HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
---------
---------
ĐÀO THỊ HỒNG HUỆ
GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC THỦ TỤC HÀNH
CHÍNH
VỀ THUẾ ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
TẠI CỤC THUẾ TỈNH BẮC NINH
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: QUẢN LÝ KINH TẾ
: 60.34.04.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. NGUYỄN PHƯỢNG LÊ
HÀ NỘI, NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn nghiên cứu là của cá nhân dựa trên cơ sở lý
thuyết được học tập và qua tham khảo tình hình thực tiễn tại Cục thuế tỉnh
Bắc Ninh.
Các số liệu, bảng biểu, sơ đồ và những kết quả trong luận văn là trung
thực, các giải pháp đưa ra xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu.
cô giáo và tất cả bạn bè.
Xin chân thành cảm ơn !
Bắc Ninh, ngày
tháng 01 năm 2016
Tác giả luận văn
Đào Thị Hồng Huệ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
1.2.1
Mục tiêu chung
3
1.2.2
Mục tiêu cụ thể
3
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4
1.3.1
Đối tượng nghiên cứu
4
1.3.2
Phạm vi nghiên cứu
4
2.1.3
Đặc điểm của thủ tục hành chính thuế
15
2.1.4
Vai trò của thủ tục hành chính thuế
16
2.1.5
Nội dung hoàn thiện thủ tục hành chính thuế
17
2.1.6
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thiện thủ tục hành chính
23
2.2
Cơ sở thực tiễn của cải cách thủ tục hành chính thuế
25
PHẦN III PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
36
3.1
Đặc điểm địa bàn nghiên cứu
36
3.1.1
Đặc điểm tự nhiên
36
3.1.2
Đặc điểm kinh tế- xã hội
38
3.1.3
Một số thông tin về Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
41
3.1.4
Phương pháp phân tích
50
3.4.1
Phương pháp thống kê mô tả
50
3.4.2
Phương pháp so sánh
50
3.4.3
Phương pháp phỏng vấn sâu
50
3.5
Hệ thống chỉ tiêu ngiên cứu
50
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
66
4.1.5
Thủ tục hoàn thuế
72
4.1.6
Tuyên truyền hỗ trợ thuế
76
4.1.7
Thủ tục thanh tra, kiểm tra thuế
82
4.2
Các yếu tố ảnh hưởng đến hoàn thiện thủ tục hành chính
89
4.2.1
Các yếu tố thuộc về cơ quan thuế
chính thuế
97
4.3.2
Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính thuế
98
4.3.3
Một số giải pháp hoàn thiện thủ tục hành chính về thuế đối với
doanh nghiệp nhỏ và vừa tại cục thuế tỉnh Bắc Ninh
101
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
107
5.1
Kết luận
107
5.2
Kiến nghị
Page v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BTC
Bộ Tài chính
CCTTHC
Cải cách thủ tục hành chính
CQT
Cơ quan thuế
DN
Doanh nghiệp
DNNVV
Doanh nghiệp nhỏ và vừa
DNTN
Doanh nghiệp tư nhân
GDP
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NHTM
Ngân hàng thương mại
QLT
Quản lý thuế
SXKD
Sản xuất kinh doanh
TCT
Tổng cục thuế
TNCN
Thu nhập cá nhân
TNDN
Thu nhập doanh nghiệp
TNHH
37
3.2
Kết quả sản xuất kinh doanh tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2012 – 2014
39
3.3
Tình hình sử dụng đất đai của tỉnh Bắc Ninh qua 3 năm 2012-2014
40
3.4
Số lượng Doanh nghiệp nhỏ và vừa đang hoạt động giai đoạn
2012-2014
3.5
46
Số lượng các DN nhỏ và vừa trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh theo lĩnh
vực kinh doanh qua 3 năm 2012 - 2014
47
3.6
Tình hình nộp hồ sơ khai thuế của DNNVV
62
4.5
Thay đổi về thủ tục kê khai thuế
64
4.6
Đánh giá của DNNVV về thủ tục kê khai thuế
65
4.7
Chi tiết số giờ thực hiện nghĩa vụ thuế qua các năm
69
4.8
Bảng đánh giá của DNNVV về tủ tục nộp thuế
71
4.9
Đánh giá của DNNVV về cải cách thủ tục thanh tra, kiểm tra thuế
89
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vii
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên sơ đồ
Trang
3.1
Mô hình tổ chức Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
42
4.1
Các bước thực hiện Đăng ký thuế
54
4.2
Tỷ lệ hồ sơ khai thuế được kiểm tra tại trụ sở CQT từ năm 2012-2014
84
4.3
Tình hình truy thu thuế và tiền phạt qua kiểm tra tại trụ sở NNT
86
4.4
Tỷ lệ số NNT được kiểm tra tại trụ sở trên tổng số NNT
86
4.5
Tỷ lệ chuyên môn của công chức Cục thuế tỉnh Bắc Ninh
90
4.6
Cơ cấu công chức thực hiện chức năng quản lý thuế
91
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
nhỏ và vừa ở nước ta lại chiếm tỷ lệ 96% trong tổng số doanh nghiệp, thì đây là
chi phí thời gian rất lớn. Trong bối cảnh kinh tế khó khăn, Nhà nước thực hiện
nhiều giải pháp giãn, giảm, miễn thuế nhưng doanh nghiệp còn phải dành nhiều
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
thời gian cho việc kê khai, nộp thuế thì đó vẫn còn là một gánh nặng không
những của doanh nghiệp mà còn cả xã hội (WB, 2012).
Cùng với sự phát triển kinh tế của cả nước và của tỉnh. Ngành thuế Bắc
Ninh những năm qua đã đạt được những kết quả hết sức to lớn trong công cuộc
xây dựng và phát triển kinh tế của tỉnh nhà. Với số thu NSNN năm sau luôn cao
hơn năm trước và năm 2015 này Cục thuế tỉnh Bắc Ninh gia nhập câu lạc bộ
10.000 tỷ đồng. Với số lượng doanh nghiệp ngày một tăng, tập trung chủ yếu vào
các khu công nghiệp, khu đô thị lớn, làng nghề, quy mô sản xuất kinh doanh
ngày càng mở rộng. Trong đó phải nói tới sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ
và vừa (doanh nghiệp ngoài quốc doanh).
DNNVV là loại hình kinh tế khá phong phú, bao gồm mọi loại hình kinh
doanh cá thể, hợp tác xã , công ty TNHH, công ty Cổ phần… hoạt động trên tất
cả các lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ. Với
lĩnh vực tham gia rộng rãi như vậy, DNNVV đã tạo một phần không nhỏ GDP,
thúc đẩy tốc độ tăng trưởng kinh tế thu hút lao động xã hội, tận dụng, khai thác
tiềm năng của tỉnh… Ngoài ra, DNNVV còn có vai trò điều hoà thu nhập cũng
như đóng góp vào ngân sách Nhà nước. Sự phát triển của các DNNVV đã góp
phần to lớn trong việc tăng thu ngân sách Nhà nước.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của khu vực kinh tế này, Cục thuế tỉnh Bắc
Ninh đã hết sức quan tâm, trú trọng đến nguồn thu từ các DNNVV, coi đây là
nguồn thu chủ yếu của Ngân sách tỉnh.
Công tác thu ngân sách muốn đạt hiệu quả phụ thuộc vào hai yếu tố quyết
1.4. Câu hỏi nghiên cứu
- Tình hình thực hiện các thủ tục hành chính về thuế của các DNNVV ở
Cục thuế tỉnh Bắc Ninh đang diễn ra như thế nào?
- Những thuận lợi, khó khăn của DNNVV trong việc chấp hành các thủ
tục hành chính về thuế?
- Những giải pháp nào được đưa ra nhằm hoàn thiện thủ tục hành chính về
thuế đối với DNNVV tại Cục thuế tỉnh Bắc Ninh?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ HOÀN THIỆN THỦ TỤC
HÀNH CHÍNH THUẾ ĐỐI VỚI DNNVV
2.1. Cơ sở lý luận
2.1.1. Một số khái niệm
2.1.1.1 Thuế và Quản lý thuế
a. Khái niệm Thuế:
Cho đến nay trong các sách báo kinh tế trên thế giới vẫn chưa có thống
nhất tuyệt đối về khái niệm thuế. Đứng trên các góc độ khác nhau theo các quan
điểm của các nhà kinh tế khác nhau thì có định nghĩa về thuế khác nhau.
Theo nhà kinh tế học Gaston Jeze trong cuốn “Tài chính công” đưa ra một
định nghĩa tương đối cổ điển về thuế: “Thuế là một khoản trích nộp bằng tiền, có
tính chất xác định, không hoàn trả trực tiếp do các công dân đóng góp cho nhà
nước thông qua con đường quyền lực nhằm bù đắp những chi tiêu của Nhà
Nước” (Gaston Jèze, 1934).
Trên góc độ phân phối thu nhập: “Thuế là hình thức phân phối và phân
phối lại tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân nhằm hình thành các quý
mục đích công cộng.”
b. Quản lý thuế:
Là một lĩnh vực quản lý chuyên ngành thuộc quản lý hành chính Nhà
nước. Vì vậy, để tiếp cận khái niệm quản lý thuế, trước hết, cần tiếp cận khái
niệm quản lý. Theo Từ điển tiếng Việt, quản lý là “Tổ chức và điều khiển các
hoạt động theo những yêu cầu nhất định”. Ngoài ra, có rất nhiều khái niệm về
quản lý khác nhau như: “Quản lý là các hoạt động do một hoặc nhiều người điều
phối hành động của những người khác nhàm thu được kết quả mong muốn”
(Nguyễn Ngọc Hiến, 2003).
Các khái niệm về quản lý đều thống nhất rằng, đã nói đến quản lý là nói
đến hoạt động của con người nhằm thực hiện những mục tiêu đã định thông qua
các hoạt động lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo, phối hợp, kiểm soát và thúc đẩy
hoạt động của những con người trong tổ chức đó. Hay quản lý hành chính là sự
tác động của cơ quan hành chính Nhà nước đối với con người hoặc các mối quan
hệ xã hội để đạt được các mục tiêu của Chính phủ.
Từ những cách hiểu như trên về quản lý hành chính thì Quản lý thuế có
thể được hiểu là sự tác động và điều hành việc đóng thuế của người nộp thuế
thông qua “Một hệ thống những quá trình có quan hệ chặt chẽ với nhau nhằm
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
mục tiêu đảm bảo thu thuế đúng, đủ và công bằng trên cơ sở quy định của pháp
luật thuế, bao gồm các hoạt động thu nhận hồ sơ khai thuế, tính toán số thuế phải
nộp, đôn đốc thu nộp thuế và cung cấp dịch vụ tư vấn cho người nộp thuế”.
Hoạt động tác động nói trên của Nhà nước được hiểu dưới ba góc độ sau:
- Là quá trình vận dụng bản chất, chức năng của thuế để hoạch định chính
sách, bao gồm cả chính sách điều tiết qua thuế và chính sách quản lý;
- Là quá trình xây dựng tổ chức bộ máy ngành Thuế và đào tạo nguồn
phương tiện để đưa pháp luật vào đời sống kinh tế, xã hội. (Chính Phủ, 2010).
Tuy nhiên, hiện nay thủ tục hành chính thuế ở nước ta còn những nhược
điểm: Quá nhiều giấy tờ, nhiều cửa, rườm rà, không phù hợp với yêu cầu của thời
kỳ mở cửa và hội nhập. Sự thiếu thống nhất, thường bị thay đổi một cách tuỳ
tiện, thiếu công khai, minh bạch... Những hạn chế này gây cản trở cho việc thực
hiện quyền tự do, lợi ích và hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp,
gây trở ngại cho việc giao lưu và hợp tác giữa nước ta với nước ngoài, gây ra tệ
cửa quyền, thuận lợi cho nạn tham nhũng, lãng phí phát sinh, hoành hành, gây
phiền hà cho tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp.
Thủ tục hành chính hợp lí sẽ tạo nên sự hài hoà, thống nhất trong bộ máy
nhà nước, rút ngắn thời gian giải quyết công việc, góp phần thúc đẩy xã hội phát
triển. Chính vì vậy, việc cải cách thủ tục hành chính là yêu cầu bức thiết của
nhân dân, doanh nghiệp, của các tổ chức và nhà đầu tư nước ngoài, là khâu đột
phá của tiến trình cải cách hành chính Nhà nước.
b. Cải cách thủ tục hành chính thuế:
- "Cải cách thủ tục hành chính" có thể được hiểu như là một quá trình
thay đổi nhằm nâng cao hiệu lực và hiệu quả hành chính, cải tiến tổ chức, chế độ
và phương pháp hành chính cũ, xây dựng chế độ và phương thức hành chính mới
trong lĩnh vực quản lý của bộ máy hành chính Nhà nước. Cải cách thủ tục hành
chính là điều kiện cần thiết để tăng cường củng cố mối quan hệ giữa Nhà nước và
nhân dân, tăng cường sự tham gia quản lý Nhà nước của nhân dân. Cải cách thủ
tục hành chính được coi là khâu đột phá trong cải cách nền hành chính Nhà nước,
nghĩa là để tạo sự chuyển động của toàn bộ hệ thống nền hành chính quốc gia;
thủ tục hành chính là khâu được chọn đầu tiên, cải cách thủ tục hành chính sẽ
gây ra sự chuyển động của toàn bộ hệ thống khi bị tác động.
Cải cách thủ tục hành chính bao gồm cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ
tục hành chính trong tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là thủ tục hành
chính liên quan tới người dân, doanh nghiệp; cải cách thủ tục hành chính để tiếp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
các loại giấy tờ của từng loại hồ sơ khai thuế, hồ sơ miễn giảm thuế, hoàn
thuế,...để NNT tự xác định được trách nhiệm của mình và tránh sự tùy tiện của
công chức quản lý thuế trong thi hành công vụ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 9
+ Giai đoạn thực hiện đề án 30: Trong chương trình tổng thể cải cách hành
chính nhà nước giai đoạn 2001-2010, nhằm cải cách thủ tục hành chính cho
người dân và doanh nghiệp, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành quyết định số
30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 phê duyệt đề án đơn giải hóa thủ tục hành chính
trên các lĩnh vực quản lý nhà nước giai đoạn 2007-2010 (gọi tắt là Đề án 30) và
Quyết định số 07/QĐ-TTg ngày 04/01/2008 ban hành Kế hoạch thực hiện Đề án
30, đưa ra một hệ thống giải pháp tổng thể, công khai, minh bạch nhằm thống kê,
rà soát, đơn giải hóa thủ tục hành chính. Triển khai thực hiện Đề án 30 theo chỉ
đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong giai đoạn 1, Tổng cục thuế đã thực hiện rà
soát, thống kê các thủ tục hành chính trong các văn bản quy phạm pháp luật về
thuế mà NNT phải thực hiện. Tổng cộng số thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực
thuế, phí, lệ phí gồm 330 thủ tục (thuộc Danh mục đã công bố theo Quyết định
1902/QĐ-BTC ngày 10/8/2009 của Bộ Tài chính). Đây là một sự kiện quan trọng
vì đây là lần đầu tiên, ngành thuế đã tổng hợp, thống kê được một bộ cơ sở dữ
liệu tương đối đầy đủ, hoàn chỉnh về thủ tục hành chính liên quan đến lĩnh vực
thuế để công bố công khai phục vụ người dân và doanh nghiệp. Bộ thủ tục hành
chính này đã tuyên truyền trên các phương tiện truyền thông ở địa phương và
công khai trên trang thông tin điện tử của ngành thuế cũng như tại trụ sở của cơ
quan thuế các cấp, giúp cho người dân và doanh nghiệp có thể dễ dàng tiếp cận
cũng như giám sát được quá trình thực thi công vụ của cán bộ thuế.
+ Giai đoạn triển khai thực hiện Đề án 30c đến nay: Tiếp tục đẩy mạnh
hơn công cuộc cải cách hành chính nhà nước, ngày 08/11/2011 Thủ tướng Chính
doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: “Doanh nghiệp vừa và nhỏ là
cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật hiện
hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình hành
năm không qua 30 người”.
Như vậy, tất cả các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế có đăng ký
kinh doanh và thoả mãn một trong hai điều kiện trên đều được coi là doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Theo cách phân loại này ở Việt Nam có khoảng 93% trong
tổng số doanh nghiệp hiện có là doanh nghiệp vừa và nhỏ, cụ thể là 80% các
doanh nghiệp nhà nước thuộc nhóm doanh nghiệp vừa và nhỏ, trong khu vực
kinh tế tư nhân doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm tỷ trọng 97% xét về vốn và
99% xét về lao động so với tổng số doanh nghiệp của cả nước. Do vậy có thể
nói rằng hầu hết các doanh nghiệp ngoài quốc doanh tại Việt Nam là doanh
nghiệp vừa và nhỏ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Nhìn chung các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị hạn chế bởi nguồn vốn, tài
nguyên, đất đai và công nghệ. Sự hữu hạn về nguồn lực này là do tôn chỉ và
nguồn gốc hình thành doanh nghiệp. Mặt khác còn do sự hạn hẹp trong các quan
hệ với thị trường tài chính – tiền tệ, quá trình tự tích luỹ thường đóng vai trò
quyết định của từng doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Nhận thức về vấn đề này các quốc gia đang tích cực hỗ trợ các doanh
nghiệp vừa và nhỏ để họ có thể tham gia tốt hơn trong các tổ chức hỗ trợ để khắc
phục sự hạn hẹp này.
Theo quy định hiện nay thì: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh
doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp:
siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương
tổng tài sản được xác định trong cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao
động
I. Nông, lâm
10 người
20 tỷ đồng từ trên 10
nghiệp và thủy sản
trở xuống
trở xuống
người đến
từ trên 20
từ trên 200
tỷ đồng đến người đến
200 người 100 tỷ đồng 300 người
II. Công nghiệp và
10 người
20 tỷ đồng từ trên 10
tỷ đồng đến người đến
50 người
50 tỷ đồng
100 người
(Nguồn: Nghị định 56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa)
b. Đặc điểm của DNNVV
Kinh tế tư nhân tuy rộng lớn nhưng về cơ bản là kinh tế hộ quy mô nhỏ và
đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn
nữa tốc độ đổi mới lại quá chậm. Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên
cứu trong doanh nghiệp, nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất – kinh doanh.
Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế: tuy Việt Nam
có lực lượng lao động dồi dào, trình độ học vấn tương đối cao so với các nước có
cùng trình độ phát triển, nhưng chủ yếu là lao động làm việc giản đơn, tỷ lệ lao động
đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng suất lao động không cao...
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ thấp:
- Yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàm lượng tri thức và công
nghệ trong sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị gia tăng trong tổng
giá trị sản phẩm nói chung thấp;
và các doanh nghiệp Quốc Doanh.
DNNVV được coi là nhân tố xúc tác quan trọng cho sự phát triển kinh tế
nói chung và sự phát triển, tồn tại của các doanh nghiệp Quốc Doanh nói riêng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường như hiện nay các DNNVV vàc các doanh
nghiệp Quốc Doanh thực sự là đối thủ của nhau, cạnh tranh gay gắt với nhau để
cùng tồn tại dẫu biết rằng giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau.
- Các DNNVV còn có vai trò ổn định nền kinh tế, tạo thêm công ăn việc
làm cho người lao động, góp phần thúc đẩy sự nghiệp Công nghiệp hoá - Hiện
đại hoá đất nước, thực hiện mục tiêu: "Dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng
dân chủ văn minh" (Nguyễn Đình Hương, 2002).
Tóm lại: các DNNVV có vai trò vô cùng quan trọng trong nền kinh tế,
điều này đã trả lời cho câu hỏi vì sao Nhà nước lại ưu đãi các doanh nghiệp này
như vậy. Tuy nhiên các DNNVV là những doanh nghiệp nhỏ lẻ, hoạt động trên
địa bàn rộng, ý thức chấp hành pháp luật rất thấp nên việc quản lý các DNNVV
sẽ rất khó, nếu không quản lý tốt rất dễ dẫn tới thất thu thuế.
2.1.2. Bản chất của thủ tục hành chính thuế
Bản chất của thủ tục hành chính thuế là thuộc tính của hoạt động quản lý
nhà nước trong lĩnh vực kinh tế; là phương thức phục vụ của công quyền. Hình
thức của nó chính là quan hệ có tính trật tự công vụ, của mối quan hệ do con
người nhận thức và thiết lập (con người ở đây là những người thực thi công vụ,
từ người có nhiệm vụ đặt ra thủ tục, người vận hành nó và người kiểm tra nó).
Mối quan hệ diễn ra thủ tục giữa công quyền với người nộp thuế, giữa công
quyền với nhau (nội bộ cơ quan thuế hoặc giữa các cơ quan liên quan), giữa
những người nộp thuế với nhau trong giao dịch dân sự.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 14
Thủ tục hành chính thuế được xây dựng theo hướng phục vụ và tạo sự
Page 15