khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh việt nam - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC
ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh
trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN

Thành phố Hồ Chí Minh – Năm 2012
1


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỔ CHÍ MINH

PHAN BÍCH THỦY

TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC
ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện điện ảnh
trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam

Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số : 62 22 34 01

LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Người hướng dẫn khoa học:

Số lượng phim chuyển thể từ văn học nở rộ ở hầu hết các thể loại phim
truyện và luôn được người xem chào đón nhiệt tình. Có nhiều nguyên nhân đem
lại thành công cho phim truyện chuyển thể từ văn học, một nguyên nhân nổi bật
3


không thể phủ nhận là các tác phẩm văn học đã mang đến cho phim truyện một
sức mạnh nội tại mạnh mẽ, sức mạnh tư tưởng của bộ phim. Tuy nhiên, so với
điện ảnh thế giới những bộ phim truyện chuyển thể thành công từ tác phẩm văn
học của điện ảnh Việt Nam còn khá khiêm tốn.
Chọn đề tài Từ tác phẩm văn học đến tác phẩm điện ảnh, người viết
không ngoài mong muốn được hiểu rõ và yêu hơn vẻ đẹp lung linh từ những
trang viết đến hình ảnh được tái hiện trên màn ảnh. Từ đó, đi sâu tìm hiểu quá
trình chuyển thể từ tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh và sự ảnh
hưởng sâu sắc của văn học đối với điện ảnh. Cùng với các công trình khoa học
khác, luận án góp thêm tiếng nói khẳng định sự ảnh hưởng của văn học đối với
điện ảnh, đặc biệt những đóng góp của lí luận văn học và tác phẩm văn học
trong quá trình sản xuất phim truyện điện ảnh. Qua đó, đưa ra những giải pháp
nhằm nâng cao giá trị của phim chuyển thể văn học, để điện ảnh nước nhà có
thêm nhiều bộ phim truyện xứng tầm trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay.
2.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1.MỤC ĐÍCH
Trong quá trình hình thành và phát triển, nghệ thuật điện ảnh có nhiều
điểm chung về chức năng đối tượng phản ánh, về mỹ học cơ bản, về văn hóa…
với các ngành nghệ thuật khác. Đặc biệt, có một điểm chung bao trùm là “Trong
nghệ thuật những chuẩn mực Chân – Thiện – Mỹ đã và đang còn lâu dài là
định hướng và nội dung của sáng tạo nghệ thuật ”(Hồ Sĩ Vịnh) [172, tr.83]. Nội
dung đó in dấu ấn đậm nét qua những tác phẩm văn học và phim truyện chuyển
thể điện ảnh. Đề tài nghiên cứu của luận án góp phần giúp tất cả những ai quan
tâm đến vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang tác phẩm điện ảnh có thêm sự

chín. Vì vậy, điện ảnh có cơ hội vận dụng những phương tiện nghệ thuật sẵn có,
đồng thời tự tạo cho mình những kỹ thuật và phương pháp biểu hiện mới hiện
đại phong phú. Thành công của một tác phẩm điện ảnh là thành công của sự kết
hợp nhuần nhuyễn và tuyệt vời giữa các loại hình nghệ thuật, cùng với các
ngành khoa học kỹ thuật và công nghệ.
5


Trong các công trình mỹ học và lí luận nghệ thuật đã nêu rõ vấn đề mối
quan hệ giữa các loại hình nghệ thuật. Trong Mỹ học cơ bản và nâng cao,
Ôpxiannhicốp (chủ biên) đã phân tích: “Sự tác động qua lại của các nghệ thuật
dẫn tới trao đổi lẫn nhau, các thành tựu và đặc điểm đặc thù, dẫn đến ảnh
hưởng của một số nghệ thuật này đến các nghệ thuật khác”, và “Đặc trưng của
mỗi nghệ thuật hình thành do ảnh hưởng của toàn bộ hệ thống nghệ thuật nói
chung” [112, tr.482, 484]. Trong Nguyên lý lý luận văn học của Timôphêep và
Dẫn luận nghiên cứu văn học của Pôxpêlốp cũng nêu vấn đề mối quan hệ giữa
văn học và các loại hình nghệ thuật. Cùng nội dung trên, có tài liệu bài giảng
Văn học và các loại hình nghệ thuật của Lâm Vinh [168] và công trình nghiên
cứu của Lê Lưu Oanh [113].
Trong các loại hình nghệ thuật, văn học và điện ảnh có mối quan hệ đặc
biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Điều này, thể hiện rõ qua
lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới và Việt Nam.
3.1. TRÊN THẾ GIỚI
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi khoa học kỹ thuật phát triển, nghệ
thuật điện ảnh ra đời. Ban đầu là những trích đoạn văn học, rồi dần dần toàn bộ
tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh. Hàng loạt các tác phẩm văn
học được chuyển thể sang điện ảnh ngay từ thời kỳ phim câm. Các nhà nghiên
cứu điện ảnh đều khẳng định: phim truyện là sự kế thừa những phương cách xây
dựng câu chuyện phim từ văn học, muốn có một bộ phim truyện, đầu tiên phải
có kịch bản văn học, trước khi được quay và dựng thành phim. Trong Lịch sử

đọc, làm cho họ cảm giác được nhân vật một cách vật chất ” [34, tập1, tr.156].
Những hình tượng nhân vật được vật chất hóa qua trí tưởng tượng đã làm độc
giả say mê, và là cơ sở khởi nguồn để các tác giả điện ảnh tạo dựng nên những
nhân vật sống động trên màn ảnh. Những tác phẩm văn học nổi tiếng bao giờ
cũng có những nhân vật ấn tượng, khiến người xem yêu mến và mong mỏi được
“gặp gỡ” nhân vật “bằng xương bằng thịt” trên màn ảnh.
7


Bên cạnh những công trình lý luận của văn học, những tài liệu điện ảnh
phong phú đã cung cấp khá đầy đủ những kiến thức điện ảnh cơ bản như Lịch sử
điện ảnh thế giới của Iêc-Gi Te-Plix (Vũ Quang Chính dịch). 20 bài học điện
ảnh của Laurent Tirard (Hải Linh -Việt Linh dịch). Để viết một kịch bản điện
ảnh của Michel Chion (Phương Thư dịch). Ngôn ngữ điện ảnh và truyền hình
của Bruno Toussant (bản dịch), do Hội điện ảnh Việt Nam xuất bản. Giáo trình
chuyên ngành điện ảnh Nghệ thuật điện ảnh của David Bordwel và Kristin
Thompson (nhiều tác giả dịch), cung cấp khá toàn diện những lí luận cơ bản và
lịch sử của nghệ thuật điện ảnh gồm sáu phần: Sản xuất phát hành và chiếu
phim, Hình thức phim, Các loại hình phim, Phong cách phim, Phân tích phê
bình phim, Lịch sử phim ảnh…và nhiều công trình nghiên cứu khác.
Trong quá trình hình thành và phát triển, điện ảnh luôn gắn bó với văn
học qua từng thời kỳ: phim câm, phim có tiếng nói, phim có màu và ngày nay là
phim hiện đại 2D, 3D, 4D… Thời kỳ nào cũng có những bộ phim chuyển thể
văn học xuất sắc, để lại những dấu ấn ngoạn mục trong lịch sử điện ảnh thế giới.
Đó là những tác phẩm điện ảnh mẫu mực như Cuốn theo chiều gió, Ben Hur, Bố
già, Titaníc (Mỹ), Bác sĩ Zhivago (Ý), Những người khốn khổ, Không gia đình
(Pháp), Triệu phú khu ổ chuột (Anh), Chiến tranh và hòa bình, Sông Đông êm
đềm (Nga), Thủy hử, Cao lương đỏ (Trung Quốc)…
3.2. Ở VIỆT NAM
Điện ảnh Việt Nam ra đời năm 1953, khi điện ảnh thế giới đã phát triển ở

vai trò của người “nghệ sĩ ” trong quá trình sáng tạo nghệ thuật. Công trình Lý
luận văn học xuất bản năm 2010, của Huỳnh Như Phương cung cấp những kiến
thức như “Văn học và ngôn ngữ ”, “Nhà văn và sáng tạo văn học ”, “Người đọc
và tiếp nhận văn học ”… Các tài liệu, công trình khoa học trên đã đặt ra một loạt
vấn đề thiết thực, có ý nghĩa lý luận và thời sự của đời sống xã hội và đặc trưng
hoạt động sáng tạo của người nghệ sĩ Việt Nam trong hoàn cảnh Việt Nam.
Qua mỗi giai đoạn lịch sử của dân tộc, văn học đã cung cấp cho điện ảnh
những mẫu hình tượng nhân vật đa dạng, phong phú từ diện mạo đến tính cách.
9


Nhiều công trình nghiên cứu, bài viết đi sâu tìm hiểu con người Việt Nam qua
nhân vật trong văn học và điện ảnh ở nhiều phương diện, gắn với lịch sử thăng
trầm của dân tộc. Mai Quốc Liên đã đề cập đến vấn đề này qua bài: Góp một cái
nhìn về bản sắc dân tộc trong điện ảnh [76]. Lại Nguyên Ân với bài: Nhân xem
phim Đêm hội long trì nghĩ về một lối tiếp cận lịch sử [6, tr.395]. Hồ Sĩ Vịnh với
bài: Nghĩ về phim truyện Việt Nam [173]…
Các công trình lý luận về điện ảnh không nhiều như văn học, nhưng đã
cung cấp những kiến thức cơ bản về điện ảnh như Đường vào điện ảnh của Lê
Dân cung cấp một số vấn đề lý luận như“Bản sắc văn hóa dân tộc trong tác
phẩm điện ảnh”,“Thể hiện truyền thống nhân nghĩa trong phim truyện”… Công
trình Nghệ thuật làm phim, diễn viên & kịch bản của Lê Dân đã cung cấp những
kiến thức về quy trình làm phim, kịch bản và diễn viên. Trong Hồi ký điện ảnh,
Đặng Nhật Minh phân tích công việc của biên kịch và đạo diễn điện ảnh và
những kinh nghiệm trong quá trình làm phim. Các công trình khác như Đặc
trưng ngôn ngữ điện ảnh của Bùi Phú, Lịch sử điện ảnh cách mạng Việt Nam
(sơ khảo) do Cục điện ảnh xuất bản, Tính hiện đại và tính dân tộc trong điện
ảnh của Ngô Phương Lan, Nghệ thuật quay phim điện ảnh của Dương Quang
Viễn, Dạo chơi vườn điện ảnh và Ý tưởng nghề nghiệp của Việt Linh, Làm sao
viết kịch bản phim của Phạm Thùy Nhân…

yêu nghệ thuật. Nguyên Ngọc với bài: Khi nhà văn viết kịch bản [110]. Minh
Trang với bài: Các nhà văn nói gì về điện ảnh [159]. Thăng Long với bài: Nhà
văn Ma văn Kháng: Điện ảnh và văn học cần có sự kết hợp [82]…
Trong kỷ yếu hội thảo quốc tế Những lằn ranh văn học năm 2011 do
ĐHSP TP.HCM tổ chức, có những bài viết phân tích mối quan hệ giữa văn học
và điện ảnh qua bộ phim truyện chuyển thể như Cánh đồng bất tận và cuộc đối
thoại giữa văn học - điện ảnh của Lê Thị Dương [57, tr.465], Nhìn lằn ranh
giữa văn học và điện ảnh qua Sắc, Giới của Phan Thu Vân [57, tr.596]…
Trên các website của diễn đàn mạng xã hội, phim chuyển thể từ văn học
cũng là vấn đề được các nhiều độc giả quan tâm, với những bài viết tiêu biểu
11


như Thời của kịch bản chuyển thể của Quỳnh Trang [165], Tiếc nuối từ phim
Cánh đồng bất tận của Anh Thư [164]. Khoảng cách văn học – điện ảnh ở phim
‘Ngọc viễn đông’ của Thoại Hà [43], phân tích bảy câu chuyện phim ngắn
chuyển thể từ bảy truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thị Minh Ngọc…
Nhận xét về sự cần thiết của tính văn học trong kịch bản văn học và phim
truyện, nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã viết: “Nói đến kịch bản là dính đến văn
xuôi. Nền điện ảnh không thể hùng mạnh được khi văn xuôi kém. Chính nền văn
xuôi sẽ cung cấp cho điện ảnh từ hình ảnh, ngôn ngữ, tạo dựng tâm lí, tính cách
nhân vật, thúc đẩy hành động, tình huống trong phim ảnh. Kịch bản hay thì
phim làm sẽ hay, sẽ có giá trị”. [159, tr.27].
Những công trình bài viết, nhận định trên, đã gợi ý giúp người viết thực
hiện hành trình đi từ nhận xét khái quát đến khảo sát chi tiết cụ thể, đầy đủ và có
hệ thống. Từ đó thấy rõ vai trò và sự gắn kết của hai loại hình nghệ thuật văn
học và điện ảnh trong quá trình sản xuất bộ phim truyện chuyển thể thành công.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận án nghiên cứu khảo sát từ văn bản văn học đến kịch bản văn học

đồng và khác biệt giữa hai loại hình nghệ thuật văn học và điện ảnh, thông qua
việc tập hợp, tìm hiểu theo thể loại một số tác phẩm chuyển thể tiêu biểu.
Phương pháp chọn mẫu và phân tích tác phẩm nhằm giới thiệu, phân tích
giá trị của những tác phẩm văn học và phim truyện điện ảnh tiêu biểu.
Phương pháp hệ thống và tổng hợp nhằm giúp người nghiên cứu làm rõ
một cách hệ thống những tương đồng và khác biệt của những tác phẩm văn học
gốc và phim truyện chuyển thể trong quá trình thực hiện việc chuyển thể.
Trong quá trình nghiên cứu, phương pháp kết hợp liên ngành các khoa
học lý thuyết và lịch sử được sử dụng đầu tiên và xuyên suốt quá trình nghiên
cứu. Tiếp theo là phương pháp loại hình và so sánh, chọn mẫu và phân tích tác
phẩm được sử dụng khá nhiều để làm rõ các luận điểm của luận án. Cuối cùng
phương pháp hệ thống và tổng hợp được dùng để kết luận vấn đề.
13


6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Phần nghiên cứu quá trình sáng tạo phim truyện từ tác phẩm văn học chủ
yếu kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây. Tuy nhiên, luận án đã cố
gắng tìm hiểu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên cứu đề cập
hoặc có đề cập, nhưng chưa đi sâu. Có thể tổng hợp một số đóng góp mới sau:
- Góp phần thấy rõ bản chất mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh.
- Đặc trưng của việc xây dựng hình tượng nhân vật, cốt truyện, hoàn cảnh
lịch sử, bối cảnh xã hội và thiên nhiên từ văn học đến điện ảnh.
- Bước đầu hệ thống những thuận lợi và khó khăn trong quá trình chuyển
thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần thứ nhất : MỞ ĐẦU (12 trang)
Gồm: Mục đích ý nghĩa, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Lịch sử vấn
đề, Phương pháp nghiên cứu, Đóng góp mới của luận án, Cấu trúc của luận án.
Phần thứ hai : NỘI DUNG (189 trang) gồm 3 chương:

ánh cuộc sống và đáp ứng nhu cầu thưởng thức nghệ thuật của con người. Sự
phong phú đa dạng đó thể hiện trong việc hình thành hệ thống các loại hình loại
thể nghệ thuật từ cổ đại đến ngày nay.
Trong quá trình phát triển nghệ thuật đã trải qua một chặng đường dài từ
tư duy nguyên hợp cổ đại về các nữ thần nghệ thuật đến tư duy hình thái học
xác lập bảng danh mục những loại hình nghệ thuật khác nhau.
Trong Mỹ học, nhà triết học Hegel đã nói đến năm ngành nghệ thuật là
kiến trúc, điêu khắc, hội họa, âm nhạc và thơ ca [36, tập1, tr.169-181]
15


Nhà mỹ học Nga M.Cagan trong công trình Hình thái học nghệ thuật đã
đúc kết lịch sử phân loại nghệ thuật và đề xuất 3 bộ tiêu chí để phân loại nghệ
thuật: “Nghệ thuật không gian/ thời gian; nghệ thuật miêu tả/ không miêu tả ;
nghệ thuật một chức năng/ hai chức năng” [14, tr.367]
Trong Giáo trình mỹ học, nhà mỹ học hiện đại M.F Ôpxiannhicôp đã đưa
ra một bảng danh mục gồm 13 loại hình nghệ thuật: “Văn học nghệ thuật, kiến
trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, hội họa, đồ họa, âm nhạc, nghệ thuật nhảy
múa, sân khấu, nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh, vô tuyến truyền hình, nghệ thuật
tạp kỹ và xiếc.” [112, tr.383].
Tiếp thu những ý kiến phân loại nghệ thuật của các nhà nghiên cứu trong
quá khứ, trong cuốn Nguyên lý mỹ học Mác Lênin tác giả người Nga Lukin đã
nhận định: “Loại hình nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động nghệ thuật đặc biệt
của con người, được phân biệt dựa theo đối tượng của sự phản ánh, dựa theo
tính chất và kiểu loại hình tượng, theo phương thức thỏa mãn nhu cầu thẩm mỹ
của con người, theo chất liệu và theo các quy luật xây dựng hình tượng nghệ
thuật đặc trưng của mình.” [113, tr.96].
Kế thừa tư tưởng phân loại của các nhà mỹ học đi trước, trong chuyên đề
Văn học và các loại hình nghệ thuật, nhà nghiên cứu Lâm Vinh đã xây dựng 5
bộ tiêu chí và bảng danh mục hai hệ thống nghệ thuật thuần túy ( 7 loại hình) và

một câu chuyện tương tự với câu chuyện nhà văn Magơrit Mitchel miêu tả trong
tiểu thuyết. Hai nhân vật chính Rhett và Scarlett trở thành đôi “nam thanh nữ tú”
được người xem say mê từ trong trang sách đến màn ảnh, qua diễn xuất tuyệt
vời của hai diễn viên tài năng Clark Gable và Vivien Leigh [144, tr.80]. Hay
hình ảnh ấn tượng khó quên của chàng Anđrây và nàng Natasa trong tiểu thuyết
và phim Chiến tranh và hòa bình…và cũng tương tự như vậy ở những bộ phim
chuyển thể trong văn học Việt Nam. Đó là những mâu thuẫn xã hội sau ngày
miền Nam giải phóng qua hai thế hệ nhân vật trong gia đình ông Sĩ trong tiểu
thuyết Những khoảng cách còn lại của nhà văn Nguyễn Mạnh Tuấn và phim Xa
17


và gần của đạo diễn Huy Thành. Hay câu chuyện về thân phận của những người
phụ nữ công giáo trong tiểu thuyết Bão biển của nhà văn Chu Văn và phim Ngày
lễ thánh của nữ đạo diễn Bạch Diệp…
Trong công trình Cơ sở lý luận văn học Lê Bá Hán nhận xét: “Nhắc đến
tên một bộ tiểu thuyết, một truyện vừa, một truyện ngắn hoặc một kịch bản văn
học quen biết, chúng ta liền nghĩ đến câu chuyện và những con người được thể
hiện trong đó…” [40, tập 1, tr.74]. Từ tác phẩm văn học đến phim truyện chuyển
thể đều mang lại cho người thưởng thức một nội dung trong cùng hoàn cảnh,
cùng hình tượng nhân vật. Quan hệ của văn học và điện ảnh được thể hiện ở cả
dạng động và tĩnh. Những yếu tố cơ bản trong xây dựng tác phẩm ở văn học và
kịch bản văn học là quan hệ tĩnh với những điểm giống và khác nhau được thể
hiện qua chữ viết (trong kịch bản, tác giả chỉ sử dụng những câu chữ có thể hình
dung được). Quá trình chuyển từ kịch bản thành phim truyện là quan hệ động
(có sự hợp tác liên kết trong quá trình sáng tạo như bối cảnh, máy quay, ánh
sáng, phục trang, âm thanh…và đặc biệt sự hiện diện của diễn viên theo chỉ đạo
của đạo diễn, để đưa nội dung văn học từ chữ viết lên màn ảnh).
Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh được thể hiện qua ba cấp
độ: tính đồng nhất (về đặc trưng phản ánh - hình tượng), tính tương đồng (về nội

tích cực của xã hội, đến với chân lý một cách lãng mạn, tự giác và lâu dài.
Lấy con người làm đối tượng chủ yếu, nghệ thuật bao giờ cũng nhìn nhận
hiện thực qua cái nhìn của con người. Qua cái nhìn đó, nghệ thuật phát hiện ra
bản chất của hiện thực và trở lại nhận thức sâu sắc hơn về con người.
Vì vậy, thông qua tác phẩm nghệ thuật, con người tìm được bạn tri âm tri
kỷ, đồng điệu về tâm hồn cảm xúc, được bộc lộ tự do cá tính, trí tưởng tượng và
những khát vọng thầm kín. Bởi “Nghệ thuật là kính hiển vi mà nghệ sĩ đem soi
vào những bí ẩn của tâm hồn mình rồi trình bày những bí ẩn chung cho tất cả
mọi người”(Lê Ngọc Trà)[137, tr.17]. Mặt khác, qua tác phẩm văn học nghệ
thuật con người không chỉ có cơ hội đến với những tư tưởng lớn lao, mới mẻ của
19


nhân loại, mà còn mở rộng tầm hiểu biết, giao lưu tới những vùng văn hóa và
những dân tộc khác trên thế giới. Đó là mục đích nhân văn cao cả mà nghệ thuật
cần hướng tới, như nhà văn Nam Cao từng trăn trở: “Một tác phẩm thật giá trị,
phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho
loài người. Nó phải chứa đựng một cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại
vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho
người gần người hơn.” [187, tập1, tr.614].
“Văn học là nhân học”(M.Gorki), là câu chuyện về cuộc đời, về cõi nhân
sinh. Cùng hình thái ý thức nghệ thuật với văn học, ngay từ khi mới ra đời, điện
ảnh đã sử dụng nguồn tư liệu quý giá từ những tác phẩm văn học trong kho tàng
văn học của nhân loại, để làm nên những bộ phim truyện kinh điển và bằng cách
đó góp phần phát triển nghệ thuật điện ảnh. Khi nhận xét về sự đồng nhất của
các loại hình nghệ thuật, các nhà mỹ học dân chủ Nga đã khẳng định: “Mọi loại
hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu hiện các tư tưởng tình cảm
của con người, nên đều có nội dung chung nhưng khác nhau về hình thức thể
hiện.” [113, tr.94]. Vì vậy, những bộ phim chuyển thể khác với văn học ở hình
thức thể hiện, nhưng nội dung vẫn mang tinh thần của văn học.

Nội dung tư tưởng
Nhà văn, biên kịch, đạo diễn, diễn viên, quay phim, nhạc sĩ…là những
người nghệ sĩ có cùng sự đa cảm, trí tưởng tượng và sự tinh nhạy điêu luyện của
các giác quan, khí quan thẩm mỹ (thính giác, thị giác…). Cho nên tư duy của
người nghệ sĩ sáng tạo tác phẩm nghệ thuật, khác hẳn với tư duy của nhà nghiên
cứu thuộc lĩnh vực khoa học kỹ thuật. Hình thức của tư duy nghệ thuật, là sự
phản ánh hiện thực theo quy luật của cái đẹp, là một loại mô hình đặc biệt nhằm
tái hiện và tái tạo một cách sinh động hiện thực cuộc sống, với những nhu cầu
và khát vọng của con người.
Tư duy của nhà biên kịch, đạo diễn gần gũi với tư duy của nhà văn nên
khi tiếp cận tác phẩm văn học, các tác giả điện ảnh dễ dàng thẩm thấu tư tưởng
tình cảm của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm. Sự “đồng thanh tương ứng” đã
21


làm nên tiếng nói chung trong xây dựng hình tượng nghệ thuật. Sáng tạo nghệ
thuật là lĩnh vực của cảm xúc, là sự mách bảo của con tim, nên tâm hồn nghệ sĩ
thường gặp nhau qua tác phẩm. Nhà văn khi viết tiểu thuyết hay truyện ngắn
không hề nghĩ “đứa con tinh thần” của mình sẽ có đời sống thứ hai trên màn
ảnh. Nhưng “Thơ ca chân chính bao giờ cũng là thơ ca của trái tim, cũng là
tiếng hát của tâm hồn” (M.Gorki) [34, tập1, tr.52] Các tác giả điện ảnh đã tìm
thấy sự đồng điệu “của trái tim…” qua các tác phẩm văn học và mong muốn
biến lời ca “ tiếng hát của tâm hồn” hiện hữu lên màn ảnh.
Trương Nghệ Mưu, một đạo diễn tài ba của điện ảnh Trung Quốc đã
chuyển thể thành công nhiều bộ phim từ tác phẩm văn học như Cúc Đậu, Đèn
lồng đỏ treo cao, Phải sống ... Trong số đó nổi tiếng nhất là phim Cao lương đỏ,
dựa theo tiểu thuyết nổi tiếng của nhà văn Mạc Ngôn. Đạo diễn đã biến hóa tài
tình những con chữ trừu tượng của Mạc Ngôn thành những hình ảnh sinh động
trong phim Cao lương đỏ. Nói về cảm xúc từ tác phẩm văn học, đạo diễn cho
biết “Những miêu tả của Mạc Ngôn về màu sắc, đó là lọai cảm giác tả ý sâu

thuật là “trường học của cuộc sống”. Đạo diễn Eisenstein với bộ phim kinh điển
Chiến hạm Potemkin lại tin rằng người nghệ sĩ thông qua màn ảnh để “thanh lọc
cuộc đời”. Từ những quan điểm rõ ràng về tư tưởng, người nghệ sĩ xác đinh
hướng đi đúng cho tư tưởng tình cảm và sáng tạo ra những tác phẩm nghệ thuật
có giá trị và trở thành những tác giả nổi tiếng.
Qua những trang viết của mình, nhà văn lớn M.Gorki đã thổi vào văn học
một luồng gió mới, buộc những người cầm quyền đương thời phải thay đổi
những suy nghĩ đã thành nếp về con người về cuộc đời. Bằng trái tim nhân đạo
cách mạng, M.Gorki mô tả cuộc sống bị đàn áp, đói khổ của các tầng lớp dưới
đáy xã hội, đồng thời thấu hiểu ánh sáng lương tâm trong tâm hồn họ. Nhà văn
cho rằng: “Nghệ thuật căn bản là một cuộc đấu tranh hoặc là để tán thành hoặc
là để phản đối, chứ không có và không thể có một nền nghệ thuật bàng quan,
bởi vì con người không phải là một chiếc máy ảnh, con người không ghi chép
hiện thực mà hoặc là xác nhận, hoặc là thay đổi ” [34, tr.17] Nội dung tư tưởng
23


ấy, hiện diện trong hầu hết các tác phẩm của ông. Trong tài sản gần 20 tác phẩm
văn học bao gồm cả tiểu thuyết, truyện ngắn và kịch của M.Gorki đã được
chuyển thể sang điện ảnh, tiêu biểu nhất là bộ phim câm Người mẹ [80, tr.32]
Nội dung tư tưởng trong tác phẩm nghệ thuật rõ ràng có vai trò hết sức
quan trọng đối với toàn bộ cơ cấu của tác phẩm, được quyết định bởi tư tưởng
của tác giả. Tư tưởng tác phẩm có thể sâu sắc hay nông cạn, đúng đắn hay sai
lầm, khẳng định hay phủ định. Tất cả đều phụ thuộc vào sự lĩnh hội nhận thức
thế giới của người nghệ sĩ, liên quan mật thiết với lập trường tư tưởng, thế giới
quan, lý tưởng xã hội thẩm mỹ. Nhà nghiên cứu Biêlinxki nhận định: “Trong
những tác phẩm nghệ thuật chân chính, tư tưởng đâu phải là một khái niệm trừu
tượng được thể hiện một cách giáo điều, mà nó là linh hồn của chúng, nó chan
hòa trong chúng như ánh sáng chan hòa trong pha lê ” [19, tr.123]
Trong tác phẩm nghệ thuật, từ ngôn ngữ đến các phương tiện nghệ thuật

Đề tài là “Khái niệm chỉ loại các hiện tượng đời sống được miêu tả phản
ánh trực tiếp trong sáng tác văn học.” [121, tr.78]. Khái niệm đề tài được dùng
khá linh hoạt ở tầm vĩ mô, đề tài khái quát những lĩnh vực hoạt động rộng lớn
của xã hội như chính trị, tôn giáo, quân sự, kinh tế, văn hóa…Ở những đề tài
hẹp hơn như khoa học, kỹ thuật trong nông nghiệp, công nghiệp…Trong vô vàn
những nhu cầu đa dạng của con người trong xã hội, có những đề tài về tình yêu,
lòng nhân ái, sự tha thứ, lòng tham, sự ích kỷ… Văn học đã trở thành kho tàng
bách khoa toàn thư về muôn mặt của cuộc sống xã hội. Trong cuộc “Đối thoại
giữa Kenzaburo với Mạc ngôn và Trương Nghệ Mưu”, đạo diễn Trương Nghệ
Mưu chia sẻ với các nhà văn: “Các phim của tôi đều chuyển thể từ tiểu
thuyết...Tôi thường xem tiểu thuyết để tìm đề tài... điều khó nhất đối với tôi là
ngồi trước trang giấy trắng hoặc ngồi trước máy vi tính, bắt tôi làm việc từ con
số không. Cho nên tôi rất khâm phục các nhà văn, sao họ có thể viết ra nhiều
câu chuyện đến thế ? ” [133, tr.21]
Từ vô vàn những hiện tượng của cuộc sống, người nghệ sĩ đã lĩnh hội và
chọn lựa theo cảm nhận riêng của mình. Đề tài mang dấu ấn rõ rệt của đời sống
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status