Đánh Giá Hiệu Quả Các Mô Hình Khuyến Lâm Trên Địa Bàn Tỉnh Bắc Kạn - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN MỸ HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

THÁI NGUYÊN THÁNG 9 NĂM 2011


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

NGUYỄN MỸ HẢI

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC MÔ HÌNH KHUYẾN LÂM
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH BẮC KẠN

Chuyên ngành: Lâm học
Mã số: 606260

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học:

TS. Nguyễn Nghĩa Biên.

THÁI NGUYÊN THÁNG 9 NĂM 2011


ii

Đặc biệt, trong thời gian qua nhà nước có nhiều chính sách phát triển
kinh tế xã hội, có liên quan đến phát triển lâm nghiệp như: Chương trình 327,
dự án 661, Chương trình 135, Chương trình 134, Nghị quyết 30a,… với mục
tiêu xóa đói giảm nghèo nhanh và bền vững cho miền núi, thông qua nhiều
phương pháp tiếp cận chuyển giao khoa học kỹ thuật khác nhau trong đó có
các mô hình khuyến lâm.
Bắc Kạn là một tỉnh miền núi với diện tích đất lâm nghiệp chiếm tới
80% tổng diện tích tự nhiên. Khuyến lâm từ lâu đã trở thành tâm điểm của
tỉnh. Với những chủ trương của nhà nước đã đặt ra, hoạt động khuyến lâm của
Tỉnh Bắc Kạn trong thời gian qua đã tổ chức thực hiện các nội dung trên.
Trong suốt hơn một thập kỷ qua, khuyến lâm vẫn đang tìm kiếm để trả
lời các câu hỏi đặt ra là có những mô hình chuyển giao gì? phương pháp, cách
thức làm như thế nào? hiệu quả làm ra sao? có những khó khăn, bất cập gì
trong quá trình chuyển giao? khả năng nhân rộng của mô hình? .... Sau nhiều
năm thực hiện song vẫn chưa có các công trình điều tra nghiên cứu đầy đủ, có
tính hệ thống cung cấp cho các nhà quản lý có những thông tin đầu đủ, khách
quan để hoạch định những chính sách, kế hoạch phù hợp với tỉnh. Xuất phát
từ yêu cầu thực tiễn này, tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá hiệu quả của các mô
hình khuyến lâm trên địa bàn Tỉnh Bắc Kạn’’.


iii

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU............................................................................................................ i
CHƯƠNG 1.......................................................................................................1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .........................................................1

4.2.3. Kết quả phân loại các mô hình theo các tiêu chí và đánh giá ............... 42
4.2.4. Đánh giá hiệu quả của từng mô hình....................................................... 42
3.2.4.1. Các mô hình thành công ...................................................................... 42
3.3.5. Đánh giá các tác động về xã hội ........................................................... 57
4.26. Đánh giá chung ...................................................................................... 59
4.2.2. Về phát triển nguồn lực......................................................................... 61
4.2.3. Về cơ chế, chính sách............................................................................ 62
4.2.4. Về kỹ thuật ............................................................................................ 62
4.4. Nhóm giải pháp phát huy hiệu quả các mô hình khuyến lâm thành công63
CHƯƠNG 5.....................................................................................................69
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ.........................................................................69
5.1. Kết luận .................................................................................................... 69
5.2 Kiến nghị ................................................................................................... 70
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................71

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 4.1: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Keo tai tượng ở tuổi 3 ở
mô hình khuyến lâm và mô hình đại trà ................................................................43


v

Bảng 4.2: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Mỡ ở tuổi 3 giữa mô hình
khuyến lâm và trồng đại trà ...................................................................................46
Bảng 4.3: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Trúc sào ở tuổi 3 giữa mô
hình khuyến lâm và đại trà.....................................................................................48
Bảng 4.4: Kết quả so sánh các chỉ tiêu sinh trưởng của cây Mao trúc ở tuổi 3 với cây
Trúc sào của địa phương........................................................................................51
Bảng 4.5: Kết quả tác động xã hội của một số mô hình khuyến lâm ..........................57


1

CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Lịch sử nghiên cứu khuyến nông trên thế giới
Bắt đầu vào thời kỳ phục hưng (thế kỷ 14) khi khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển với tốc độ cao thì việc phổ biến ứng dụng tiến bộ kỹ thuật
nói chung, tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp nói riêng vào sản xuất ngày càng
quan tâm.
Khởi đầu là Rabelaiz đã làm công tác thống kê hiệu quả công tác của
những học sinh, sinh viên mới tốt nghiệp ra trường từ những cơ sở đạo tạo có
thực hành và không có thực hành. Từ kết quả điều tra ông đã kết luận học
sinh, sinh viên đào tạo ở những trường coi trọng thực tế thực hành khi ra
công tác (đặc biệt những năm đầu) có hiệu quả cao hơn những học sinh, sinh
viên tốt nghiệp ở những trường không coi trọng thực tế thực hành. Từ đó ông
đề ra phương pháp đào tạo là: Học phải đi đôi với thực hành và đó cũng
chính là phương châm giáo dục của cha ông ta cho những thế hệ trẻ “Học
phải kết hợp với hành” [1]. Tiếp theo đó nhiều tác giả đã có nhiều công trình
liên quan đến khuyến nông như:
Hartlib (1661) đã viết cuốn “Tiểu luận về những tiến bộ học tập nông
nghiệp” đề cập rất sâu về học với hành trong nông nghiệp [1].
Heinrich Pastalozzi (1775) đã thành lập một trường dạy nghề cho các
trẻ em con nhà nghèo, trong đó có dạy nông nghiệp cách trồng trọt, chăn nôi,
dệt vải lụa [1].
Philip Emanuel (1806) đã xây dựng hai trường nông nghiệp thực hành
ở Hofuyl. Nội dung và phương pháp đào tạo cán bộ nông nghiệp ở đây đã có
ảnh hưởng rất lớn đến phương pháp đào tạo của các trường nông nghiệp châu
Âu và Bắc Mỹ sau này [1].



3

1.1.1. Quá trình phát triển khuyến nông
Con người chúng ta đã biết cách hoạt động khuyến nông từ nhiều ngàn
năm nay ngay sau khi con người biết đến sản xuất nông nghiệp trồng trọt,
chăn nuôi … Để đạt được mục tiêu này mục tiêu khác, bằng cách này, cách
khác, con người đã hành động sao cho nông nghiệp ngày càng phát triển để
thỏa mãn nhu cầu của cuộc sống của con người, đó là thực tế ai cũng thừa
nhận. Để góp phần đắc lực cho nông nghiệp phát triển, một số nước đã sớm
nhận thấy cần có hệ thống tổ chức khuyến nông. Mầm mống để hình thành
nên các tổ chức khuyến nông nhà nước của các quốc gia từ một hoặc từ một số
các tổ chức như:
- Các Hội, Hiệp hội của nông dânVí dụ như Hội những người cả tiến
kiến thức nông nghiệp ở Scotlan ra đời năm 1757, Hội nông nghiệp ở Đức ra
đời năm 1764, và Hội nông dân ở Mỹ ra đời năm 1853.
- Các tổ chức khác ở nông – thôn như hợp tác xã (HTX) sản xuất,
Hội tín dụng của nông dân, Câu lạc bộ sản xuất, và Hội nông dân những
người cùng sở thích .... do nông dân tự lập ra.
- Các tổ chức nông nghiệp của Chính phủ như HTX sản xuất nông
nghiệp, Hội nông dân, Hội làm vườn .... do nhà nước tổ chức.
- Các cơ sở đào tạo của các trường, của các cơ quan nghiên cứu như
các học viện, các trung tâm nghiên cứu, trạm trại nghiên cứu …[4].
Mặc dù chưa có hệ thống khuyến nông quốc gia nhưng con người đã
biết hoạt động khuyến nông nhiều nghìn năm nay dưới hình thức này hình
thức khác, bằng cách này cách khác để đạt được mục tiêu họ mong muốn. Để
tăng cường phát triển nông nghiệp, nông thôn ngày càng đổi mới, chính phủ
các nước đã thành lập các hệ thống khuyến nông quốc gia.
Hệ thống khuyến nông của các quốc gia bắt đầu được hình thành từ



5

Amherst và là thành viên của UBNN bang Massachuisetts đã có nhiều công
lao đào tạo khuyến nông cho nông dân và học sinh, sinh viên. Ông cũng là
người sáng lập ra Hội nông dân và Học viện nông dân [3].
Từ cuối những năm 80 của thế kỷ trước Nhà nước đã quan tâm đến
công tác đào tạo khuyến nông trong trường đại học. Năm 1891 bang
NewYork đã hỗ trợ 10.000 USD cho công tác đào tạo khuyến nông đại học.
Những năm sau đó nhiều nhiều trường đại học như Đại học Chicago, Đại
học Wicosin …cũng đưa khuyến nông vào chương trình đào tạo. Bộ thương
mại cũng như ngân hàng và nhiều công ty công, nông, thương nghiệp tài trợ
cho các hoạt động khuyến nông. Đến năm 1907, ở Mỹ đã có 42 trường đại
học trong tổng số 39 bang có đào tạo khuyến nông. Năm 1910, có 35 trường
đại học có bộ môn khuyến nông [3]. Năm 1914, Mỹ ban hành đạo luật
khuyến nông và thành lập Hệ thống khuyến nông quốc gia. Giai đoạn này đã
có 8.861 Hội nông dân, với khoảng 3.050.150 hội viên [3].
Mỹ là quốc gia có 6% dân sống bằng nghề nông nghiệp nhưng nền
nông nghiệp Mỹ được xếp vào nhóm những nước nông nghiệp phát triển.
Nhiều sản phẩm nông nghiệp của Mỹ chiếm lĩnh thị trường thế giới như
ngô, đậu tương …Như sản lượng đậu tương năm 1995 đạt 55 triệu tấn, đến
năm 2001 đạt 70 triệu tấn, tăng 15 triệu tấn so với năm 1995. Xuất khẩu đậu
tượng lớn nhất thế giới chiếm 16,9 triệu tấn/năm, đạt khoảng 54% lượng đậu
tương xuất khẩu của thế giới. S ả n x u ấ t Ngô đạt 335 triệu tấn trên năm
vào những năm 2000 - 2001. Xuất khẩu ngô khoảng 70 triệu tấn/năm chiếm
69% so với thế giới) [5].
• Ở Ấn Độ: Hệ thống khuyến nông Ấn Độ được thành lập tương đối sớm
vào năm 1960. Vào thời điểm này tình hình sản xuất nông nghiệp nói chung,
lương thực nói riêng của Ấn Độ đang là vấn đề rất bức xúc. Ấn Độ là quốc
gia đông dân thứ 2 trên thế giới, sau Trung quốc với nền nông nghiệp nghèo



7

kinh phí này gấp hơn 20 lần kinh phí khuyến nông hàng năm của nước ta [8].
- Nhiều năm nay Thái Lan là quốc gia đứng hàng thứ nhất xuất khẩu
lương thực trên thế giới (xuất khẩu khoảng 7 triệu tấn gạo/năm).
- Hiện nay Thái Lan rất coi trọng chất lượng giống cây trồng, sản
xuất rau quả an toàn, phát triển nuôi trồng thủy sản ....
• Trung Quốc: Là quốc gia đất rộng thứ 4 thế giới nhưng dân số đông
nhất thế giới. Khí hậu Trung Quốc thuộc vùng vĩ độ cao có ôn đới, á nhiệt
đới và một phần nhiệt đới. Hệ thống khuyến nông Trung Quốc được thành lập
năm 1970 nhưng công tác đào tạo khuyến nông Trung Quốc rất quan tâm:
- Năm 1928 Viện đại học nông nghiệp tỉnh Triết Giang thành lập phân
khoa khuyến nông.
- Năm 1929 Chính phủ Trung Quốc đã xác định: “Ngành khuyến
nông do các cơ quan nông nghiệp phụ trách, đặt tiêu chuẩn cải thiện phương
pháp sản xuất nông nghiệp, gia tăng năng suất, cải thiện tổ chức nông thôn
và sinh hoạt nông dân, phổ biến tri thức về khoa học nông nghiệp, thành lập
các HTX nông dân sản xuất và tiêu thụ” [4].
- Năm 1933, Trường đại học Kim Lăng (nay là trường Đại học tổng
hợp Nam Kinh) có khoa khuyến nông.
- Tổ chức HTX và Công xã nhân dân từ 1951 – 1978 nên giai đoạn
này công tác khuyến nông chỉ triển khai đến HTX. Nội dung khuyến nông
giai đoạn này coi trọng phổ biến đường lối chủ trương nông nghiệp củ Đảng
và Chính phủ cũng như chuyển giao tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp, xây dưng
các mô hình điểm trình diễn đến thăm quan học tập và áp dụng.
- Sau 1978 tổ chức sản xuất nông nghiệp Trung Quốc có thay đổi theo
hướng phát triển kinh tế nông hộ song song với kinh tế tập thể quốc doanh
- 1991, thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá nông thôn, Nghị



9

1.2. Khuyến nông Việt Nam
1.2.1. Lịch sử ra đời và phát triển trước 1993
Đã từ xa xưa Tổ tiên ta đã có những hoạt động khuyến nông. Tục
truyền vua Hùng Vương nước Văn Lang đã dạy dân xã Minh Nông (Vĩnh
Phúc) cấy lúa. Sau đó không lâu cây lúa đã là cây trồng chủ lực. Người Văn
Lang thờ Thần Nông là vị thần nông nghiệp của người Việt cổ [8].
Truyền thuyết về khuyến nông dâu tằm cho rằng Công chúa Thiều
Hoa, con vua Hùng vương thứ 6 là người đã đưa và giúp nông dân vùng bãi
sông Hồng thuộc vùng Ba Vì, Hà Tây nghề trồng dâu nuôi tằm, ươm tơ dệt
lụa (hiện nay ở Cổ Đô, Ba Vì còn có đền thờ bà Thiều Hoa công chúa- Bà
Tổ của nghề trồng dâu, nuôi tằm, ươm tơ dệt lụa của Việt nam).
Điều này minh chứng rằng gần 3000 năm trước đây cha ông ta đã biết
làm công tác khuyến nông. Từ khi có chữ viết, lịch sử được ghi lại với nhiều
dẫn chứng cho thấy công tác khuyến nông đã được ông cha ta rất quan tâm.
Năm 981, thời Đinh - Lê đã có phong tục “Lễ hạ điền” của nhà vua.
Nhà vua chọn ngày, giờ khắc đẹp đầu năm xuống đồng cày sá đất đầu tiên,
Hoàng hậu ngồi quay tơ dệt lụa. Hành cử này của Nhà vua và Hoàng hậu có
ý nghĩa khích lệ mọi người dân ra sức tăng gia sản xuất, mong cho một năm
mới sản xuất nông nghiệp bội thu. Sau này Bác Hồ cũng học tập cha ông xưa.
Đặc biệt những năm sau giải phóng miền Bắc 1954, vào những ngày đẹp trời
đầu xuân Bác trồng cây và tưới nước cho cây. Năm 1964 Đảng và Nhà nước
ta đã phát động thành phong trào “Trồng cây xanh Bác Hồ” rất sôi nổi và
rộng khắp miền Bắc.
Năm 1226, Đời Vua nhà Trần đã thành lập 3 tổ chức: “Hà đê sứ”,
“Đồn điền sứ”, và “Khuyến nông sứ”. Đứng đầu mỗi tổ chức đều có quan
triều đình đảm nhiệm. Hà đê sứ là tổ chức chuyên chăm lo đắp đê phòng
chống lũ lụt. Đồn điền sứ là tổ chức chuyên lo việc quản lý đất đai. Khuyến

tương ái giúp nhau trong sản xuất nông nghiệp [4].


11

Năm 1960, ở miềm Nam lập các Nha Khuyến nông trực thuộc Bộ cải
cách điền địa Nông - Ngư mục. Còn ở miền Bắc năm 1960 thành lập các
Hợp tác xã sản xuất nông nghiệp bậc thấp ; năm 1968 thành lập HTX bậc
cao, và năm 1974 thành lập HTX toàn xã. Tổ chức HTX sản xuất nông
nghiệp vào giai đoạn này có một ý nghĩa lịch sử lớn lao. Tổ chức HTX sản
xuất nông nghiệp nông dân “Cùng làm cùng hưởng” đã tạo điều kiện cực kỳ
quan trọng giúp cho đảng và Nhà nước huy động được mức độ tối đa sức
người, sức của phục vụ cho tiền tuyến, phục vụ cho công cuộc đấu tranh
chống Mỹ cứu nước giải phóng miền Nam, thống nhất Đất nước. Công
tác khuyến nông giai đoạn này chủ yếu triển khai đến HTX. Phương pháp
khuyến nông chủ yếu đưa TBKT nào sản xuất, xây dựng các mô hình HTX
sản xuất tiến bộ như: HTX Tân Phong, HTX Vũ Thắng Thái Bình [1].
Năm 1961 trở lại đây sinh viên các trường đại học nông nghiệp tham
gia đi thực tế sản xuất nông nghiệp tại các HTX, nông trường quốc doanh là
một trong những nội dung đào tạo quan trọng của Nhà trường nhằm thực
hiện phương châm đào tạo “Học kết hợp với hành”; thực hiện thực tiễn hóa
tay nghề của các sinh viên nông nghiệp [1].
Từ những năm 1963-1973, Bộ Nông nghiệp tổ chức các “Đoàn chỉ
đạo sản xuất nông nghiệp giúp các tỉnh. Các Đoàn chỉ đạo sản xuất nông
nghiệp là tổ chức nông nghiệp của Chính phủ do Bộ Nông nghiệp tổ chức và
quản lý nhưng hoạt động giúp các địa phương. Hoạt động của Đoàn chỉ đạo
sản xuất nông nghiệp thực chất làm các công việc khuyến nông như giúp
các địa phương thực hiện các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước
về nông nghiệp, đưa các tiến bộ kỹ thuật nông nghiệp vào sản xuất. Phấn đấu
thực hiện mục tiêu 5 tấn thóc/ha [8]. Năm 1966, Thái Bình là tỉnh đầu tiên ở

hiệu quả và (3) có nhiều hộ nông đân cuộc sống vẫn không khỏi đói nghèo
do bởi nguồn lực sản xuất thiếu lao động, thiếu vốn; do gặp rủi ro trong
cuộc sống; do trình độ dân trí thấp sản xuất không có hiệu quả đã dẫn đến


13

nợ sản nhiều vụ, nhiều năm … Chính vì vậy ngày 5/4/1988, Bộ Chính trị
BCH TW Đảng khóa V ra Nghị quyết 10: “Cải tiến quản lý kinh tế trong
nông nghiệp”, còn gọi là “Khoán 10”. Nghi quyết 10 được thực hiện và hoàn
thiện vài năm sau đó đã chuyển đổi hẳn cơ chế quản lý kinh tế trong nông
nghiệp. Ruộng đất giao cho nông dân quản lý lâu dài 20 năm đối với đất nông
nghiệp, 50 năm đối với đất lâm nghiệp [10].
Chuyển đổi từ cơ chế sản xuất tập thể tự cung tự cấp sang sản xuất
kinh tế hộ gia đình và trang trại. Người nông dân chủ động sản xuất kinh
doanh trên mảnh đất của mình theo hướng nông nghiệp hàng hóa có sự điều
tiết của Nhà nước. Nông nghiệp của đất nước có cơ hội ngày càng phát triển
mạnh. Ngay năm 1988, An Giang đã sáng tạo vận dụng cơ chế sản xuất mới
trong điều kiện cụ thể của địa phương, học tập kinh nghiệm của các nước
thành lập Trung tâm Khuyến nông nhằm đáp ứng cho nhu cầu sản xuất nông
nghiệp của nông dân trong tỉnh. Năm 1991, cũng như An Giang, Bắc Thái
thành lập Trung tâm Khuyến nông. Năm 1992, để điều phối và lãnh đạo công
tác khuyến nông của đất nước, Bộ Nông nghiệp thành lập “Ban điều phối
Khuyến nông”. Do nhu cầu của sản xuất, ngày 2/3/1993, Thủ tướng Chính
phủ ra Nghị quyết 13/CP về việc thành lập hệ thống Khuyến nông, Khuyến
lâm, Khuyến ngư của đất nước [1].
1.2.2 Lịch sử ra đời và phát triển từ 1993 trở lại đây
Một loạt chính sách ra đời nhằm thúc đẩy công tác khuyến nông lâm
như Nghi định 13/CP năm 1993 của Chính phủ về việc thành lập hệ thống
Khuyến nông, Khuyến lâm, Khuyến ngư, Thông tư 02/LB-TT cụ thể hóa

Trung ương quy định.
- Tổ chức khuyến nông khác: Tổ chức khuyến nông khác bao gồm các
tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội, tổ chức nghề nghiệp,
tổ chức khoa học, giáo dục đào tạo, hiệp hội, hội nghề nghiệp và các tổ chức,


15

cá nhân trong và ngoài nước có tham gia hoạt động khuyến nông trên lãnh thổ
Việt Nam. Tổ chức khuyến nông khác thực hiện các nội dung hoạt động
khuyến nông theo quy định của Nghị định này và các quy định pháp luật liên
quan. Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức khuyến
nông khác thuộc tổ chức, cá nhân nào do tổ chức, cá nhân đó quy định.
Từ 1989 đến nay dưới sự lãnh đạo sát sao của Đảng, Chính phủ, sự
tăng cường hoạt động của Khuyến nông đã thúc đẩy nền nông nghiệp của
đất nước ngày càng phát triển. Bình quân hàng năm tăng 1 triệu tấn lương
thực và vươn lên từ nước thiếu lương thực đến đủ và thừa lương thực. Nếu
như những năm trước 1980 chúng ta còn thiếu lương thực thì từ năm 1989
chẳng những chúng ta tự tức đủ lương thực mà còn dư thừa bắt đầu xuất
khẩu lương thực từ hơn 1 triệu đến gần 2 triệu tấn lương thực/năm. Nhiều
năm gần đây chúng ta đã là nước đứng vị trí thứ 2 xuất khẩu lương thực
vào thị trường thế giới. Hàng năm xuất khẩu vào thị trường lương thực thế
giới trên dưới 4 triệu tấn/năm, năm 2005 xuất khẩu 5,2 triệu tấn gạo đạt kim
ngạch xuất khẩu 1,4 tỷ USD.
1.2.3. Kết quả hoat động và định hướng khuyến nông nước ta hiện nay
1.2.3.1 Kết quả hoạt động
Hoạt động khuyến nông - khuyến ngư đã bám sát các chương trình phát
triển sản xuất nông nghiệp trọng điểm, chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật
mới, góp phần làm tăng sản lượng nông, lâm, ngư nghiệp trên cả nước.
Nhiều giống cây trồng, vật nuôi, thuỷ sản năng suất, chất lượng cao và

các tổ chức khuyến nông ngoài nhà nước như khuyến nông của các Viện
nghiên cứu, trường đại học, các tổ chức đoàn thể quần chúng, các doanh
nghiệp theo ngành hàng... để thúc đẩy dần quá trình xã hội hoá công tác
khuyến nông.


17

- Nhạy bén trước sự thay đổi về kinh tế xã hội để đáp ứng nhu cầu và
ưu tiên trong sản xuất nông nghiệp của địa phương. Phương pháp tiếp cận và
cơ chế hoạt động khuyến nông đã từng bước thay đổi và dần dần phân cấp về
địa phương để tăng tính trách nhiệm và làm chủ ở địa phương. Hoạt động
cung cấp dịch vụ khuyến nông có thu đã được đề cập đến và nghiên cứu cơ
chế vận hành như một xu thế phát triển tất yếu trong thời gian tới của khuyến
nông.
1.2.3.2 Định hướng thời gian tới
Xây dựng và phát triển hệ thống khuyến nông khuyến ngư Việt Nam
ngày càng năng động, vững mạnh để đáp ứng được nhu cầu sản xuất và phát
triển nông nghiệp, nông thôn, phù hợp với xu thế hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu.
Tăng cường mối liên kết giữa hệ thống khuyến nông khuyến ngư nhà
nước và các tổ chức khuyến nông khuyến ngư ngoài nhà nước nhằm huy động
và sử dụng tổng hợp các nguồn lực đầu tư cho khuyến nông theo phương
châm xã hội hoá, thiết thực và hiệu quả.
Đẩy mạnh hoạt động chuyển giao khoa học công nghệ và các dịch vụ kỹ
thuật khác nhằm tạo sự đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong phát
triển sản xuất nông nghiệp, kinh tế nông thôn và nâng cao đời sống nông dân.
Xây dựng kế hoạch chiến lược và giải pháp cụ thể trong công tác
khuyến nông - khuyến ngư phục vụ đa mục tiêu với các đối tượng hưởng lợi,
các vùng miền khác, đặc biệt đối với chương trình “Nông nghiệp, nông dân,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status