BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN BÍCH THỦY
TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC
ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện
điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh-2012
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
PHAN BÍCH THỦY
TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC
ĐẾN TÁC PHẨM ĐIỆN ẢNH
Khảo sát việc chuyển thể tác phẩm truyện văn học thành phim truyện
điện ảnh trong lịch sử văn học và điện ảnh Việt Nam
Chuyên ngành: VĂN HỌC VIỆT NAM
Mã số: 62 22 34 10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
Thành phố Hồ Chí Minh-2012
1.1.1 NGHỆ THUẬT VÀ HỆ THỐNG CÁC LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT ..... 20
1.1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH ............................... 22
1.2 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NHẤT CÙNG .................. 23
MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI ............................................................................ 23
1.3 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ TƯƠNG ĐỒNG ........................... 26
1.3.1 SỰ TƯƠNG ĐỒNG CỦA HAI LOẠI HÌNH NGHỆ THUẬT VĂN........ 26
HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH .......................................................................................... 26
1.3.2 SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ PHƯƠNG THỨC TỰ SỰ GIỮA THỂ LOẠI
TRUYỆN (VĂN HỌC) VÀ PHIM TRUYỆN (ĐIỆN ẢNH) ............................. 46
1.4 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ KHÁC BIỆT ................................ 61
1.4.1 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG HÌNH THÁI HỌC NGÔN NGỮ ........... 61
1.4.2 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG CHỦ THỂ SÁNG TẠO ......................... 66
1.4.3 KHÁC BIỆT VỀ ĐẶC TRƯNG TÂM LÝ SÁNG TÁC VÀ CẢM THỤ . 68
1.4.4 KHÁC BIỆT VỀ PHƯƠNG THỨC PHƯƠNG TIỆN TẠO RA TÁC ...... 71
PHẨM .................................................................................................................. 71
CHƯƠNG 2: CƠ CHẾ VÀ QUY TRÌNH THỰC HIỆN VIỆC
CHUYỂN THỂ TỪ TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM
TRUYỆN ĐIỆN ẢNH....................................................................76
2.1 CƠ CHẾ SÁNG TẠO PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH............................................... 76
2.1.1 NHÀ VĂN VÀ TÁC PHẨM VĂN HỌC CHUYỂN THỂ ........................ 76
2.1.2 BA NGÀNH CHỨC NĂNG TRONG SÁNG TẠO PHIM TRUYỆN ...... 79
2.2 NHỮNG YẾU TỐ CƠ BẢN TRONG QUÁ TRÌNH CHUYỂN THỂ TÁC PHẨM
VĂN HỌC SANG KỊCH BẢN ĐIỆN ẢNH. ................................................................... 97
2.2.1 XÂY DỰNG HÌNH TƯỢNG NHÂN VẬT ............................................... 97
3.3.4 BẾN KHÔNG CHỒNG ............................................................................ 188
3.3.5 ĐỜI CÁT .................................................................................................. 193
3.3.6. THỜI XA VẮNG .................................................................................... 198
3.3.7 ĐỪNG ĐỐT ............................................................................................. 202
KẾT LUẬN .................................................................................. 208
TÀI LIỆU THAM KHẢO. ......................................................... 214
CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG LUẬN ÁN
ĐANN:
Điện ảnh ngày nay (Tạp chí)
ĐAKT. VN:
Điện ảnh kịch trường Việt Nam (Tạp chí)
ĐATP. HCM:
Điện ảnh thành phố Hồ Chí Minh (Tạp chí)
ĐHSP.TP.HCM: Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
HN:
Thủ đô Hà Nội
LHP:
TP.HCM:
Thành phố Hồ Chí Minh
tr:
Trang
VN:
Việt Nam
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Văn hóa dân tộc là sự chắt lọc tinh túy nhất từ quan niệm sống, giao
tiếp ứng xử của con người trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Văn hóa cũng
là cái hữu hình và cái vô hình trong quan hệ giữa con người với nhau, với
thiên nhiên và ngay trong bản thân con người. Qua văn học nghệ thuật những
nét đẹp của văn hóa truyền thống dân tộc không những được thể hiện sinh
động mà còn được gìn giữ, bảo tồn và thăng hoa trong ý nghĩa nhân văn cao
cả.
Các tác phẩm văn học luôn là sự tìm tòi, khám phá những bí ẩn, những
trăn trở về cuộc đời, về thân phận con người để con người nghiền ngẫm,
chiêm nghiệm. Con người và đời người luôn là vấn đề văn học quan tâm
hàng đầu, “Lịch sử văn học chính là lịch sử tâm hồn nhân loại… nhiệm vụ
chủ yếu và lâu dài của văn học trong việc phản ánh hiện thực vẫn là mô tả số
phận con người, khắc họa tính cách con người” (Lê Thanh Nghị) [99, tr.45].
tế hiện nay.
2.MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
2.1.MỤC ĐÍCH
Trong quá trình hình thành và phát triển, nghệ thuật điện ảnh có nhiều
điểm chung về chức năng đối tượng phản ánh, về mỹ học cơ bản, về văn
hóa… với các ngành nghệ thuật khác. Đặc biệt, có một điểm chung bao trùm
là “Trong nghệ thuật những chuẩn mực Chân – Thiện – Mỹ đã và đang còn
lâu dài là định hướng và nội dung của sáng tạo nghệ thuật ”(Hồ Sĩ Vịnh)
[172, tr.83]. Nội dung đó in dấu ấn đậm nét qua những tác phẩm văn học và
phim truyện chuyển thể điện ảnh. Đề tài nghiên cứu của luận án góp phần
giúp tất cả những ai quan tâm đến vấn đề chuyển thể tác phẩm văn học sang
tác phẩm điện ảnh có thêm sự hiểu biết về mối quan hệ giữa văn học và điện
ảnh, đặc biệt các tác giả - chủ thể sáng tạo phim chuyển thể điện ảnh từ văn
học.
Là một giảng viên văn học trong trường nghệ thuật, tôi luôn khát khao
được chiếm lĩnh một cách đầy đủ, trọn vẹn những kiến thức văn học và điện
ảnh trong quá trình sáng tạo phim truyện chuyển thể từ văn học. Qua đó trau
dồi thêm kiến thức văn học và điện ảnh trong quá trình giảng dạy, để truyền
thụ cho sinh viên, những giá trị đích thực của tác phẩm nghệ thuật, giúp họ có
định hướng đúng về tư tưởng và thẩm mỹ trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật.
2.2.NHIỆM VỤ
Thông qua phim truyện điện ảnh chuyển thể, mối quan hệ giữa nghệ
thuật văn học và điện ảnh ngày càng trở nên gắn bó và giá trị của tác phẩm
văn học một lần nữa được khẳng định và thăng hoa. Đúng như nhà văn Chu
Lai nhận xét: “Văn học và điện ảnh - Cuộc nhân duyên này đã nằm ngay từ
trong bản chất ” [75, tr.23]. Cho nên, việc nghiên cứu những cặp tác phẩm
văn học và điện ảnh nhằm đúc kết lí luận và thực thực tiễn, đưa ra một số
nhiệm vụ sau:
Trong các loại hình nghệ thuật, văn học và điện ảnh có mối quan hệ
đặc biệt ngay từ những ngày đầu điện ảnh mới hình thành. Điều này, thể hiện
rõ qua lịch sử hình thành và phát triển của điện ảnh thế giới và Việt Nam.
3.1. TRÊN THẾ GIỚI
Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khi khoa học kỹ thuật phát triển,
nghệ thuật điện ảnh ra đời. Ban đầu là những trích đoạn văn học, rồi dần dần
toàn bộ tác phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh. Hàng loạt các tác
phẩm văn học được chuyển thể sang điện ảnh ngay từ thời kỳ phim câm. Các
nhà nghiên cứu điện ảnh đều khẳng định: phim truyện là sự kế thừa những
phương cách xây dựng câu chuyện phim từ văn học, muốn có một bộ phim
truyện, đầu tiên phải có kịch bản văn học, trước khi được quay và dựng thành
phim. Trong Lịch sử điện ảnh thế giới, tác giả Iêc-Gi Te-Plix viết: “Điện ảnh
với hình thức phổ biến nhất của nó là phim truyện,…là giai đoạn hiện đại
của sự phát triển nghệ thuật kể chuyện,… là người kế thừa chủ yếu của tiểu
thuyết” [33, tr.9]
Ngay từ năm 1915, M.Gorki nhà văn Nga nổi tiếng (người có gần 20
tác phẩm văn học được dựng thành phim) đã nhận định về sức lôi cuốn của
nghệ thuật điện ảnh và khẳng định: “Không nghi ngờ gì nữa, tương lai nó sẽ
chiếm một địa vị xuất sắc trong đời sống” [80, tr.32]. Năm 1919, V.Lênin đã
ký sắc lệnh quốc hữu hóa ngành điện nhiếp ảnh, là bước ngoặt lịch sử của
điện ảnh Nga. Đây là nền điện ảnh có ảnh hưởng rất lớn đến điện ảnh Việt
Nam sau này, vì hầu hết các nghệ sĩ Việt Nam được đào tạo tại Liên xô cũ.
Kịch bản văn học điện ảnh là biểu hiện cụ thể của tính văn học trong
điện ảnh. Những yếu tố cơ bản của tác phẩm văn học cũng là những yếu tố cơ
bản trong kịch bản văn học điện ảnh như xây dựng bối cảnh, cốt truyện và
đặc biệt là tạo dựng hình tượng nhân vật… Các yếu tố trên được định hình
trên giấy trước khi được chuyển hóa thành câu chuyện trên màn ảnh.
Năm 1930, tuyển tập kịch bản điện ảnh đầu tiên được điện ảnh Liên
tích phê bình phim, Lịch sử phim ảnh…và nhiều công trình nghiên cứu khác.
Trong quá trình hình thành và phát triển, điện ảnh luôn gắn bó với văn
học qua từng thời kỳ: phim câm, phim có tiếng nói, phim có màu và ngày nay
là phim hiện đại 2D, 3D, 4D… Thời kỳ nào cũng có những bộ phim chuyển
thể văn học xuất sắc, để lại những dấu ấn ngoạn mục trong lịch sử điện ảnh
thế giới. Đó là những tác phẩm điện ảnh mẫu mực như Cuốn theo chiều gió,
Ben Hur, Bố già, Titaníc (Mỹ), Bác sĩ Zhivago (Ý), Những người khốn khổ,
Không gia đình (Pháp), Triệu phú khu ổ chuột (Anh), Chiến tranh và hòa
bình, Sông Đông êm đềm (Nga), Thủy hử, Cao lương đỏ (Trung Quốc)…
3.2. Ở VIỆT NAM
Điện ảnh Việt Nam ra đời năm 1953, khi điện ảnh thế giới đã phát triển
ở trình độ khá hoàn chỉnh cả về màu sắc và âm thanh. Gần 60 năm qua,
những bộ phim truyện chuyển thể thành công của điện ảnh Việt Nam đã được
đánh giá cao trong nước và quốc tế như Chị Tư Hậu, Con chim vành khuyên,
Thời xa vắng, Tướng về hưu, Đời cát, Đừng đốt…Điện ảnh kế thừa các
phương pháp xây dựng kịch bản phim truyện từ văn học, trong đó quan trọng
nhất là phương pháp tự sự, khi kể lại câu chuyện văn học lên màn ảnh. Cho
nên, “Trong lúc tuân theo các yêu cầu thể hiện có tính đặc thù của ngôn ngữ
điện ảnh. Kịch bản văn học điện ảnh vẫn không để mất những tiêu chuẩn của
một tác phẩm văn học hoàn chỉnh”(Trần Luân Kim)[102, tr.3]. Và“…những
tiêu chuẩn của một tác phẩm văn học hoàn chỉnh” trong kịch bản văn học
điện ảnh đã làm nên mối quan hệ gần gũi giữa văn học và điện ảnh trong sáng
tác phim truyện.
Những công trình khoa học của các nhà nghiên cứu văn học trong nước
như Lý luận văn học của Hà Minh Đức cung cấp cho đề tài những kiến thức lí
luận về: “Nghệ thuật – Một hình thái ý thức xã hội đặc thù”, “Nghệ thuật và
đời sống xã hội ”…Công trình Văn học…xa và gần của Hoàng Ngọc Hiến
phân tích những: “Quan điểm tiếp cận văn học và quan điểm tiếp cận thực tế
Lê Dân cung cấp một số vấn đề lý luận như“Bản sắc văn hóa dân tộc trong
tác phẩm điện ảnh”,“Thể hiện truyền thống nhân nghĩa trong phim
truyện”… Công trình Nghệ thuật làm phim, diễn viên & kịch bản của Lê Dân
đã cung cấp những kiến thức về quy trình làm phim, kịch bản và diễn viên.
Trong Hồi ký điện ảnh, Đặng Nhật Minh phân tích công việc của biên kịch và
đạo diễn điện ảnh và những kinh nghiệm trong quá trình làm phim. Các công
trình khác như Đặc trưng ngôn ngữ điện ảnh của Bùi Phú, Lịch sử điện ảnh
cách mạng Việt Nam (sơ khảo) do Cục điện ảnh xuất bản, Tính hiện đại và
tính dân tộc trong điện ảnh của Ngô Phương Lan, Nghệ thuật quay phim điện
ảnh của Dương Quang Viễn, Dạo chơi vườn điện ảnh và Ý tưởng nghề
nghiệp của Việt Linh, Làm sao viết kịch bản phim của Phạm Thùy Nhân…
Năm 2011, trong Nhận thức điện ảnh, Trần Luân Kim đúc kết nhiều lý
luận sâu sắc về điện ảnh và mối quan hệ đặc biệt của điện ảnh với văn học.
Nhà nghiên cứu khẳng định: “Tính văn học trong điện ảnh chiếm vị trí mấu
chốt vì nó quyết định nội dung tác phẩm, đồng thời cũng quyết định hình thức
thể hiện thông qua việc xác lập thể loại và xây dựng hình tượng nhân vật.”
[55, tr.23]
Tác phẩm văn học đã trở thành nguồn nguyên liệu quý giá, phong phú,
là cơ sở vững chắc cần thiết trong xây dựng những kịch bản văn học cho
phim truyện. Chu Lai, một nhà văn có nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết đã được
đưa lên màn ảnh, nhận xét: “Một tác phẩm điện ảnh hay bao giờ cũng có một
giá trị văn học…Văn học là cái nền, điện ảnh bay lên từ cái nền vững chắc
đó”[75, tr.8].
Vấn đề này đã được nhiều nhà văn, đạo diễn và giới chuyên môn đã
trao đổi qua các cuộc hội thảo, bài viết tâm huyết như Nguyễn Mai Loan với
bài: Phim chuyển thể - Những khái niệm [79].Lê Cẩm Lượng với bài: Cải
biên tác phẩm văn học sang kịch bản điện ảnh [78]. Huyền Thanh với bài:
Tác phẩm chuyển thể: những mặt mạnh và yếu [151]…
Ngọc…
Nhận xét về sự cần thiết của tính văn học trong kịch bản văn học và
phim truyện, nhà văn Nguyễn Khắc Phục đã viết: “Nói đến kịch bản là dính
đến văn xuôi. Nền điện ảnh không thể hùng mạnh được khi văn xuôi kém.
Chính nền văn xuôi sẽ cung cấp cho điện ảnh từ hình ảnh, ngôn ngữ, tạo
dựng tâm lí, tính cách nhân vật, thúc đẩy hành động, tình huống trong phim
ảnh. Kịch bản hay thì phim làm sẽ hay, sẽ có giá trị”. [159, tr.27].
Những công trình bài viết, nhận định trên, đã gợi ý giúp người viết
thực hiện hành trình đi từ nhận xét khái quát đến khảo sát chi tiết cụ thể, đầy
đủ và có hệ thống. Từ đó thấy rõ vai trò và sự gắn kết của hai loại hình nghệ
thuật văn học và điện ảnh trong quá trình sản xuất bộ phim truyện chuyển thể
thành công.
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
4.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Luận án nghiên cứu khảo sát từ văn bản văn học (thể truyện) đến kịch
bản văn học điện ảnh và phim truyện điện ảnh chuyển thể. Đối tượng chính là
- Các tác phẩm văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn, truyện vừa.
- Kịch bản và phim truyện điện ảnh chuyển thể từ tác phẩm văn học.
4.2 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Ngoài các tài liệu về lí luận, luận án chủ yếu nghiên cứu những tác
phẩm văn học và phim truyện Việt Nam qua các thời kỳ hình thành và phát
triển của văn học và điện ảnh Việt Nam. Sau đây là một số cặp tác phẩm văn
học và phim truyện chuyển thể tiểu biểu:
Thời kỳ kháng chiến chống Pháp
Truyện dài Một chuyện chép ở bệnh viện và phim Chị Tư Hậu.
Truyện ngắn Câu chuyện một bài ca và phim Con chim vành khuyên.
Thời kỳ trong và sau kháng chiến chống Mỹ
Tiểu thuyết Thời xa vắng và phim cùng tên. Tiểu thuyết Bến không
luận vấn đề.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Phần nghiên cứu quá trình sáng tạo phim truyện từ tác phẩm văn học
chủ yếu kế thừa những kết quả nghiên cứu đã có trước đây. Tuy nhiên, luận
án đã cố gắng tìm hiểu thêm một số vấn đề mới chưa được các nhà nghiên
cứu đề cập hoặc có đề cập, nhưng chưa đi sâu. Có thể tổng hợp một số đóng
góp mới sau:
- Góp phần thấy rõ bản chất mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh.
- Đặc trưng của việc xây dựng hình tượng nhân vật, cốt truyện, hoàn
cảnh lịch sử, bối cảnh xã hội và thiên nhiên từ văn học đến điện ảnh.
- Bước đầu hệ thống những thuận lợi và khó khăn trong quá trình
chuyển thể tác phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Phần thứ nhất : MỞ ĐẦU (12 trang)
Gồm: Mục đích ý nghĩa, Đối tượng và phạm vi nghiên cứu, Lịch sử
vấn đề, Phương pháp nghiên cứu, Đóng góp mới của luận án, Cấu trúc của
luận án.
Phần thứ hai : NỘI DUNG (189 trang) gồm 3 chương:
Chương 1. Cơ sở lý luận của việc chuyển thể tác phẩm văn học sang
phim truyện điện ảnh (55 trang)
Chương 2. Cơ chế và quy trình thực hiện việc chuyển thể từ tác
phẩm văn học sang phim truyện điện ảnh.(68 trang)
Chương 3. Một số thành tựu của phim truyện chuyển thể từ tác
phẩm văn học (66 trang)
Phần thứ ba : KẾT LUẬN (5 trang)
Danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC CHUYỂN THỂ
TÁC PHẨM VĂN HỌC SANG PHIM TRUYỆN ĐIỆN ẢNH
miêu tả ; nghệ thuật một chức năng/ hai chức năng” [14, tr.367]
Trong Giáo trình mỹ học, nhà mỹ học hiện đại M.F Ôpxiannhicôp đã
đưa ra một bảng danh mục gồm 13 loại hình nghệ thuật: “Văn học nghệ thuật,
kiến trúc, nghệ thuật trang trí, điêu khắc, hội họa, đồ họa, âm nhạc, nghệ
thuật nhảy múa, sân khấu, nghệ thuật nhiếp ảnh, điện ảnh, vô tuyến truyền
hình, nghệ thuật tạp kỹ và xiếc.” [112, tr.383].
Tiếp thu những ý kiến phân loại nghệ thuật của các nhà nghiên cứu
trong quá khứ, trong cuốn Nguyên lý mỹ học Mác Lênin tác giả người Nga
Lukin đã nhận định: “Loại hình nghệ thuật là một lĩnh vực hoạt động nghệ
thuật đặc biệt của con người, được phân biệt dựa theo đối tượng của sự phản
ánh, dựa theo tính chất và kiểu loại hình tượng, theo phương thức thỏa mãn
nhu cầu thẩm mỹ của con người, theo chất liệu và theo các quy luật xây dựng
hình tượng nghệ thuật đặc trưng của mình.” [113, tr.96].
Kế thừa tư tưởng phân loại của các nhà mỹ học đi trước, trong chuyên
đề Văn học và các loại hình nghệ thuật, nhà nghiên cứu Lâm Vinh đã xây
dựng 5 bộ tiêu chí và bảng danh mục hai hệ thống nghệ thuật thuần túy ( 7
loại hình) và nghệ thuật ứng dụng (14 loại hình) [168, tr.1,2]. Trong đó có
văn học thuần túy và điện ảnh thuần túy để phân biệt với văn học ứng dụng
và điện ảnh ứng dụng. Văn học là nghệ thuật đơn vì sử dụng một hình thức
ngôn ngữ là ngôn từ, điện ảnh là nghệ thuật tổng hợp vì sử dụng một số hình
thức ngôn ngữ của các loại hình nghệ thuật như văn học, nhiếp ảnh, hội họa,
âm nhạc và diễn xuất của diễn viên để sản xuất phim truyện.
Tác phẩm điện ảnh được bắt đầu từ kịch bản văn học điện ảnh, là yếu
tố đầu tiên đảm bảo chất lượng của bộ phim tương lai. Trong quá trình sản
xuất phim truyện, giai đoạn sáng tác kịch bản văn học điện ảnh là giai đoạn
thể hiện tập trung nhất mối quan hệ mật thiết giữa hai nghệ thuật văn học và
điện ảnh.
1.1.2 MỐI QUAN HỆ GIỮA VĂN HỌC VÀ ĐIỆN ẢNH
trong tiểu thuyết Bão biển của nhà văn Chu Văn và phim Ngày lễ thánh của
nữ đạo diễn Bạch Diệp…
Trong công trình Cơ sở lý luận văn học Lê Bá Hán nhận xét: “Nhắc
đến tên một bộ tiểu thuyết, một truyện vừa, một truyện ngắn hoặc một kịch
bản văn học quen biết, chúng ta liền nghĩ đến câu chuyện và những con
người được thể hiện trong đó…” [40, tập 1, tr.74]. Từ tác phẩm văn học đến
phim truyện chuyển thể đều mang lại cho người thưởng thức một nội dung
trong cùng hoàn cảnh, cùng hình tượng nhân vật. Quan hệ của văn học và
điện ảnh được thể hiện ở cả dạng động và tĩnh. Những yếu tố cơ bản trong
xây dựng tác phẩm ở văn học và kịch bản văn học là quan hệ tĩnh với những
điểm giống và khác nhau được thể hiện qua chữ viết (trong kịch bản, tác giả
chỉ sử dụng những câu chữ có thể hình dung được). Quá trình chuyển từ kịch
bản thành phim truyện là quan hệ động (có sự hợp tác liên kết trong quá trình
sáng tạo như bối cảnh, máy quay, ánh sáng, phục trang, âm thanh…và đặc
biệt sự hiện diện của diễn viên theo chỉ đạo của đạo diễn, để đưa nội dung
văn học từ chữ viết lên màn ảnh).
Như vậy, mối quan hệ giữa văn học và điện ảnh được thể hiện qua ba
cấp độ: tính đồng nhất (về đặc trưng phản ánh - hình tượng), tính tương đồng
(về nội dung tư tưởng, đối tượng phản ánh) và tính khác biệt (về chất liệu,
ngôn ngữ - phương tiện phản ánh).
1.2 VĂN HỌC – ĐIỆN ẢNH VÀ MỐI QUAN HỆ ĐỒNG NHẤT CÙNG
MỘT HÌNH THÁI Ý THỨC XÃ HỘI
Chủ nghĩa duy vật lịch sử là hệ thống quan điểm triết học và xã hội, chỉ
ra mối quan hệ giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội, hạ tầng cơ sở và thượng
tầng kiến trúc. Tồn tại xã hội là đời sống vật chất, đóng vai trò quyết định đối
với đời sống tinh thần. Hạ tầng cơ sở là quan hệ sản xuất, thượng tầng kiến
trúc là toàn bộ quan điểm chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, tôn giáo,
nghệ thuật…Tất cả cùng phụ thuộc vào hạ tầng cơ sở do hạ tầng cơ sở quyết
tưởng lớn lao, mới mẻ của nhân loại, mà còn mở rộng tầm hiểu biết, giao lưu
tới những vùng văn hóa và những dân tộc khác trên thế giới. Đó là mục đích
nhân văn cao cả mà nghệ thuật cần hướng tới, như nhà văn Nam Cao từng
trăn trở: “Một tác phẩm thật giá trị, phải vượt lên trên tất cả các bờ cõi và
giới hạn, phải là một tác phẩm chung cho loài người. Nó phải chứa đựng một
cái gì lớn lao, mạnh mẽ, vừa đau đớn lại vừa phấn khởi. Nó ca tụng lòng
thương, tình bác ái, sự công bình… Nó làm cho người gần người hơn.” [187,
tập1, tr.614].
“Văn học là nhân học”(M.Gorki), là câu chuyện về cuộc đời, về cõi
nhân sinh. Cùng hình thái ý thức nghệ thuật với văn học, ngay từ khi mới ra
đời, điện ảnh đã sử dụng nguồn tư liệu quý giá từ những tác phẩm văn học
trong kho tàng văn học của nhân loại, để làm nên những bộ phim truyện kinh
điển và bằng cách đó góp phần phát triển nghệ thuật điện ảnh. Khi nhận xét
về sự đồng nhất của các loại hình nghệ thuật, các nhà mỹ học dân chủ Nga đã
khẳng định: “Mọi loại hình nghệ thuật đều phản ánh cuộc sống, đều biểu
hiện các tư tưởng tình cảm của con người, nên đều có nội dung chung nhưng
khác nhau về hình thức thể hiện.” [113, tr.94]. Vì vậy, những bộ phim chuyển
thể khác với văn học ở hình thức thể hiện, nhưng nội dung vẫn mang tinh
thần của văn học.
Ở phương Tây, nước Pháp - nơi khai sinh ra nghệ thuật điện ảnh, rất
nhiều tác phẩm văn học nổi tiếng được dàn dựng thành những bộ phim truyện
điện ảnh lừng danh. Tiêu biểu là hai cuốn tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari,
Những người khốn khổ của nhà văn vĩ đại Victo Huygô. Ông được các nhà
nghiên cứu đánh giá là “Nhà tiên tri của hòa bình trên toàn thế giới.” [170,
tr.497].
Điện ảnh Nga đặc biệt gần gũi với điện ảnh Việt Nam với những tác
phẩm văn học và điện ảnh Nga có giá trị nhân văn sâu sắc như Tội ác và hình
phạt, Sông đông êm đềm, Số phận con người, Thép đã tôi thế đấy, Người