LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành được bài nghiên cứu này, trước tiên chúng em xin gửi lời cảm
ơn đến BGH nhà trường cùng Ban chủ nhiệm khoa QTNL trường ĐH Thương Mại đã
tổ chức nên hoạt động nghiên cứu khoa học sinh viên (NCKHSV) để chúng em có cơ
hội được tham gia, góp phần cổ vũ phong trào NCKH của các bạn sinh viên trong toàn
trường. Đặc biệt, chúng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến thầy Nguyễn Đắc
Thành, GV Bộ môn Kinh tế nguồn nhân lực, người đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo và
giúp đỡ chúng em rất nhiều trong quá trình thực hiện bài NCKH này. Chúng em cũng
xin được gửi lời cảm ơn tới các thầy cô và các bạn sinh viên khoa quản trị nhân lực
của các trường: ĐH Thương Mại, ĐH Lao động-Xã hội, ĐH Công Đoàn, ĐH Nội Vụ
đã tạo điều kiện, giúp đỡ chúng em trong quá trình phỏng vấn đáp viên, lấy số liệu
khảo sát để nhóm hoàn thành tốt nhất bài nghiên cứu này. Mặc dù đã có nhiều cố gắng,
tuy nhiên do hạn chế về vấn đề đi lại, thời gian, lấy số liệu khảo sát nên bài nghiên cứu
vẫn còn nhiều thiếu sót. Vì thế chúng em rất mong nhận được những lời góp ý của
thầy, cô và các bạn để bài NCKH của nhóm được hoàn thiện hơn và mang lại nhiều ý
nghĩa thực tế hơn đối với các bạn sinh viên, nhà trường và xã hội.
Chúng em xin chân thành cảm ơn!
1
MỤC LỤC
2
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Từ viết tắt
Kí hiệu viết tắt
nghiên cứu có liên quan trong nước và nước ngoài nhằm tổng hợp kết quả nghiên cứu
trước đó cũng như tìm ra những ưu, nhược điểm của nghiên cứu, từ đó bổ sung để
hoàn thiện đề tài. Thứ ba, tác giả đưa ra các câu hỏi nghiên cứu, nó cho biết đề tài bắt
nguồn từ đâu và hướng đến trả lời cho câu hỏi nào. Cuối cùng là phạm vi cũng như
mục tiêu, ý nghĩa nhóm nghiên cứu hướng đến khi thực hiện đề tài nghiên cứu này.
Nội dung chi tiết sẽ được cụ thể hóa trong từng phần dưới đây.
1.2. Lý do chọn đề tài
Theo số liệu thống kê của Bộ LĐTB & XH năm 2013, có khoảng 60% sinh
viên ra trường làm trái ngành, trái nghề. Thực trạng này diễn ra đối với sinh viên ở hầu
hết các ngành nghề đào tạo: kinh tế, sư phạm, nông lâm... và ở mọi cấp bậc: cao đẳng,
đại học, sau đại học. Có một điều đáng phải suy ngẫm nhiều hơn đó là trình độ đào tạo
càng cao thì nguy cơ thất nghiệp hay làm trái ngành trái nghề cũng càng lớn. Câu hỏi
được đặt ra là vì sao chọn học ngành này mà ra trường lại làm ngành khác có liên quan
hoặc không hề liên quan với ngành nghề được đào tạo? Do thị trường lao động hay do
bản thân người học?
Là những sinh viên ngành Quản trị nhân lực (QTNL), nhóm nghiên cứu cũng tự
đặt câu hỏi tương tự đối với đối tượng là sinh viên ngành QTNL. Như chúng ta đã biết,
mọi quản trị suy cho cùng đều là quản trị con người. Khi nền kinh tế càng phát triền,
quy mô của các doanh nghiệp càng mở rộng thì vai trò của công tác quản trị nhân lực
càng được đề cao, cũng như lĩnh vực nhân sự ngày càng khẳng định được tầm quan
trọng của mình đối với sự phát triển bền vững của doanh nghiệp. Nghề nhân sự được
2
coi là nghề của mọi nghề và ngày càng có nhiều bạn lựa chọn nghề nhân sự để theo
đuổi.
Tuy nhiên, Ngành QTNL, mã ngành D340404 gồm khối thi A, A1, D1, D2, D3,
D4 là một ngành mới được Bộ GD & ĐT đưa vào chương trình đào tạo của các trường
từ năm 2012. Những trường đại học (ĐH) đào tạo ngành này trên địa bàn Hà Nội phải
(1) Phạm Huy Cường (2009), “Các yếu tố tác động đến định hướng nghề
nghiệp của sinh viên năm cuối ngành khoa học xã hội, đại học Khoa học Xã hội
và Nhân văn”
Mục đích của đề tài: Tìm hiểu, đánh giá, so sánh các yếu tố tác động đến định
hướng nghề nghiệp của sinh viên các ngành khoa học xã hội; đề xuất các định hướng
nghiên cứu và khuyến nghị thực tiễn đối với các cấp quản lý và cộng đồng tại địa bàn
nghiên cứu. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp phân tích tài liệu; phương pháp
điều tra bằng bản hỏi; phương pháp phỏng vấn sâu và phương pháp thảo luận nhóm.
Đặc điểm mẫu: Cỡ mẫu lựa chọn là 250 mẫu - sinh viên năm cuối ngành khoa học xã
hội của trường đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn. Kết quả sau nghiên cứu: Hầu
hết sinh viên đã có định hướng nghề nghiệp cho bản thân nhưng những định hướng ấy
đa phần còn thiếu tính cụ thể cũng như cơ sở thực tiễn thực hiện hóa chúng. Nhiều
sinh viên đi đến quyết định lựa chọn ngành học hiện tại của mình trong khi học còn
thiếu, thậm trí không có thông tin gì về ngành học. Chính vì thế một thực tiễn xảy ra là
một bộ phận sinh viên không hứng thú với ngành học của mình cũng như có định
hướng nghề nghiệp không phù hợp với ngành mình đang theo học.
Ưu điểm: Tác giả sử dụng “Kiểm định Chi bình phương” và đại lượng thống kê
Cramer’s V. Trong đó kiểm định Chi bình phương sẽ cho chúng ta biết có tồn tại mối
quan hệ giữa hai biến trong tổng thể hay không. Tuy nhiên Chi bình phương không
cho biết độ mạnh của mối liên kết giữa hai biến. Trong kiểm định Chi bình phương, sẽ
căn cứ vào độ lớn của Pearson Chi-Square Value rồi ra quyết định.
Nhược điểm: Trong bài nghiên cứu, tác giả mới chỉ dừng lại mô tả phân tích ở
dạng phần trăm.
(2) Trần Thị Phụng Hà (2014), “Định hướng giá trị nghề nghiệp của sinh viên
đại học Cần Thơ”, tạp chí khoa học trường Đại học Cần Thơ, số 34, trang 113-125
Mục đích nghiên cứu: Bài báo hướng đến phân tích việc làm và định hướng
nghề nghiệp. Phương pháp nghiên cứu: Bài báo sử dụng phương pháp thu thập số liệu
4
của sinh viên ngành kinh tế và đưa ra hàm ý chính sách cho nhân tố môi trường sống
và chính sách thu hút nhân tài.
5
Ưu điểm: Phương pháp nghiên cứu rõ ràng, nghiên cứu định tính kết hợp với
nghiên cứu định lượng với việc vận dụng phần mềm thống kê SPSS và AMOS. Tác
giả đã kiểm định độ tin cậy của thang đo Crobach’s Alpha, nhân tố khám phá EFA,
phân tích nhân tố khẳng định CFA.
Nhược điểm: Nghiên cứu có kích thước mẫu còn nhỏ, mới chỉ dừng lại ở sinh
viên ngành kinh tế trường đại học Thương Mại. Bên cạnh đó, bài nghiên cứu cũng
chưa định lượng với việc kiểm định ANOVA và T-TEST để chỉ ra liệu có sự khác
nhau về giới tính, khóa học, khu vực sinh sống và nguyện vọng hay không.
(4) Lê Thị Thanh (2013), “Đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn
ngành nghề của sinh viên hệ Cao đẳng – Trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà
Nội”, luận văn thạc sĩ
Mục đích nghiên cứu: Nghiên cứu đánh giá các mức độ ảnh hưởng của các yếu
tố tác động đến sự lựa chọn ngành nghề học tập của sinh viên Trường Cao đẳng nghề
công nghiệp Hà Nội. Qua đó, cung cấp những kết luận có cơ sở khoa học về nhận định
lựa chọn ngành nghề của sinh viên, đưa ra những kiến nghị góp phần cải tiến công tác
tuyển sinh của nhà trường. Phương pháp nghiên cứu: phương pháp nghiên cứu tài liệu,
phương pháp điều tra bằng bản hỏi, phương pháp phân tich toán học và sử dụng các
phần mềm phân tích số liệu, phương pháp thu thập thông tin. Đặc điểm mẫu nghiên
cứu: Cỡ mẫu là 1133 sinh viên ở 10 ngành nghề (5 khoa) của 3 khóa hệ Cao đẳng:
khóa 32 – 34, trường Cao đẳng nghề Công nghiệp Hà Nội. Số lượng phiếu thu về hợp
lệ dùng để phân tích là 1008 phiếu; tỷ lệ phiếu thu về hợp lệ đạt 90.2%. Kết quả sau
nghiên cứu: Nhận thấy trong 3 nhóm yếu tố: con người (bản thân, người thân, các mối
quan hệ ngoài cộng đồng xã hội); thông tin đại chúng và xã hội (nghề nghiệp, nhu cầu
thị trường, nhà trường) thì nhóm yếu tố xã hội có ảnh hưởng nhiều nhất đến quyết định
của sự lựa chọn ngành nghề của sinh viên. Trong nhóm yếu tố xã hội, yếu tố nhà
lựa chọn nghề nghiệp. Trong khi nam giới mong muốn lập nghiệp sớm và trở lên giàu
có hoặc lập gia đình. Một số các nhân tố ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề nghiệp của
sinh viên MBA Mỹ như: gia đình, các yếu tố ngoài gia đình, giáo dục, giới tính, tình
trạng hôn nhân, tự do lựa chọn, lương, thăng tiến, kiến thức, lợi ích nghề nghiệp...
Trong các nhân tố đó nhân tố có mức độ ảnh hưởng cao nhất là nhân tố giáo dục hay
đào tạo.
Ưu điểm:
Đã chỉ rõ hai câu hỏi nghiên cứu lớn đó là:
1. Những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc lựa chọn nghề của sinh viên Mỹ MBA?
2. Sự khác nhau giữa việc lựa chọn nghề nghiệp của nam và nữ?
7
Ngoài ra tất cả các dữ liệu được thu thập bằng cách sử dụng bảng câu hỏi tự báo
cáo, nâng cao khả năng rằng các nhân tố được trả lời bị ảnh hưởng bởi những phương
pháp sai phổ biến.
Nhược điểm: Theo nghiên cứu có tới 1.500.000 sinh viên Mỹ học MBA từ năm
1970. Mẫu nghiên cứu lại là 109, cho thấy mẫu nhỏ, chưa đủ lớn.
(6) Galhena B.L and Rathnayake R.M.D.D (2011): “Determinants of Career
Choice Decision of Management Undergraduates in Sri Lanka”
Mục đích nghiên cứu: Mục đích khám phá những ảnh hưởng của các yếu tố
khác nhau về quyết định lựa chọn nghề nghiệp của sinh viên đại học quản lý tại Sri
Lanka. Hơn nữa, nghiên cứu này tập trung vào việc kiểm tra tác động của các cá nhân
khác nhau có ảnh hưởng đến quyết định về sự nghiệp của sinh viên đại học quản lý.
Phương pháp nghiên cứu: Phương pháp chọn mẫu ngẫu nhiên đơn giản, phương
pháp điều tra, phỏng vấn bằng bản hỏi, sử dụng phần mềm SPSS (với Phân tích thành
phần chính (Principal Component Analysis – PCA và ma trậnVarimax xoay).
Đặc điểm mẫu nghiên cứu: Các mẫu bao gồm 156 sinh viên đại học quản lý tại
Đại học Ruhuna đang học năm thứ ba (n = 64) và năm thứ tư (n = 92) của chương
viên đại học hoặc sinh viên MBA. Ngoài ra đã chỉ ra được sự khác nhau giữa các yếu
tố tác động đến sự lựa chọn nghề nghiệp của nam và nữ.
Nhược điểm: Mẫu còn nhỏ, chưa đủ lớn (mẫu bao gồm 156 sinh viên đại học
quản lý tại Đại học Ruhuna), chọn mẫu chưa được tiến hành tổng thể, mới chỉ bao
gồm sinh viên năm 3, năm 4 tại trường đại học.
(7) Identifying The Importance Level of Factors Influencing The Selection Of
Nursing As A Career Choice Using AHP: Survey To Compare The Precedence Of
Private Vocational High School Nursing Students And Their Parents ( Emrah Önder,
Güler Önder, Özlem Kuvat, Nihat Taş)
Mục đích của nghiên cứu này là đề xuất một cách tiếp cận đa tiêu chí trong việc
ra quyết định để đánh giá thứ tự ưu tiên, kiểm tra nhận thức của cả học sinh và cha mẹ
các sinh viên điều dưỡng về sự nghiệp y tá và trường điều dưỡng và phân tích các yếu
tố ảnh hưởng đến sự lựa chọn nghề điều dưỡng của y tá như một nghề nghiệp và xác
định sự khác biệt và tương đồng trong các yếu tố như giữa sinh viên điều dưỡng và cha
mẹ của họ. Mục đích của nghiên cứu này là sử dụng phân tích quá trình phân cấp của
Saaty (AHP) để điều tra các yếu tố mà sinh viên điều dưỡng xem xét khi lựa chọn điều
dưỡng như một nghề nghiệp, và để lấy được trọng số tương đối của từng yếu tố.
Cuộc khảo sát được tiến hành vào tháng 11/2012. Đối tượng được nghiên cứu là
82 sinh viên điều dưỡng với một độ tuổi 13-15 đang theo học tại Mektebim Anatolian
Dạy nghề Trung học y tế ở Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ và 51 cha mẹ của họ. 70 của học sinh
(85,37%) là sinh viên nữ và 12 trong số đó (14,63%) là nam sinh. 60 của học sinh
9
(73,17%) là ở lớp 9 và 22 trong số đó (26,83%) là ở lớp 10. Sinh viên điều dưỡng
được yêu cầu so sánh các tiêu chí ở một mức độ nhất định trên cơ sở từng đôi để xác
định ưu tiên tương đối của chúng.
3 tiêu chí chính và 20 tiêu chí phụ được đưa ra. Kết quả nghiên cứu về các tiêu
chí dựa nghề điều dưỡng nhận thấy rằng sinh viên y tá nghĩ rằng thu nhập (16,8%),
phát triển chuyên nghiệp/tiềm năng tăng trưởng (15,9%) và nhiều công việc (13,6%) là
Phần này trả lời cho câu hỏi “Mức độ ảnh hưởng của các nhân tố ra sao?”, có
nghĩa là các nhân tố nêu trên ảnh hưởng cùng chiều hay ngược chiều với biến phụ
thuộc. Cụ thể, các nhóm yếu tố được giả thuyết là từ H1 đến H6 là các biến độc lập
định lượng tác động trực tiếp ngược chiều hoặc cùng chiều đến biến phụ thuộc “Ý
định lựa chọn nghề nhân sự”.
Bảng 1.1: Các giả thuyết nghiên cứu
Giả thuyết
H1
H2
H3
H4
H5
H6
Nội dung
Nhân tố bản thân ảnh hưởng cùng chiều đến ý định lựa chọn nghề nhân
sự của sinh viên học ngành QTNL trên địa bàn Hà Nội
Nhân tố nhu cầu xã hội và cơ hội thăng tiến ảnh hưởng cùng chiều đến ý
định lựa chọn nghề nhân sự của sinh viên học ngành QTNL trên địa bàn
Hà Nội
Nhân tố gia đình ảnh hưởng cùng chiều đến ý định lựa chọn nghề nhân sự
của sinh viên học ngành QTNL trên địa bàn Hà Nội
Nhân tố truyền thông ảnh hưởng cùng chiều đến ý định lựa chọn nghề
nhân sự của sinh viên học ngành QTNL trên địa bàn Hà Nội
Nhân tố môi trường làm việc tại địa phương ảnh hưởng cùng chiều đến ý
định lựa chọn nghề nhân sự của sinh viên học ngành QTNL trên địa bàn
- Nhìn nhận tổng thể hơn về sự ảnh hưởng của các nhân tố đến lựa chọn nghề
nhân sự của sinh viên.
- Trên cơ sở đó sẽ tổ chức truyền thông, tác động đến sinh viên thông qua các
nhân tố có tầm ảnh hưởng lớn nhất.
1.7. Kết cấu của đề tài nghiên cứu
Báo cáo khoa học được chia làm 4 chương gồm: chương 1 là giới thiệu; chương
2 là phương pháp nghiên cứu; chương 3 là kết quả nghiên cứu; chương 4 là thảo luận
và kết luận.
12
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Tóm lược
Phương pháp nghiên cứu được hiểu là cách thức, phương tiện, công cụ để giải
quyết một vấn đề. Khi có phương pháp, vấn đề được giải quyết một cách hiệu quả,
logic, và khoa học hơn. Trong chương 2 này, tác giả tóm tắt sơ lược về nội dung các
phương pháp nghiên cứu của đề tài. Trước tiên, nhóm thiết kế nghiên cứu, bao gồm
nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức, sau đó tiến hành thiết lập quy trình nghiên
cứu xuất phát từ mục tiêu nghiên cứu, cơ sở lý thuyết; lựa chọn các công cụ, phần
mềm hỗ trợ cho việc phân tích dữ liệu. Thông qua việc tìm hiểu thông tin và phỏng
vấn các đáp viên, tác giả xây dựng bản hỏi với các thang đo nghiên cứu nhằm đo
lường biến phụ thuộc; và cuối cùng là lựa chọn kích cỡ mẫu điều tra cho bài nghiên
cứu. Nội dung chi tiết được trình bày cụ thể ở các mục dưới đây.
2.2. Thiết kế nghiên cứu
2.2.1. Nghiên cứu sơ bộ và nghiên cứu chính thức
2.2.1.1. Nghiên cứu sơ bộ
Nhóm sử dụng phương pháp phân tích định tính cùng kĩ thuật phỏng vấn
chuyên sâu và thảo luận nhóm tập trung vào 4 câu hỏi:
Câu 1: Bạn có yêu thích nghề nhân sự không? Câu hỏi này nhằm xác định sự
phá EFA, và AMOS dùng để phân tích nhân tố khẳng định CFA, phân tích SEM, phân
tích cấu trúc đa nhóm.
2.2.2. Quy trình nghiên cứu
14
Sơ đồ 2.1: Quy trình nghiên cứu
Mục tiêu
nghiên cứu
Cơ sở lý
thuyết
Crobanch’s
Alpha
Kiểm tra độ tin cậy của thang đo
Crobach’s Alpha
EFA
Kiểm tra trọng số EFA, nhân tố và
phương sai trích
SEM
Nghiên cứu định
lượng sơ bộ n = 12
tìm các tài liệu cần thiết liên quan đến đề tài và các tài liệu về thực hành sử dụng phần
mềm hỗ trợ, qua đó nhóm chọn tài liệu phù hợp nhất với đề tài làm cơ sở lý thuyết.
Bước thứ ba là nhóm phác thảo thang đo sơ bộ sau khi thực hiện phỏng vấn các ứng
viên và nghiên cứu định tính, định lượng sơ bộ 12 bạn sinh viên để thu thập số liệu
chạy thử Crobanch’s Alpha và EFA. Qua kết quả đó, nhóm tiến hành điều chỉnh bản
hỏi nháp để hoàn thiện thành thang đo chính thức (phiếu điều tra) và tiến hành điều tra
chính thức với 254 mẫu bao gồm các bạn sinh viên ở các khóa học và các trường khác
nhau nhằm thu thập số liệu phục vụ cho việc phân tích, chạy phần mềm SPSS và
AMOS. Về phân tích số liệu bao gồm các bước: Kiểm định độ tin cậy của thang đo
thông qua hệ số Crobanch’s Alpha; Kiểm tra độ thích hợp của mô hình và giả thuyết
bằng mô hình SEM và phân tích cấu trúc đa nhóm về giới tính.
2.3. Thang đo trong nghiên cứu
2.3.1. Thang đo bản thân
Bản thân bao gồm tất cả các sở thích, thói quen, tính cách, quan điểm, cảm
xúc,... của một người trước một sự việc. Trong đề tài nghiên cứu này, qua quá trình
điều tra thông tin, nhóm đã đưa ra các biến quan sát:
- Tôi yêu thích nghề nhân sự.
- Tôi thấy bản thân mình phù hợp với nghề nhân sự.
- Tôi tò mò về nghề nhân sự; tò mò về hành vi, cách ứng xử của con người.
2.3.2. Thang đo nhu cầu xã hội và cơ hội thăng tiến
Nói về vấn đề việc làm hay lao động, chúng ta không thể không quan tâm đến
quan hệ cung - cầu trên thị trường và khả năng phát triển khi lựa chọn một ngành nghề
nào đó. Nhu cầu xã hội và cơ hội thăng tiến đóng vai trò hết sức quan trọng, và đối với
một sinh viên ngành nhân sự, yếu tố này ảnh hưởng qua việc:
- Ngày càng có nhiều công ty đăng thông báo tuyển dụng nhân viên nhân sự.
- Tôi thấy mình có nhiều cơ hội khẳng định bản thân trong nghề này.
- Có nhiều công ty tuyển thực tập sinh nhân sự.
16
- Ở địa phương có ít người học và chọn làm nghề này.
- Làm việc ở địa phương có nhiều thuận lợi: gần nhà, chi phí sinh hoạt thấp…
17
- Anh/Chị đồng hương chia sẻ giúp tôi nhận thấy những thuận lợi về môi
trường làm việc và cơ hội phát triển của nghề nhân sự ở địa phương.
2.3.6. Thang đo nhà trường
Nhà trường là một môi trường tốt dành cho sinh viên. Thông qua quá trình học
tập, rèn luyện, nó dần dần có những ảnh hưởng tới các bạn sinh viên dù ít hay nhiều.
Sự ảnh hưởng ấy có thể là từ thầy cô, bạn bè, các hoạt động ngoại khóa, hay từ các câu
lạc bộ trong trường...Nhóm nghiên cứu đã thu thập dữ liệu và xây dựng nên các biến
quan sát cho yếu tố nhà trường như sau:
- Nhà trường có câu lạc bộ nhân sự.
- Nhà trường, khoa tổ chức nhiều cuộc thi liên quan đến nghề nhân sự giúp tôi
nâng cao sự hiểu biết về nghề, tình yêu nghề.
- Nhà trường có phòng thực hành máy giúp tôi làm quen với các phần mềm
nhân sự.
2.3.7. Thang đo ý định lựa chọn nghề nhân sự
Ý định lựa chọn nghề nhân sự của các bạn sinh viên ngành quản trị nhân lực
được nhóm nghiên cứu tìm hiểu và khái quát thành những biến quan sát:
- Tôi yêu thích nghề nhân sự.
- Tôi cảm thấy muốn gắn bó, theo đuổi nghề nhân sự.
- Tôi có lộ trình công danh rõ ràng khi lựa chọn nghề nhân sự.
- Tôi chủ động học hỏi để hoàn thiện các kiến thức, kỹ năng về nghề nhân sự.
- Tôi muốn cống hiến hết khả năng của mình cho nghề nhân sự.
2.4. Mẫu điều tra
2.4.1. Phương pháp chọn mẫu
Nhóm chọn mẫu theo phương pháp ngẫu nhiên phi xác suất thuận tiện để chọn
vào tổng thể mẫu với các khả năng đều như nhau theo ý định chủ quan của nhóm.
nam
nữ
Tổng số
Tần
suất
48
206
254
Phần
trăm
18.9
81.1
100.0
Phần trăm có Phần trăm tích
giá trị
lũy
18.9
18.9
81.1
100.0
100.0
Biểu đồ 3.1
19
100.0
trăm Phần trăm tích
có giá trị
15.0
47.6
31.1
6.3
100.0
lũy
15.0
62.6
93.7
100.0
Biểu đồ 3.2
Trong mẫu này, nhóm điều tra sinh viên tất cả các khóa của 4 trường ĐH. Số
lượng sinh viên năm nhất chiếm 15%, năm thứ 2 chiếm 47.6%, năm thứ 3 chiếm
31.1% và năm thứ 4 chiếm 6.3%.
c) Về trường đại học
Bảng 3.3: Đại học
Tần suất
20
Phần
Phần trăm Phần trăm
tích lũy
34.6
65.7
74.4
100.0
Biểu đồ 3.3
Nhóm điều tra sinh viên của 4 trường có đào tạo ngành Quản trị nhân lực.
Trong đó, sinh viên trường ĐH Thương Mại chiếm 34.5%, trường LĐ-XH chiếm
31.1%, trường KTQD chiếm 8.7% và trường ĐH Công Đoàn chiếm 25.6%.
d) Về khu vực
21
Bảng 3.4: Khu vực
Phần
Giá trị
Khu vực 1
Khu vực 2- nông thôn
Khu vực 2
Khu vực 3
Tổng
Phần
Tần
100.0
Biểu đồ 3.4
Trong mẫu này, số sinh viên ở khu vực 1 chiếm 19.3%, sinh viên ở khu vực 2nông thôn chiếm 50.8%, sinh viên khu vực 2 chiếm 19.3% và sinh viên khu vực 3
chiếm 10.6%.
e) Về nguyện vọng
22
Bảng 3.5: Nguyện vọng
Phần
Giá trị
Nguyện vọng 1
Nguyện vọng 2
Tổng
Phần
Tần
Phần
trăm có trăm
suất
208
23