp cho những đối
tượng này.
2). Chào bán trực tiếp cho công chúng theo giá đã quy định:
Thường công ty nhờ đến các nhà phát hành làm cố vấn, các nhà phát hành
này thường là các ngân hàng thương mại hay công ty tài chính sẽ cố vấn cho
các công ty muốn huy động vốn và tổ chức phát hành. Công ty và các cố vấn
của mình phải cố gắng đạt được một sự cân đối giữa giá tốt nhất cho quyền
lợi công ty và giá chào bán đủ hấp dẫn để lôi kéo sự quan tâm của công
chứng khoán cho một công ty nào, công ty môi giới phải thẩm tra tình hiình
mọi mặt của công ty, quan trọng nhất là tình hình tài chính: cơ cấu nguồn
vốn và khả năng sinh lợi.
Ví dụ: Công ty muốn bán toàn bộ số cổ phiếu có giá trị là $10.000.000, công
ty môi giới chỉ có thể bán được $8.000.000, số còn lại $ 2.000.000 cổ phiếu
không bán được sẽ được công ty môi giới mua bằng tài khoản của chính họ.
Loại 2: Đại lý phát hành với cố gắng cao nhất (best effort): Các nhà phát
hành nhạn bán chứng khoán nhưng không nhận mua hết số chứng khoán
không được bán. Nghĩa là không ký kết đảm bảo hết toàn bộ chứng khoán.
Họ chỉ cam kết sẽ cố gắng hết sức để bán chứng khoán trong thời hạn, nếu
không bán hết số chứng khoán còn lại sẽ được trả cho công ty cổ phần.
Hình thức làm đại lý phát hành thường được các công ty môi giới không
nhiều vốn chấp nhận bởi vì họ không muốn lãnh chịu rủi ro trong kinh
doanh chứng khoán, họ chỉ đơn giản nhận bán hộ để hưởng hoa hồng.
Ví dụ: Công ty muốn bán toàn bộ số cổ phiếu $10.000.000, công ty môi giới
chỉ có thể bán được $ 8.000.000 giá trị cổ phiếu họ phải trả lại số cổ phiếu
có giá trị $ 2.000.000 cho công ty phát hành.
• Loại 3: Bảo đảm tất cả hoặc không (all-or-none):
Trường hợp này, công ty cổ phần cần một số lượng tối thiểu cổ phiếu phải
bán hết, nếu không sẽ bị huỷ bỏ toàn bộ số lượng đã phân phối và tiền sẽ
được trả lại cho những người đặt mua cổ phiếu.
Ví dụ: Công ty muốn bán toàn bộ cổ phiếu $10.000.000. Yêu cầu công ty
môi giới phải bán tối thiểu 70% giá trị đợt phát hành tức là công ty phải
nhận được số tiền tối thiểu $7.000.000 hoặc toàn bộ đợt phát hành bị huỷ bỏ.
Nói chung, trong công việc phát hành chứng khoán ra công chúng, tất nhiên
công ty có thể tự làm nhưng thường là thông qua một hay nhiều ngân hàng,
công ty tài chính.
Tuy phí tổn phát hành có cao hơn, nhưng là một sự hợp tác có lợi cho cả đôi
bên.
Công ty phát hành sẽ được hỗ trợ về kinh nghiệm vận động bán chứng
Khác với phát hành trái phiếu và cổ phiếu công ty, việc phát hành trái phiếu
Chính phủ không phải xin phép Uỷ ban Chứng khoán Quốc gia và phương
pháp phát hành cũng có những điểm khác biệt so với hai loại trên.
Trái phiếu Chính phủ là loại chứng khoán có độ tin cậy tín dụng cao nhất và
lãi suất của trái phiếu Chính phủ thường là lãi suất chuẩn cho các loại lãi
suất khác. Có hai loại trái phiếu Chính phủ: trái phiếu chiết khấu (Zero
coupon) và trái phiếu trả lãi định kỳ (Coupon). Người sở hữu trái phiếu chiết
khấu sẽ nhận được cả vốn gốc và lãi tương đương với mệnh giá ghi trên trái
phiếu. Ngược lại, trái phiếu trả lãi thanh toán lãi suất định kỳ 1 năm hay 6
tháng một lần cho người sở hữu.
Việc phát hành trái phiếu Chính phủ được tiến hành chủ yếu dựa trên cơ sở
đấu giá lãi suất hay đấu giá trên cơ sở giá.
Phương pháp đấu giá lãi suất cũng khác nhau chẳng hạn như kiểu Hà Lan
hay kiểu Mỹ. (Xem ví dụ).
- Nếu khối lượng phát hành là 600 triệu USD thì các đơn vị A, B và C là
những đơn vị trúng thầu.
Ví dụ:
Tên người
đăng ký
Mức đăng ký
(Triệu)
Cộng dồn
Lãi suất đăng ký
(% năm)
A 200 200 7,55
B 100 300 7,56
C 300 600 7,57
D 100 700 7,58
E 100 800 7,59
- Có phương án phát hành trái phiếu được Bộ Tài chính phê duyệt, bảo đảm
thu hồi vốn để hoàn trả nợ gốc và lãi theo đúng thời hạn quy định.
- Có đơn đề nghị Bộ Tài chính cho phép phát hành trái phiếu công trình theo
mẫu quy định của Bộ Tài chính (Kho bạc nhà nước).
- Có chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm quản lý, sử dụng vốn và thu hồi vốn
hoàn trả nợ được Bộ Tài chính đồng ý.
Các hồ sơ tài liệu trên gửi cho Bộ Tài chính (Kho bạc nhà nước) 45 ngày
trước ngày dự kiến phát hành để xem xét và ra quyêt định việc phát hành trái
phiếu công trình.
2.2. Phương thức phát hành đối với trái phiếu kho bạc và trái phiếu công
trình.
a) Phát hành trực tiếp qua hệ thống Kho bạc Nhà nước:
Các đơn vị Kho bạc Nhà nước các tỉnh, thành phố, các quận, huyện trực tiếp
tổ chức phát hành các loại trái phiếu kho bạc và trái phiếu công trình cho các
đối tượng mua trái phiếu theo quyết định của Bộ Tài chính và hướng dẫn cụ
thể của Cục Kho bạc Nhà nước.
b) Phát hành thông qua các đại lý:
- Đại lý phát hành trái phiếu bao gồm: các Ngân hàng thương mại, các Công
ty tài chính, Công ty bảo hiểm, Tổ chức tín dụng thuộc cấp tỉnh và cấp trung
ương quản lý.
- Các Chi cục Kho bạc Nhà nước được lựa chọn và ký hợp đồng với các đơn
vị đại lý phát hành trái phiếu chính phủ theo hướng dẫn của Cục Kho bạc
Nhà nước.
- Cuối mỗi ngày, đại lý bán trái phiếu kho bạc và trái phiếu công trình phải
chuyển tiền thu bán trái phiếu vào Kho bạc Nhà nước và cơ quan đại lý thực
hiện thanh lý hợp đồng.
c) Phát hành theo phương thức đấu thầu:
+ Cơ quan tổ chức đấu thầu bao gồm:
- Bộ Tài chính đối với các loại trái phiếu kho bạc và trái phiếu công trình.
- Các doanh nghiệp Nhà nước do Bộ Tài chính quyết định đối với trái phiếu
hành trái phiếu được tính căn cứ vào lãi suất cố định và lãi suất trung thầu
của từng đơn vị theo công thức sau:
G =
Trong đó:
- G : Giá phát hành.
- MG : Giá trị trái phiếu trúng thầu = MG x khối lượng.
- Lst : Lãi suất trái phiếu trúng thầu.
- LsCD: Lãi suất cố định.
- T : Kỳ hạn của trái phiếu.
- n : Số lần trả lãi trong kỳ hạn trái phiếu.
- Thông báo kết quả đấu thầu: kết quả đấu thầu được thông báo cuối ngày
mở thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng, được niêm yết công khai
tại ban tổ chức đấu thầu và gửi cho tất cả các đơn vị đặt thầu vào ngày tiếp
theo sau ngày mở thầu.
- Thanh toán khối lượng trái phiếu trúng thầu: Ngày phát hành trái phiếu
được ấn định vào ngày thứ 2 kể từ ngày sau ngày đấu thầu. Đồng thời, đơn
vị trúng thầu nhận được chứng chỉ trái phiếu hoặc được cấp giấy chứng nhận
sở hữu trái phiếu (nếu là hình thức trái phiếu ghi sổ).
2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến trái phiếu Chính phủ.
Nói chung, giá thị trường của bất cứ loại chứng khoán nào cũng phụ thuộc
vào cung và cầu, vì thế khi muốn biết điều gì quyết định giá trái phiếu chúng
ta chỉ cần tim hiểu nhân tố nào đứng sau cung và cầu.
Khả năng tài chính của người cung cấp trái phiếu.
Cung cấp trái phiếu là một chức năng của người đi vay nhằm giải quyết vấn
đề vốn. Do đó nhà đầu tư rất quan tâm đến khả năng thanh toán lãi và vốn
gốc của người cung cấp trái phiếu.
Nếu có những biến động bất lợi về khả năng tài chính của chủ phát hành, thì
lập tức giá trái phiếu đó sẽ tụt giảm trên thị trường chứng khoán. Mặc dù lãi
suất trái phiếu có vẽ hứa hẹn nhưng độ rủi ro hàm chứa lại cao hơn.
Thời gian đáo hạn.
thì sẽ làm tăng giá trị của loại Trái phiếu được thanh toán bằng dollar Mỹ.
3. Tổng quan về thị trường trái phiếu Chính phủ Việt
Nam.
Trái phiếu chính phủ bắt đầu phát hành từ năm 1991, lúc đó trái phiếu Chính
phủ phát hành có kỳ hạn là 3 tháng
Từ năm 1991 đến năm 1995 phát hành trái phiếu Chính phủ qua Kho bạc
NN với kỳ hạn ngắn (6t, 1n)
Đến tháng 6 năm 2000 Trái phiếu Chính phủ được phát hành Ngân hàng NN
và bán lẻ với kỳ hạn 2-3n
Từ năm 2000 đến nay Trái phiếu Chính phủ được phát hành với quy mô lớn
hơn và kỳ hạn đa dạng hơn thông qua hai phương thức chủ yếu là đấu thầu
và bảo lãnh.
Từ năm 2000 TPCP đã thực hiện đấu thầu tại TTGDCK Tp. HCM (nay là
Sở GDCK Tp. HCM)
Ngày 19/4/2005, HASTC tổ chức phiên đấu thầu TPCP đầu tiên do Quỹ hỗ
trợ phát triển (nay là Ngân hàng Phát triển VN) phát hành;
Ngày 20/6/2006, Bộ Tài chính ban hành QĐ 2276/QĐ-BTC về việc tập
trung đấu thầu TPCP tại HASTC. Theo đó, toàn bộ trái phiếu kho bạc và trái
phiếu đầu tư đều tập trung đấu thầu tại HASTC kể từ ngày 01/7/2006;
Ngày 6/9/2006 Bộ Tài chính ban hành QĐ 46/2006/QĐ-BTC ban hành Quy
chế phát hành TPCP lô lớn
Các tổ chức phát hành trái phiếu Chính phủ được Chính phủ bảo lãnh bao
gồm : Kho bạc Nhà nước, Ngân hàng Phát triển Việt Nam và Các tổ chức
phát hành trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh.
Từ năm 2000 đến năm 2005 phương thức phát hành trái phiếu chủ yếu là
đấu thầu qua NHNN ( chiếm 53%), còn lại là Bán lẻ qua hệ thống KBNN
(23,5%) Bảo lãnh phát hành (11%) Bảo hiểm xã hội mua (6,7%) Đấu thầu
qua 02 TTGDCK (chỉ chiếm 4,9%). Tuy nhiên từ năm 2006 đến nay
phương thức đấu thầu qua TTGDCK đã tăng rõ rệt ( chiếm 24.3%) chủ yếu
là đấu thầu tại TTGDCKHN đây sẽ là phương thức chủ đạo để phát hành trái
2001 1.333 250 2.667
2002 231 0 4.117
2003 672 1.650 7.186
2004 1.419 2.390 6.444
2005 2.235 9.945 7.736
2006 7.885 12.241 2.815
2007 18.939 18.400 0
2008 6.608 28.201 0
còn được giao dịch v ới mức giá 65.000 đồng/TP mệnh giá 100.000 đồng.
Giá “ siêu rẻ ” cộng v ới tính chất giao dịch lô lớn khiến các nhà đầu tư nhỏ
lẻ chỉ biết đứng ngoài cuộc do không đủ khả năng tài chính, phải nhường sân
cho nhà đầu tư cá nhân và nhà đầu tư tổ chức có tiềm lực tài chính, đặc biệt
là các NHTM trong và ngoài nước. Cách đây một năm, các tổ chức và cá
nhân sử dụng v ốn vay để đầu tư TP chỉ phải trả mức lãi suất vay 8%/năm và
hưởng mức lãi cuống phiếu 9%/năm, thế nhưng cho tới nay, khi lãi cuống
phiếu vẫn ở mức 9%/năm nhưng nhà đầu tư lại phải trả mức lãi vay tới 19-
21%/ năm. Chính vì vậy mà hiện nay, những đối tượng này lại đang đứng
trước nhiều rủi ro với danh mục đầu tư trái phiếu của mình. Đối v ới NHTM,
họ có thể hưởng lợi từ việc sử dụng nguồn vốn huy động được nhưng lại
đứng trước rủi ro khi sử dụng chính nguồn vốn này v ới chi phí cao (lớn hơn
18%) để tài trợ cho khoản đầu tư vào trái phiếu với lãi suất cuống phiếu chỉ
9%/năm, đặc biệt với những NHTM không xác định đầu tư dài hạn vào trái
phiếu. Mặt khác, nằm trong gói 8 giải pháp của Chính phủ ban hành tháng
3/2008, giải pháp then chốt và được nhiều nhà kinh tế cho là giải pháp mang
tính hiện thực nhất xét từ góc độ chính sách tài khóa cũng như mối tương
quan giữa các ngành đầu tư khác nhau trong xã hội, đó là điều chỉnh đầu tư
công, đầu tư từ nguồn TPCP và đầu tư của doanh nghiệp nhà nước để chống
làm phát. Theo kế hoạch, năm 2008, tổng nguồn vốn đầu tư phát triển là
567,3 ngàn tỷ đồng tương đương 35 tỷ USD trong đó nguồn từ TPCP và TP
giáo dục là 32 ngàn tỷ đồng. Thực tế tính tới thời điểm 26/06, lượng vốn đầu
tư đã cắt giảm trên cả nước xấp xỉ đạt 17,7 nghìn tỷ đồng trong đó hơn một
nửa là giảm v ốn từ TPCP. Việc cắt giảm các dự án huy động qua TPCP
ngay lập tức tác động tới TTCK: nhà đầu tư nước ngoài trong tuần từ 2/6 tới
6/6 đã bán tới 20.656 triệu TP trong khi chỉ mua vào 9.578 triệu trái phiếu.
Tháng 6/2007, TTCK có những tín hiệu phục hồi , tình hình kinh tế đất nước
khả quan hơn do tác động của 8 nhóm giải pháp kiềm chế lạm phát của
Chính Phủ, huy động v ốn của các NHTM đã bớt căng thẳng, vì thế mà tỷ lệ
chiết khấu TPCP đã giảm xuống chỉ còn trung bình là 20%, giá TP có xu