ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=============================
TRẦN THANH LONG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN (VĨNH PHÚC)
LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
LUẬN VĂN THẠC SĨ LỊCH SỬ
HÀ NỘI - 2013
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRUNG TÂM ĐÀO TẠO VÀ BỒI DƯỠNG GIẢNG VIÊN LÝ LUẬN CHÍNH TRỊ
=============================
TRẦN THANH LONG
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN (VĨNH PHÚC)
LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010
Luận văn thạc sĩ chuyên ngành: Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam
Mã số : 60.22.56
Người hướng dẫn khoa học: TS. Lưu Trần Luân
HÀ NỘI - 2013
1.3.1. Điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế - xã hội ......................... 31
1.3.2. Chủ trương của Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên về giáo dục và
đào tạo ..................................................................................................... 35
Chương 2: SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO Ở THÀNH PHỐ
VĨNH YÊN TỪ NĂM 1997 ĐẾN NĂM 2010 ............................................. 50
2.1. Tình hình giáo dục và đào tạo của thành phố trước năm 1997 ......... 50
2.1.1. Quy mô, mạng lưới và loại hình giáo dục và đào tạo .................. 50
2.1.2. Chất lượng giáo dục và đào tạo .................................................... 51
2.1.3. Công tác quản lý giáo dục và đào tạo........................................... 53
2.2. Những thành tựu cơ bản của ngành giáo dục, đào tạo của Vĩnh Yên
từ năm 1997 đến năm 2010 ....................................................................... 56
2.2.1. Về quy mô phát triển ..................................................................... 61
2.2.2. Chất lượng giáo dục và đào tạo .................................................... 65
2.2.3. Kết quả xây dựng các điều kiện để phát triển giáo dục và đào tạo
.................................................................................................................. 72
2.2.4. Về phát triển hệ thống trường chuẩn quốc gia ........................... 75
2.2.5. Công tác xã hội hoá giáo dục ....................................................... 76
2.2.6. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng Đảng và các đoàn
thể trong nhà trường ............................................................................... 77
2.2.7. Về công tác quản lý giáo dục và thanh tra trường học ............... 78
Chương 3: NHẬN XÉT CHUNG VÀ MỘT SỐ KINH NGHIỆM ........... 81
3.1. Nhận xét về sự lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và đào tạo của Đảng bộ
thành phố Vĩnh Yên................................................................................... 81
3.1.1. Những kết quả cơ bản ................................................................... 81
3.1.2. Những hạn chế .............................................................................. 84
2
nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa VIII đã cụ thể hóa tinh thần
của Đại hội Đảng VIII: “Thực sự coi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với khoa học - công nghệ là
nhân tố quyết định tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã hội, đầu tƣ cho giáo
dục là đầu tƣ cho phát triển” [13, tr. 29]. Đại hội IX tiếp tục quán triệt quan
điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và tạo sự chuyển biến cơ bản, toàn diện
4
trong phát triển giáo dục và đào tạo... Đại hội X và XI nhấn mạnh: Nâng cao
chất lƣợng giáo dục toàn diện; thực hiện đổi mới chƣơng trình, nội dung,
phƣơng pháp dạy và học, phƣơng pháp thi, kiểm tra theo hƣớng hiện đại;
nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tƣởng,
giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo,
kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội...
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn nhắc nhở những ngƣời làm công
tác giáo dục phải nhận thức đúng đắn: “Giáo dục là sự nghiệp của quần
chúng” [37, tr. 190]. Kết quả giáo dục cao hay thấp tùy thuộc vào trách nhiệm
của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, các ngành, các tổ chức kinh tế - xã
hội của toàn dân: “Giáo dục nhằm đào tạo những ngƣời kế tục sự nghiệp cách
mạng to lớn của Đảng và nhân dân ta. Do đó, các ngành, các cấp, các cấp ủy
Đảng và chính quyền địa phƣơng phải thực sự quan tâm hơn nữa đến sự
nghiệp này, phải chăm sóc nhà trƣờng về mọi mặt, đẩy sự nghiệp giáo dục
của ta lên bƣớc phát triển mới” [34, tr. 404].
Sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo ở từng địa phƣơng, có liên
quan trực tiếp đến nền giáo dục chung của đất nƣớc và có vai trò quyết định
sự hƣng thịnh của một quốc gia.
Từ những nhận thức và suy nghĩ trên, với góc độ học tập, nghiên cứu
lịch sử Đảng, làm rõ việc triển khai thực hiện những chủ trƣơng, chính sách
khác nhau. Một cách khái quát, các công trình nghiên cứu có thể chia thành
các nhóm chủ yếu sau:
Nhóm thứ nhất: Tác phẩm của các đồng chí lãnh đạo nhƣ:
Hồ Chí Minh (1972): Bàn về giáo dục - đào tạo. Nxb. Sự thật, Hà Nội.
Trong cuốn sách này, Ngƣời đã nêu bật vai trò cực kỳ quan trọng của công tác
giáo dục, đặc biệt tác phẩm đã khái quát, phản ánh sự cần thiết của một nền
giáo dục dƣới chế độ xã hội chủ nghĩa.
6
Phạm Văn Đồng (1999): Về vấn đề giáo dục - đào tạo. Nxb. Chính trị
quốc gia, Hà Nội. Tác phẩm này, Phạm Văn Đồng đã khẳng định vai trò của
giáo dục và đào tạo và nhấn mạnh: để sự nghiệp giáo dục và đào tạo phát triển
mạnh mẽ cần có sự nhận thức đúng đắn, sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân và
phải có những chính sách hữu hiệu nhất.
Đỗ Mƣời (1996): Phát triển mạnh mẽ giáo dục và đào tạo phục vụ đắc
lực sự nghiệp CNH, HĐH đất nước, Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục. Trong bài
viết này, nguyên Tổng Bí thƣ Đỗ Mƣời đã khẳng định: muốn đƣa sự nghiệp
công nghiệp hóa đất nƣớc nhanh chóng đến thắng lợi thì dứt khoát phải phát
triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục và đào tạo.
Lê Khả Phiêu (21-1-1998): Chuẩn bị nguồn lực con người, bài phát
biểu với Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đồng chí nhấn mạnh "Sẽ không thể xây
dựng đƣợc một đất nƣớc văn minh, giàu mạnh nếu mọi ngƣời dân không đƣợc
trang bị về trình độ văn hoá và khoa học - kỹ thuật tiên tiến"...
Tất cả các bài viết đó chính là cơ sở tƣ tƣởng và lý luận cho chủ trƣơng,
đƣờng lối, chính sách giáo dục đã và đang tiến hành ở nƣớc ta. Đồng thời các
bài viết đó đều nói về vai trò to lớn và cần thiết của việc đẩy mạnh công tác
giáo dục đào tạo.
Nhóm thứ hai: Một số công trình định hƣớng về giáo dục và đào tạo nhƣ:
đề cập đến vấn đề giáo dục và đào tạo nhƣ: Giáo dục phổ thông từ khi tái
lập tỉnh đến nay; Thực trạng và những giải pháp phát triển nghề của Vĩnh
Phúc đến 2010; đặc biệt đã có công trình: Đảng bộ thị xã Vĩnh Yên (tỉnh
Vĩnh Phúc) lãnh đạo sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo (1986-1999) của Hà Văn
Định, luận văn ThS. lịch sử, HVCTQGHCM. Tuy vậy đề tài này mới chỉ tập
trung vào hệ thống giáo dục - đào tạo giai đoạn (1986-1999).
Nhìn một cách tổng quát, các công trình trên giúp ích rất lớn cho việc
nghiên cứu và tìm hiểu về giáo dục - đào tạo ở Vĩnh Phúc. Tuy nhiên, cho đến
nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về quá trình Đảng bộ thành phố Vĩnh
8
Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục - đào tạo trong những năm tiến hành đẩy
mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vì vậy luận văn tập trung nghiên cứu đề
tài: Đảng bộ Thành phố Vĩnh Yên (Vĩnh Phúc) lãnh đạo sự nghiệp giáo dục và
đào tạo (1997 - 2010) nhằm góp phần bổ sung vào khoảng trống đó.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích:
Trên cơ sở phân tích đánh giá khách quan những hoạt động trong sự
nghiệp giáo dục và đào tạo của thành phố dƣới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng
bộ thành phố Vĩnh Yên, luận văn làm rõ quá trình lãnh đạo đúng đắn, sáng
tạo, chủ động của Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên đối với sự nghiệp giáo dục và
đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010.
3.2. Nhiệm vụ:
Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên trong sự
nghiệp giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010
Trên cơ sở nghiên cứu thực tiễn và đánh giá khách quan giáo dục và
đào tạo, luận văn rút ra một số kinh nghiệm và giải pháp nhằm góp phần xây
dựng và phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo thành phố Vĩnh Yên trong
6. Đóng góp mới về khoa học
Trình bày có hệ thống các quan điểm, chủ trƣơng, biện pháp và kết quả
đạt đƣợc của Đảng bộ thành phố Vĩnh Yên trong việc lãnh đạo, chỉ đạo sự
nghiệp giáo dục và đào tạo từ năm 1997 đến năm 2010.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, luận văn đƣa ra một số nhận xét và một
số giải pháp có tính khả thi và những kinh nghiệm cơ bản đối với sự nghiệp
giáo dục và đào tạo ở thành phố Vĩnh Yên.
10
Kết quả của luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những công trình
nghiên cứu khác có liên quan đến đề tài.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục,
luận văn gồm 3 chƣơng và 7 tiết:
Chương 1: Đảng bộ Thành phố Vĩnh Yên lãnh đạo sự nghiệp giáo dục
và đào tạo trong những năm 1997 - 2010
Chương 2: Sự nghiệp giáo dục và đào tạo ở thành phố Vĩnh Yên từ
năm 1997 đến năm 2010
Chương 3: Nhận xét chung và một số kinh nghiệm
11
Chương 1
ĐẢNG BỘ THÀNH PHỐ VĨNH YÊN LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO
DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRONG NHỮNG NĂM 1997 - 2010
1.1. Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục và đào tạo
Dƣới ánh sáng đƣờng lối đổi mới của Đảng, sự nghiệp giáo dục và đào
công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng đã nhấn
mạnh: “Cùng với khoa học công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng
đầu nhằm nâng cao dân trí đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài. Coi trọng cả
ba mặt: mở rộng quy mô, nâng cao chất lƣợng và phát huy hiệu quả” [13, tr.
107]. Cụ thể hóa đƣờng lối phát triển giáo dục và đào tạo của Đại hội VIII
(1996), Hội nghị lần thứ hai (12-1996) của Ban Chấp hành Trung ƣơng khóa
VIII đã thông qua Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển giáo dục
và đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến 2000.
Nghị quyết đã nêu rõ thực trạng giáo dục và đào tạo ở nƣớc ta trong thời gian
qua và kết luận: “Thực sự coi giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công
nghệ là quốc sách hàng đầu. Nhận thức sâu sắc giáo dục và đào tạo cùng với
khoa học công nghệ là nhân tố quyết định tăng trƣởng kinh tế và phát triển xã
hội, đầu tƣ cho giáo dục là đầu tƣ cho phát triển” [17, tr. 29]. Đồng thời, Hội
nghị Trung ƣơng lần thứ hai (12-1996) cũng chỉ rõ “Đảng và Nhà nƣớc cần
tập trung mọi cố gắng dành ƣu tiên cao nhất cho giáo dục, đào tạo và khoa
học, công nghệ thể hiện trên các mặt, chính sách đãi ngộ cán bộ và tổ chức
quản lý. Các cấp ủy Đảng và mọi Đảng viên nên phải quán triệt sâu sắc quan
điểm cơ bản này trong mọi lĩnh vực hoạt động. Các tổ chức Đảng phải coi đây
là nhiệm vụ thƣờng xuyên trong hoạt động của mình” [17, tr. 6].
Với những mục tiêu của giáo dục và đào tạo trong nhiệm vụ đào tạo
con ngƣời mới Xã hội chủ nghĩa phục vụ sự phát triển kinh tế - xã hội, Đại
hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX (4-2001) của Đảng tiếp tục khẳng định và
13
phát triển quan điểm đã đề ra từ các Đại hội trƣớc: “Phát triển giáo dục và đào
tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa là điều kiện phát huy nguồn lực con ngƣời - yếu tố cơ bản
của sự phát triển xã hội, tăng trƣởng kinh tế nhanh và bền vững” [14, tr. 108].
trình, nội dung, phƣơng pháp đến cơ cấu và hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý
để tạo đƣợc chuyển biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nƣớc nhà, tiếp
cận với trình độ giáo dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới
chắp vá, thiếu tầm nhìn tổng thể, thiếu các kế hoạch đồng bộ. Phấn đấu xây
dựng nền giáo dục hiện đại, của dân, do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ
hội học tập cho mọi ngƣời, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập
suốt đời, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc.
Ƣu tiên hàng đầu cho việc nâng cao chất lƣợng dạy và học. Đổi mới
chƣơng trình, nội dung, phƣơng pháp dạy và học, nâng cao chất lƣợng đội
ngũ giáo viên và tăng cƣờng cơ sở vật chất của nhà trƣờng, phát huy khả năng
sáng tạo và độc lập suy nghĩ của học sinh, sinh viên.
Hoàn chỉnh và ổn định lâu dài hệ thống giáo dục quốc dân; chú trọng
phân luồng đào tạo sau trung học cơ sở
Đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo. Đổi mới cơ chế quản lý,
nâng cao chất lƣợng các trƣờng công lập; bổ sung chính sách ƣu đãi để phát
triển các trƣờng ngoài công lập và các trung tâm giáo dục cộng đồng.
Ƣu tiên phát triển giáo dục và đào tạo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng
bào dân tộc thiểu số. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống trƣờng lớp, cơ sở vật chất
kỹ thuật của các cấp học, mở thêm các trƣờng nội trú, bán trú và có chính
sách đảm bảo đủ giáo viên cho các vùng này.
Đổi mới và nâng cao năng lực quản lý nhà nƣớc về giáo dục và đào tạo;
đổi mới tổ chức và hoạt động, đề cao và đảm bảo quyền tự chủ, tự chịu trách
15
nhiệm của nhà trƣờng; tập trung khắc phục những tiêu cực trong dạy thêm, học
thêm, thƣ cử, tuyển sinh, đánh giá kết quả học tập và cấp chứng chỉ, văn bằng.
Tăng cƣờng hợp tác quốc tế về giáo dục và đào tạo; từng bƣớc xây
dựng nền giáo dục hiện đại, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
nghèo nàn, thực hiện dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, văn minh, biến
lý tƣởng, mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội thành hiện thực” [17, tr. 29].
Nền giáo dục Việt Nam xã hội chủ nghĩa lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và
tƣ tƣởng Hồ Chí Minh làm nền tảng đã đảm bảo đƣợc tính khoa học của nó.
Mặt khác, nền giáo dục đó cũng phải luôn thay đổi, phát triển phù hợp với
thực tiễn và luôn tiếp thu những thành tựu giáo dục trên thế giới mà vẫn giữ
đƣợc tính định hƣớng. Vì vậy, Đảng ta chủ trƣơng: “Giữ vững mục tiêu xã hội
chủ nghĩa trong nội dung, phƣơng pháp giáo dục và đào tạo, trong các chính
sách, nhất là chính sách công bằng xã hội. Phát huy ảnh hƣởng tích cực, hạn
chế ảnh hƣởng tiêu cực của cơ chế thị trƣờng đối với giáo dục và đào tạo.
Chống khuynh hƣớng “thƣơng mại hóa” đề phòng hƣớng phi chính trị giáo
dục và đào tạo. Không truyền bá tôn giáo trong nhà trƣờng” [17, tr. 29].
Trên cơ sở quan điểm này, Đảng ta đã xác định các giải pháp cụ thể
trong xây dựng nền giáo dục Việt Nam đó là: tăng cƣờng giáo dục chính trị,
tƣ tƣởng, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên. Cải tiến việc dạy và học
tập các bộ môn khoa học Mác - Lênin và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh ở các trƣờng
đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp và dạy nghề. Thực hiện công
bằng xã hội trong giáo dục, tạo điều kiện cho mọi ngƣời có điều kiện học tập
và nâng cao trình độ chuyên môn.
1.1.3. Phát triển giáo dục phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ, củng cố quốc phòng, an ninh
Trên cơ sở kế thừa những quan điểm của Mác, Ăngghen, Lênin trong
việc giải quyết mối quan hệ giữa giáo dục với việc phát triển kinh tế - xã hội,
Đảng ta trong công cuộc đổi mới, tiếp tục lãnh đạo sự nghiệp giáo dục gắn
17
với quá trình phát triển kinh tế - xã hội và tiến bộ khoa học. Trên cơ sở đƣờng
lối phát triển giáo dục và đào tạo của Đại hội VIII, Hội nghị Trung ƣơng lần
thứ hai (12-1996) của Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa VIII) đã nhấn mạnh:
thần đó, Đại hội lần thứ VIII (1996) của Đảng nhấn mạnh: “Phát huy trách
nhiệm của các cấp ủy Đảng, các cấp chính quyền, đoàn thể, các doanh nghiệp
đối với sự nghiệp giáo dục, đào tạo” [13, tr. 110]. Đặc biệt, đến Hội nghị Trung
ƣơng lần thứ hai (12-1996) của Ban Chấp hành Trung ƣơng (khóa VIII) thì
trách nhiệm của Đảng, Nhà nƣớc và nhân dân đƣợc quán triệt thành một quan
điểm chỉ đạo: “Giáo dục và đào tạo là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nƣớc và
của toàn dân” [17, tr. 30]. Hội nghị Trung ƣơng lần thứ tƣ (khóa VIII) khẳng
định rằng cần: “Tăng cƣờng sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục
và đào tạo, đi đôi với những giải pháp đồng bộ, tạo bƣớc chuyển biến lớn” [6,
tr. 14]. Cần phải xây dựng một xã hội học tập, mọi ngƣời đƣợc học, học
thƣờng xuyên, học suốt đời, mọi ngƣời cùng chăm lo giáo dục. Kết hợp giáo
dục nhà trƣờng, gia đình và xã hội để tạo nên một môi trƣờng giáo dục lành
mạnh ở mọi nơi. Đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục: khuyến khích, huy động và
tạo điều kiện để toàn xã hội tham gia phát triển giáo dục. Thực hiện quy chế
Đảng lãnh đạo, Nhà nƣớc quản lí và nhân dân làm chủ, Đại hội X (4-2006)
của Đảng đã xác định mục tiêu: “Phấn đấu xây dựng nền giáo dục hiện đại,
của dân do dân và vì dân, bảo đảm công bằng về cơ hội học tập cho mọi
ngƣời, tạo điều kiện để toàn xã hội học tập và học tập suốt đời, đáp ứng yêu
cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nƣớc” [15, tr. 206-207].
Ngày 08-9-2006, Thủ tƣớng Chính phủ đã ra Chỉ thị số 33/2006/CT- TTg
“Về chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục”. Trên cơ sở
đánh giá tình hình, các biểu hiện tiêu cực trong lĩnh vực giáo dục không
những giảm bớt mà còn có xu hƣớng ngày càng phổ biến, Thủ tƣớng Chính
19
phủ chỉ thị đối với Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng Chƣơng trình hành
động chống tiêu cực và khắc phục bệnh thành tích trong giáo dục giai đoạn
2006-2010. Thủ tƣớng Chính phủ yêu cầu các bộ, ban, ngành, gia đình và các
chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể các cấp “cần tiếp tục quán
triệt sâu sắc tƣ tƣởng chỉ đạo của Đảng trong Nghị quyết Trung ƣơng 2 (Khoá
VIII), phấn đấu đến năm 2020 nƣớc ta có một nền giáo dục tiên tiến, mang
đậm bản sắc dân tộc, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại
hóa đất nƣớc trong bối cảnh hội nhập quốc tế” [4, tr. 3]. Bộ Chính trị yêu cầu
cần thực hiện tốt các nhiệm vụ, giải pháp phát triển giáo dục đến năm 2020 là:
nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức
lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý; cần coi
trọng cả ba mặt giáo dục dạy làm ngƣời, dạy chữ, dạy nghề...
Kết luận của Bộ Chính trị nhấn mạnh: “Để đáp ứng yêu cầu của sự
nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nƣớc trong bối cảnh hội nhập quốc
tế, sự nghiệp giáo dục và đào tạo nƣớc ta phải đổi mới căn bản, toàn diện,
mạnh mẽ” [4, tr. 7].
Tóm lại, trên đây là những quan điểm chỉ đạo hoạt động xuyên suốt quá
trình lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp giáo dục và đào tạo của đất nƣớc ta
trong công cuộc đổi mới. Do đó, việc quán triệt những nghị quyết, chỉ thị này
ở các cấp ủy Đảng, chính quyền và các đoàn thể nhân dân là cần thiết trong
mọi giai đoạn.
1.2. Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc vận dụng quan điểm của Đảng về giáo
dục và đào tạo
Tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc tái lập và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 11-1997. Trong điều kiện tỉnh mới tái lập, có những thuận lợi và có những khó
khăn đan xen. Phát huy những thuận lợi, khắc phục những khó khăn, Đảng bộ
Vĩnh Phúc đã tập trung lãnh đạo phát triển kinh tế - xã hội và xây dựng kết
cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn đồng thời rất quan tâm phát triển sự
nghiệp văn hóa, xã hội.
21
Trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã xác định
học cơ sở. Đảm bảo 50% trẻ em trong độ tuổi đi học phổ thông trung học,
mở rộng quy mô đào tạo nghề bằng mọi hình thức để đạt 18% đội ngũ lao
động đƣợc thông qua đào tạo vào năm 2000. Kế hoạch đào tạo nghề phải
bám sát chƣơng trình kinh tế - xã hội của các địa phƣơng. Tăng nhanh số
lƣợng cán bộ có trình độ đại học và trí thức có trình độ cao, cán bộ thông
thạo ngoại ngữ, sử dụng tin học, đào tạo lại cán bộ công chức.
Đổi mới nội dung phƣơng pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lƣợng
toàn diện, coi trọng đúng mức dạy chữ, dạy ngƣời và dạy nghề theo hƣớng
tích cực hóa quá trình học tập của học sinh. Đảm bảo 100% học sinh phổ
thông trung học đƣợc học ngoại ngữ, tin học, phấn đấu ít nhất có trên 50%
học sinh trung học cơ sở đƣợc học ngoại ngữ.
Phấn đấu đến năm 2000 có 50% số phòng học đƣợc xây dựng kiên cố,
số còn lại là phòng học cấp bốn đủ tiêu chuẩn, các trƣờng phổ thông trung học
và trung học cơ sở trọng điểm đều có phòng vi tính, phòng học ngoại ngữ, thƣ
viện, thiết bị thí nghiệm.
Trong khi đầu tƣ xây dựng những vùng giáo dục phát triển mạnh ở
Vĩnh Yên, Phúc Yên, phải đảm bảo phát triển đồng đều và bình đẳng giữa các
vùng, miền trong tỉnh. Đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh là con em các
dân tộc ít ngƣời, miền núi, con em các gia đình thuộc diện chính sách, con em
các gia đình nghèo.
Đề án cũng chỉ rõ tám chƣơng trình cụ thể, giải pháp chủ yếu và cách tổ
chức thực hiện đối với các tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận...
Tháng 3 - 2001, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc lần thứ XIII
đƣợc tiến hành. Đại hội đã đánh giá những kết quả đạt đƣợc trên các lĩnh vực
kinh tế - xã hội của tỉnh trong những năm 1999-2000 cả về thành tựu và những
khó khăn, hạn chế cần phải khắc phục. Trên cơ sở đó, Đại hội đề ra phƣơng
hƣớng, nhiệm vụ cho thời kỳ 2001-2005. Đối với giáo dục và đào tạo, Đại hội
23