i
LỜI CẢM ƠN
Luận văn là kết quả của quá trình học tập, nghiên cứu và kết hợp với kinh
nghiệm trong quá trình công tác và sự nỗ lực cố gắng của bản thân.
Đạt được kết quả này, em xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô
giáo trong Hội đồng khoa học trường Đại học Thương Mại đã tạo điều kiện giúp đỡ
em hoàn thành Luận văn. Đặc biệt là TS Nguyễn Thu Thủy là người trực tiếp hướng
dẫn khoa học và giúp đỡ em trong suốt quá trình nghiên cứu.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Lê Văn Tiến
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập của tôi.
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Văn Tiến
iii
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT.......................................................vi
Bảng 2.1: Tổng hợp huy động vốn của NHTMCP CT Sầm Sơn..............................38
Bảng 2.7: Dư nợ phân theo ngành kinh tế của NHTMCP CT Sầm Sơn.............Error:
Reference source not found
Bảng 2.8: Cơ cấu dư nợ cho vay theo kỳ hạn của NHTMCP CT Sầm Sơn........Error:
Reference source not found
Bảng 2.9: Dư nợ bảo lãnh tại NHTMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Sầm
Sơn từ năm 2012 – 2014.........................................Error: Reference source not found
Bảng 2.10: Kết quả phân loại nợ của Ngân hàng TMCP Công thương Sầm Sơn
2012-2014................................................................Error: Reference source not found
Bảng 2.11: Dư nợ quá hạn của ngân hàng công thương Sầm Sơn.....Error: Reference
source not found
Bảng 2.12: Nợ xấu của Ngân hàng TMCP CT Việt Nam – Chi nhánh Sầm Sơn.
Error: Reference source not found
v
Bảng 2.13: Thang xếp hạng của Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ của các khách
hàng và kết quả chấm điểm, xếp hạng năm 2014...Error: Reference source not found
Bảng 2.14: Kết quả trích dự phòng RRTD và xử lý RRTD từ quỹ dự phòng....Error:
Reference source not found
Bảng 2.15: Tình hình nợ ngoại bảng và thu nợ ngoại bảng tại Vietinbank – Sầm Sơn
từ năm 2012 – 2014................................................ Error: Reference source not found
vi
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
DNNN
DPRR
Ngân hàng TMCP
thương
1
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động tín dụng là một trong những hoạt động cơ bản, tạo ra lợi nhuận chủ
yếu cho các ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Nhưng mặt khác, đây cũng
là lĩnh vực chứa đựng rủi ro cao nhất không chỉ cho bản thân Ngân hàng mà cho cả
nền kinh tế. Rủi ro tín dụng ở mức độ cao phản ánh năng lực hoạt động kinh doanh
của NHTM yếu kém, làm giảm uy tín của ngân hàng trên thị trường tiền tệ trong
nước và quốc tế, hạn chế năng lực cạnh tranh. RRTD xảy ra làm cho NHTM không
thu hồi được vốn “gốc và lãi vay” theo kế hoạch đã đặt ra, là nguyên nhân dẫn đến
rủi ro thanh khoản. RRTD làm chậm tốc độ quay vòng vốn, mất đi cơ hội kinh
doanh và chi phí tăng cao ngoài dự kiến, thậm chí thua lỗ; ngân hàng bị mất vốn,
phải giãn nợ, khoanh nợ, thậm chí phải xóa nợ vay, làm giảm thu nhập của ngân
hàng. RRTD gây thất thoát vốn, có thể đẩy các NHTM vào tình trạng mất khả năng
thanh toán, dẫn tới phá sản. Việc phá sản một ngân hàng có thể dẫn đến phản ứng
dây chuyền, gây nên phá sản các ngân hàng khác và có thể dẫn đến làm suy sụp
toàn bộ nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn chứa đựng nhiều rủi ro. Nếu công tác quản
trị rủi ro tốt sẽ tạo điều kiện nâng cao chất lượng hoạt động tín dụng và nâng cao vị
thế cạnh tranh của ngân hàng. Đặc biệt trong thời gian gần đây cuộc khủng hoảng
tài chính trên toàn cầu đẩy một số ngân hàng lớn trên thế giới rơi vào tình trạng phá
sản và đã sụp đổ do cho vay quá lớn vào thị trường bất động sản, chứng khoán.
Ở Việt Nam tình hình suy thoái kinh tế đã ảnh hưởng lớn đến tình hình sản
xuất kinh doanh của nhiều doanh nghiệp và cá nhân, rất nhiều doanh nghiệp đã bị
phá sản, còn nhiều doanh nghiệp đang trong tình trạng cầm cự. Chính vì vậy, trong
giai đoạn hiện nay hoạt động của các ngân hàng hết sức khó khăn, đòi hỏi phải nâng
tại hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam, từ đó đưa ra những hiệu quả đạt được
và hạn chế của công tác này đối với các ngân hàng Việt Nam trong bối cảnh hiện
nay. Qua đó, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của công tác quản trị rủi
ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Đề tài : “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông
thôn tỉnh Bình Định”, (2012) luận văn thạc sĩ kinh tế của Mai Xuân Thịnh, Đại học
Đà Nẵng. Luận văn đã nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề cơ bản về hoạt động
3
kinh doanh của NHTM , cơ sở lý luận về quản trị rủi ro tín dụng. Qua đó, tác giả đã
phân tích hoạt động kinh doanh và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Agribank CN
Bình Định.
- Đề tài : “Quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP quốc tế Việt Nam
(VIB) - thực trạng và giải pháp”, (2013) Luận văn thạc sỹ quản trị kinh doanh của
Nguyễn Lan Khanh, Trường Đại học Ngoại thương ( 2013). Luận văn đã nghiên
cứu cơ sở lý luận về tín dụng, rủi ro tín dụng và quản trị rủi ro tín dụng, tìm hiểu
thực trạng hoạt động quản trị rủi ro tín dụng và đề xuất những giải pháp nhằm tăng
cường công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Ngân hàng TMCP Quốc tế Việt Nam.
Những công trình này, các tác giả tiếp cận hiệu quả hoạt động huy động vốn
từ nhiều góc độ khác nhau. Bộ giải pháp mà các tác giả đưa ra cơ bản nhằm nâng cao
công tác quản trị rủi ro tín dụng tại ngân hàng nghiên cứu. Tuy nhiên, mỗi nghiên cứu
chỉ tập trung đưa ra các giải pháp khắc phúc những tồn tại hiện có trong ngân hàng
mà chưa quan tâm đến điều kiện áp dụng những giải pháp ấy vào thực tế của ngân
hàng.
Trong điều kiện kinh tế thị trường vận động liên tục, luôn luôn đổi mới và
phát triển hơn nên mỗi công trình nghiên cứu lại có giá trị tại một thời điểm nhất
định. Hơn thế, do đặc điểm của mỗi ngân hàng rất khác nhau và hiện nay tại Ngân
TMCP Công thương Việt Nam – Chi nhánh Sầm Sơn chưa có công trình nào nghiên
thời gian từ năm 2012 – 2014 và các giải pháp đề xuất đến năm 2020.
5. Phương pháp nghiên cứu:
Đề phù hợp với nội dung yêu cầu, mục đích của đề tài đề ra, phương pháp
được thực hiện trong quá trình nghiên cứu gồm phương pháp :
- Phương pháp thập số liệu.
Để tìm hiểu số lượng về quy mô và lĩnh vực hoạt động, báo cáo kết quả kinh
doanh, tác giả đã tiến hành thu thập các giữu liệu thứ cấp từ:
+ Các báo cáo tài chính có liên quan của Ngân hàng TMCP Công Thương
Việt Nam – Chi nhánh Sầm Sơn năm 2012 – 2014.
+ Các tài liệu nội bộ của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi
nhánh Sầm Sơn năm 2012 – 2014.
+ Các thông tin liên quan đến đề tài ở các báo, tạp chí, các trang Web Ngân
hàng TMCP Công Thương Việt Nam – Chi nhánh Sầm Sơn năm 2012 – 2014.
5
Tuỳ theo nguồn dữ liệu tôi đã tiến hành thu thập trực tiếp hoặc gián tiếp bằng
các phương pháp ghi chép, sao chụp, truy cập vào các Webside…
Sau khi thu thập dữ liệu, tiến hành các bước xử lý dữ liệu như: hiệu chỉnh,
chú thích, phân loại, sắp xếp, lập bảng dữ liệu…
- Phương pháp xử lý, tổng hợp số liệu.
Được sử dụng thống kê và so sánh, phân tích, tổng hợp, dữ liệu thu thập được
nhằm tổng hợp khái quát hoá các số liệu, giúp cho việc phân tích và đánh giá được
tổng quát hơn.
Đây là phương pháp được sử dụng khá phổ biến trong phân tích nói chung, phương
pháp so sánh được sử dụng trong nghiên cứu để phân tích mức độ và xu hướng tăng
trưởng của khối lượng, quy mô đồng thời so sánh các chỉ tiêu đánh giá nhằm tổng hợp
kết quả nghiên cứu một cách tổng quát nhất
6. Kết cấu luận văn
1.1.1.2. Hoạt động tín dụng của Ngân hàng Thương mại
a. Khái niệm:
Tín dụng (credit) xuất phát từ chữ la tinh là credo (tin tưởng và tín nhiệm).
Tín dụng có nhiều loại như tín dụng nhà nước, tín dụng doanh nghiệp, tín dụng
cá nhân và tín dung ngân hàng. Trong đó tín dụng ngân hàng là việc ngân hàng
thỏa thuận để Khách hàng sử dụng một tài sản (tiền, tài sản hay uy tín) với
nguyên tắc có hoàn trả bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài
chính, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ khác…
Hoạt động tín dụng là hoạt động cơ bản của các Ngân hàng Thương mại.
Dư nợ tín dụng thường chiếm trên 50% tổng tài sản, thu nhập từ tín dụng
thường chiếm từ 60% - 70% tổng thu nhập của Ngân hàng Thương mại. Bên
7
cạnh việc mang lại thu nhập chính cho ngân hàng thì rủi ro trong kinh doanh
ngân hàng cũng có xu hướng tập trung vào hoạt động này. Chính vì vậy mà hoạt
động tín dụng luôn là mối quan tâm lớn nhất của các Ngân hàng Thương mại .
b. Phân loại tín dụng.
Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản cho vay theo từng nhóm dựa
trên một số tiêu thức nhất định. Việc phân loại này có ý nghĩa là tiền đề để thiết
lập các quy trình tín dụng thích hợp và nâng cao hiệu quả quản trị rủi ro tín dụng.
Sau đây là một số loại hình tín dụng mà Ngân hàng Thương mại thực hiện:
* Căn cứ vào mục đích tín dụng:
Căn cứ vào mục đích cho vay, hoạt động tín dụng có thể chia thành:
- Tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh :
Tín dụng công nghiệp sản xuất và thương mại là loại hình cho vay đối với
các doanh nghiệp trong lĩnh vực công nghiệp, thương mại và dịch vụ.
Tín dụng phục vụ nông nghiệp: Vay để trang trải các chi phí sản xuất trong
lĩnh vực nông nghiệp.
* Căn cứ tính chất đảm bảo của khả năng của khoản tín dụng:
- Tín dụng đảm bảo bằng tài sản: các khoản vốn tín dụng phát ra đều có hàng
hóa, vật tư tài sản tương đương đảm bảo
- Tín dụng không có tài sản đảm bảo: các khoản tín dụng phát ra không cần
có hàng hóa, vật tư, tài sản đảm bảo mà chỉ dựa vào uy tín, sự tín nhiệm đối với các
tổ chức, cá nhân để cấp vốn tín dụng.
* Căn cứ vào xuất xứ TD:
– Tín dụng trực tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay cũng là
người trực tiếp trả nợ.
– Tín dụng gián tiếp: là hình thức tín dụng mà trong đó người đi vay và người
trả nợ là hai đối tượng khác nhau
1.1.2. Rủi ro tín dụng của Ngân hàng thương mại.
1.1.2.1. Khái niệm rủi ro tín dụng
Rủi ro là sự không chắc chắn liên quan đến tổn thất sẽ gánh chịu trong
tương lai. Rủi ro là những biến cố không mong đợi khi xảy ra dẫn đến sự tổn
thất về tài sản của ngân hàng, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến hoặc
9
phải bỏ ra thêm một khoản chi phí để có thể hoàn thành được một nghiệp vụ tài
chính nhất định.
Do đặc điểm về đối tượng kinh doanh, về tính hệ thống nên kinh doanh Ngân
hàng rủi ro cao hơn gấp bội phần so với các lĩnh vực kinh doanh khác. Trong hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng có nhiều loại rủi ro. Tuy nhiên rủi ro tín dụng là
loại rủi ro cơ bản nhất.:
Rủi ro tín dụng, theo khái niệm cơ bản nhất, là khả năng khách hàng nhận
khoản vốn vay không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đối với
ngân hàng, gây tổn thất cho ngân hàng, đó là khả năng khách hàng không trả,
không trả đầy đủ, đúng hạn cả gốc và lãi cho ngân hàng.
dụng xuất phát từ môi trường kinh doanh là rủi ro do nguyên nhân khách quan.
Rủi ro xuất phát từ người vay và ngân hàng cho vay là rủi ro do nguyên nhân
chủ quan.
a. Nguyên nhân khách quan
* Môi trường kinh tế
Sự biến động của thị trường trong nước và thị trường thế giới:
Nền kinh tế VN vẫn còn lệ thuộc quá nhiều vào nhiều ngành nghề như ngành
thủy sản, sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp (nuôi trồng,
chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia công,… vốn rất nhạy cảm với
rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị trường thế giới biến
động xấu.
Trong một số năm gần đây đã gặp không ít khó khăn, làm ảnh hưởng trực tiếp
đến hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp nói riêng và của các ngân hàng cho
vay nói chung. Ngành thủy sản cũng gặp nhiều lao đao vì các vụ kiện bán phá giá
vừa qua.
Không chỉ xuất khẩu, các mặt hàng nhập khẩu cũng dễ bị tổn thương không
kém. Mặt hàng sắt thép cũng bị ảnh hưởng lớn của giá thép thế giới. Việc tăng giá
phôi thép làm cho một số doanh nghiệp sản xuất thép trong nước phải ngưng sản
xuất do chi phí giá thành rất cao trong khi không tiêu thụ được sản phẩm.
* Môi trường pháp lý
Việc thực thi luật pháp yếu kém, thiếu tính nghiêm minh như: bản án đã có
hiệu lực nhưng cơ quan thực thi hành án lại chậm thực thi quyết định thi hành án.
11
Nếu hết thời hạn quy định trên, người phải thi hành án có điều kiện thi hành án mà
không tự nguyện thi hành án thì bị cưỡng chế. Tuy nhiên thực tế cơ quan thi hành
án không tuân thủ đầy đủ về thời gian, nhiều vụ án đã hết thời hạn tự nguyện thi
hành đã lâu thậm chí đến 2 năm nhưng cơ quan thi hành án không cưỡng chế mặc
doanh nghiệp cung cấp cho Ngân hàng nhiều khi chỉ mang tính chất hình thức
không phản ánh thực chất. Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, các báo
cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp, thường thiếu tính trung thực. Đây
cũng là nguyên nhân vì sao ngân hàng vẫn luôn xem nặng phần tài sản thế chấp
như là chỗ dựa cuối cùng để phòng chống rủi ro tín dụng.
• Nguyên nhân từ phía ngân hàng thương mại
- Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên Ngân hàng:
Chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên ngân hàng là yêu cầu hàng đầu đối với
mỗi ngân hàng, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng hoạt động và khả năng tạo
lợi nhuận của ngân hàng. Trình độ năng lực của cán bộ yếu kém sẽ dẫn đến RRTD
cao do không đánh giá được hiệu quả của phương án, dự án, không đánh giá được
khả năng phát mại tài sản…
Đạo đức của cán bộ là một trong các yếu tố tối quan trọng để giải quyết vấn đề
hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ kém về năng lực có thể bồi dưỡng thêm, nhưng
một cán bộ tha hóa về đạo đức mà lại giỏi về mặt nghiệp vụ thì thật vô cùng nguy
hiểm khi được bố trí trong công tác tín dụng.
Một số vụ án kinh tế lớn trong thời gian vừa qua có liên quan đến cán bộ
NHTM đều có sự tiếp tay của một số cán bộ ngân hàng cùng với khách hàng làm
giả hồ sơ vay, hay nâng giá tài sản thế chấp, cầm cố lên quá cao so với thực tế để rút
tiền ngân hàng.
- Quy trình tín dụng:
Đây là những những bước, công việc cần phải thực hiện theo một thủ tục nhất
định trong việc cho vay, thu nợ, bắt đầu từ việc xét đơn xin vay của khách hàng đến
khi thu nợ nhằm đảm bảo an toàn vốn tín dụng. Chất lượng tín dụng tuỳ thuộc vào
việc lập ra một quy trình tín dụng đảm bảo tính logic khoa học và việc thực hiện tốt
các bước trong quy trình tín dụng cũng như sự phối hợp chặt chẽ nhịp nhàng giữa
các bước. Quy trình tín dụng gồm 3 giai đoạn chính:
13
14
2. Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu:
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ càng cao thì chất lượng tín dụng càng kém và
ngược lại. Nếu tỷ lệ nợ xấu nhỏ hơn 5% thì chấp nhận được và tỷ lệ này càng
nhỏ càng tốt.
Theo Thông tư 02 thì Tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tự
thực hiện phân loại nợ, cam kết ngoại bảng theo quy định tại Điều 10, Điều 11
Thông tư này và phải sử dụng kết quả phân loại nhóm nợ đối với khách hàng do
CIC cung cấp tại thời điểm phân loại để điều chỉnh kết quả tự phân loại nợ, cam kết
ngoại bảng. Trường hợp nợ và cam kết ngoại bảng của khách hàng được phân loại
vào nhóm nợ có mức độ rủi ro thấp hơn nhóm nợ theo danh sách do CIC cung cấp,
tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài phải điều chỉnh kết quả phân loại
nợ, cam kết ngoại bảng theo nhóm nợ được CIC cung cấp. Dư nợ trong các tổ chức
tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thực hiện phân loại nợ ( trừ các
khoản trả thay theo cam kết ngoại bảng ) được chia làm 5 nhóm:
a) Nhóm 1 (Nợ đủ tiêu chuẩn).
b) Nhóm 2 (Nợ cần chú ý).
c) Nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn).
(d) Nhóm 4 (Nợ nghi ngờ).
(đ) Nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn).
Theo cách phân loại này, nợ các nhóm 3, 4 và 5 được coi là nợ xấu.
Công thức tính tỷ lệ nợ xấu:
Tỷ lệ nợ xấu
=
Tổng dư nợ nhóm 3,4 và 5
Tổng dư nợ
tín dụng của ngân hàng không tốt và rủi ro mà ngân hàng có thể gặp phải càng
cao. Công thức:
Tỷ lệ DPRR đã trích lập
= Dự phòng RR đã trích lập
Tổng dư nợ
x
100%
Tỷ lệ bù đắp rủi ro
- Khách hàng vay là tổ chức, doanh nghiệp bị giải thể, phá sản theo quy
định của pháp luật, cá nhân bị chết hoặc mất tích.
Công thức tính:
= Dự phòng RR đã bù đắp
Tổng dư nợ
1.1.2.4 Tác động của rủi ro tín dụng
Tỷ lệ bù đắp rủi ro
x
100%
Khi rủi ro tín dụng xảy ra sẽ làm ảnh hưởng xấu đến rất nhiều chủ thể. Đầu tiên là
bản thân các ngân hàng và khách hàng đi vay, sau đó là tác động đến cả nền kinh tế.
- Đối với NHTM :
Rủi ro tín dụng là vấn đề quan tâm hàng đầu trong hoạt động của các NHTM, tín
dụng là nghiệp vụ đem lại thu nhập chủ yếu cho các NHTM cho nên tác động của
rủi ro tín dụng ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả hoạt động của các NHTM.
khi rủi ro tín dụng buộc các NHTM hoặc thắt cho vay hay thậm chí phải thu hẹp
quy mô hoạt động.
Các chủ thể gửi tiền vào ngân hàng có nguy cơ không thu hồi được khoản tiền
gửi và lãi nếu như các ngân hàng lâm vào tình trạng phá sản.
- Đối với nền kinh tế:
Hoạt động của NHTM mạng tính xã hội hóa cao vì nó liên quan đến nhiều
ngành nghề và nhiều thành phần khác nhau trong nền kinh tế. Do vậy khi một ngân
hàng bị phá sản nó sẽ gây ảnh hưởng đến các bộ phận còn lại trong xã hội, trước
17
tiên là các ngân hàng khác, bởi có quan hệ mật thiết với nhau trong hoạt động nên
một ngân hàng sụp đỗ có thể dẫn đến sự sụp đổ của các ngân hàng còn lại. Ngoài ra
việc sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị gián đoạn do thiếu vốn, người gửi
tiền không lấy lại tiền được. Những hậu quả này còn giảm lòng tin của công chúng
vào sự vững chắc và lành mạnh của hệ thống tài chính, những như hiệu lực của các
chính sách tiền tệ của Chính phủ.
1.2. QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.2.1. Khái niệm quản trị rủi ro tín dụng
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình các ngân hàng tiến hành hoạch định, tổ
chức, triển khai thực hiện và giám sát, kiểm tra toàn bộ hoạt động cấp tín dụng,
nhằm tối đa hóa lợi nhuận của ngân hàng với mức rủi ro có thể chấp nhận.
Việc quản trị rủi ro là quá trình đo lường và đánh giá rủi ro trong quá trình cho
vay như; cho vay, giám sát, phát hiện và xử lý kịp thời để đảm bảo quyền lợi của
ngân hàng nếu có bất kỳ một sự thay đổi hoàn cảnh nào cho đến khi khoản vay
được hoàn trả, chính sách quản trị rủi ro tín dụng có tính chất phòng ngừa, ngăn
ngừa và làm giảm những tổn thất trong hoạt động tín dụng của ngân hàng đảm bảo
các khoản vay hoàn trả đầy đủ đúng hạn.
Quản trị rủi ro tín dụng là quá trình quản trị có hệ thống với bốn hoạt động
quản trị rủi ro tín dụng phải có khả năng xác định và tìm ra các nguy cơ rủi ro mới
và công việc của quản trị rủi ro tín dụng được lặp lại.
1.2.3.1 Nhận diện rủi ro
Đây là việc làm của bản thân NHTM, ngân hàng phải nhìn nhận từ chính mình
để thấy nguy cơ rủi ro có thể xảy ra, kết hợp với việc nhìn nhận từ phía khách hàng
vay vốn để nhận ra rủi ro từ các dấu hiệu báo trước.
Về phía ngân hàng: Rủi ro tín dụng được thể hiện qua quy mô tín dụng, cơ cấu tín
dụng, nợ quá hạn, nợ xấu, và dự phòng rủi ro, do đó, khi các yếu tố này có xu
hướng thiên lệch như: quy mô tín dụng tăng quá nhanh vượt quá khả năng quản trị
19
của ngân hàng, hay là cơ cấu tín dụng tập trung quá mức vào một ngành, một lĩnh
vực rủi ro, hoặc là các chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu có dấu hiệu vượt qua ngưỡng cho
phép, dự phòng rủi ro được sử dụng hết, ngân hàng đứng trước nguy cơ rủi ro
- Về phía khách hàng: Khi các dấu hiệu rủi ro tín dụng xuất hiện từ phía khách
hàng, ngân hàng cần nhận biết được khả năng xảy ra rủi ro để có thể đưa ra các
quyết định kịp thời.
Để nhận biết rủi ro, một số công việc ngân hàng cần phải thực hiện như sau:
+ Phân tích danh mục tín dụng của ngân hàng : Phân tích chung danh mục của
ngân hàng để nhận biết các rủi ro về quy mô tín dụng, cơ cấu tín dụng, về ngành … Cần
kết hợp với các dự báo kinh tế để đánh giá rủi ro chung cho toàn bộ danh mục tín dụng.
+ Phân tích đánh giá khách hàng: Công việc này cần phải thực hiện từ khi bắt
đầu tiếp xúc với khách hàng nhằm phát hiện nguy cơ rủi ro đối với từng khách
hàng, từng khoản nợ cụ thể.
Để có thể phân tích và đánh giá khách hàng, cần phải thu thập các thông tin về
khách hàng có ảnh hưởng trực tiếp tới quyết định cho vay. Có thể dựa trên các
thông tin định tính và định lượng.
* Các thông tin định tính: Đây là các thông tin phản ánh tính chất, đặc điểm