nghiên cứu ảnh hưởng của chăm sóc cận thu hoạch tới thời điểm thu hái và chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

VŨ TIẾN THỊNH

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA CHĂM SÓC CẬN THU HOẠCH
TỚI THỜI ĐIỂM THU HÁI VÀ CHẤT LƯỢNG QUẢ VẢI
THIỀU TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

HÀ NỘI - 2015


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------

-------

VŨ TIẾN THỊNH



Page ii


LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài tốt nghiệp này, ngoài sự cố gắng của bản thân, tôi đã nhận
được rất nhiều sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của thầy cô, bạn bè và người thân.
Trước tiên, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS. Nguyễn Văn
Dũng - Viện nghiên cứu rau quả, TS. Nguyễn Hoàng Anh – Khoa Công nghệ thực
phẩm, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Ths. Nguyễn Thùy Linh - Bộ môn Bảo
quản chế biến, Viện Nghiên cứu rau qủa đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong
quá trình thực hiện đề tài và hoàn thành bản luận văn này.
Tôi xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các thầy cô giáo trong Khoa Công
nghệ thực phẩm, Học viên nông nghiệp Việt Nam.
Tôi cũng xin được chân thành cảm ơn các cán bộ Bộ môn bảo quản chế biến,
Viện Nghiên cứu rau qủa đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho
tôi trong thời gian thực hiện đề tài.
Bên cạnh đó tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới tất cả người thân, bạn bè
và đồng nghiệp, những người luôn bên cạnh động viên giúp đỡ tôi trong quá trình
học tập và thực hiện bản luận văn này.
Hà Nội, ngày 11 tháng 11 năm 2015
Tác giả

Vũ Tiến Thịnh

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii



1.2.3

Quá trình đậu quả ............................................................................... 9

1.2.4

Các giai đoạn phát triển của quả ......................................................... 9

1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải ............................................................. 11
1.3.1

Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải trên thế giới ................................. 11

1.3.2

Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại Việt Nam ................................ 12

1.4 Tình hình nghiên cứu sử dụng phân bón lá và chất điều hòa
sinh trưởng AVG trong giai đoạn cận thu hoạch .................................. 15
1.4.1

Các nghiên cứu về phân bón lá ......................................................... 15

1.4.2

Chất điều hòa sinh trưởng AVG ....................................................... 19

Chương 2 VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........... 26
2.1 Đối tượng nghiên cứu ............................................................................... 26
2.2 Địa điểm và thời gian nghiên cứu ............................................................ 26


Phương pháp xử lý số liệu ................................................................ 35

Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN...................................... 36
3.1 Nghiên

cứu

ảnh

hưởng

của

xử



cận

thu

hoạch

đến

thời điểm thu hái của quả vải thiều ....................................................... 36
3.1.1

Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến một số chỉ tiêu vật lý

KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ................................................................................... 54
1

Kết luận .................................................................................................... 54

2

Đề nghị ..................................................................................................... 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 55
PHỤ LỤC.............................................................................................................. 58

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC BẢNG
Số bảng

Tên bảng

Trang

Bảng 1.2

Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả vải 6 tháng đầu năm 2007 ....... 12

Bảng 3.1



Bảng 3.8

Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng vitamin C
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (mg%) .............................. 42

Bảng 3.9

Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng chất khô hòa
tan tổng số của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (0Bx) ............... 43

Bảng 3.10 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng đường tổng số
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) ................................... 44
Bảng 3.11 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng axit tổng số
của quả vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) ................................... 45
Bảng 3.12 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến hàm lượng nước của quả
vải thiều tại các thời điểm thu hái (%) ................................................ 45
Bảng 3.13 Chất lượng cảm quan của quả vải thiều trong quá trình bảo quản ....... 47
Bảng 3.14 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến màu sắc của quả vải
trong quá trình bảo quản (∆Eab ) ......................................................... 48

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


Bảng 3.15 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến độ cứng của quả vải
trong quá trình bảo quản ( mm ) ......................................................... 49
Bảng 3.16 Ảnh hưởng của xử lý cận thu hoạch đến cường độ hô hấp của quả
vải trong quá trình bảo quản (mg CO2/kg.h) ....................................... 49


:

Công thức

TN

:

Thí nghiệm

ĐC

:

Đối chứng

VTM C

:

Vitamin C

HHKL

:

Hao hụt khối lượng

CĐHH


:

Enzyme Peroxidase

CS

:

Cộng sự

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Quả vải là một trong những loại quả đặc sản có hương vị thơm ngon, giàu
giá trị dinh dưỡng rất được ưa chuộng tại Việt Nam và nhiều nước trên thế giới. Nổi
tiếng về chất lượng và được trồng với diện tích, sản lượng lớn nhất phải kể đến
vùng sản xuất vải thiều tại huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
Quả vải thiều có vỏ mỏng, hạt dài, nhỏ, cùi dày chiếm tỉ lệ 70 ÷ 80% so
với trọng lượng quả. Hàm lượng chất khô hòa tan đạt 18÷ 200Bx, hàm lượng
nước 82%, chất xơ 1,5%, đường 17 - 18%, vitamin C 39mg%, ngoài ra còn
chứa một số loại vitamin nhóm B và các chất khoáng vi lượng rất cần thiết cho
sức khỏe con người.
Với diện tích trồng và năng suất ngày càng tăng, cây vải đã trở thành một
trong những loại cây ăn quả chủ lực trong cơ cấu phát triển nền Nông nghiệp nước
nhà. Tuy nhiên quả vải có nhược điểm là thời gian thu hoạch ngắn lại không bảo

trách nhiệm chuyển hóa cơ chất SAM thành ACC (chất tiền etylen). Hàm lượng
ACC tạo thành thấp sẽ dẫn đến cường độ sản sinh etylen thấp. Vì vậy, làm chậm
quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản quả sau thu hoạch.
Trên thế giới, có rất nhiều công trình nghiên cứu và ứng dụng AVG của các
tác giả Jobling và cs (2003), Drake và cs (2005), Leja và cs (2002) trên các loại quả
táo, mận, lê, đào... Các nghiên cứu chỉ ra rằng phun AVG ở giai đoạn cận thu hoạch
đã có tác dụng đáng kể trong việc tăng năng suất, duy trì độ cứng, cải thiện màu sắc,
làm chậm quá trình chín và kéo dài thời gian bảo quản đáng kể so với mẫu không
xử lý.
Ở Việt Nam, các nghiên cứu ứng dụng AVG trong giai đoạn cận và sau thu
hoạch còn khá mới mẻ. Một số nghiên cứu của tác giả Chu Doãn Thành và cs
(2007) trên quả mận Tam Hoa, tác giả Nguyễn Ngữ và cs (2010) trên quả vú sữa,
tác giả Nguyễn Tuấn Minh và cs (2008) trên trên quả vải chín sớm Bình Khê … cho
thấy, khi xử lý AVG vào giai đoạn trước thu hoạch 2 - 3 tuần giúp tăng khối lượng,
độ cứng của quả và kéo dài thời gian thu hái.
Chính vì vậy, cùng với việc chọn tạo giống các giống vải ưu tú có khả năng
cho hiệu quả kinh tế cao thì việc nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật trong đó có việc
sử dụng chất điều hòa sinh trưởng nhằm nâng cao khả năng ra hoa, đậu quả, tăng
năng suất cũng như chất lượng đồng thời kéo dài thời gian thu hái nâng cao hiệu
quả kinh tế là hết sức cần thiết. Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi tiến hành
thực hiện đề tài:

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 2


“Nghiên cứu ảnh hưởng của chăm sóc cận thu hoạch tới thời điểm thu
hái và chất lượng quả vải thiều trong quá trình bảo quản”.
2. Mục đích, yêu cầu

lượng nước 82%, chất xơ 1,5%, đường 17 - 18%, vitamin C 39mg%, ngoài ra còn
chứa một số loại vitanin nhóm B và các chất khoáng vi lượng rất cần thiết cho sức
khỏe con người Nguyễn Thị Xuân Hiền, Ngô Hồng Bình và cs (2002).
Ở Việt Nam, vải là một trong những loại cây trồng đặc sản, được trồng ở hầu
khắp các tỉnh thành phía bắc nước ta và đã trở thành cây ăn quả chủ lực. Theo Cục
trồng trọt, Bộ NN&PTNT năm 2008 diện tích trồng vải là 86,9 ngàn ha, chiếm 26%
tổng diện tích cây ăn quả toàn vùng. Các tỉnh có diện tích trồng và thu hoạch quả
với sản lượng lớn là: Bắc Giang (Lục Ngạn), Hải Dương (Thanh Hà), Vĩnh Phú
(Thanh Hoà), Quảng Ninh (Đông Triều), Hà Tây (Quốc Oai, Chương Mỹ), Bắc
Thái (Đồng Hỷ, Phú Lương), Lạng Sơn (Đình Lập, Hữu Lũng), Ban Mê Thuột,
Huế.... Trong đó Lục Ngạn (Bắc Giang) và Thanh Hà (Hải Dương) là hai vùng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


trồng vải thiều nổi tiếng có diện tích và sản lượng hàng năm lớn nhất cả nước (diện
tích trồng vải của hai tỉnh chiếm trên 70% diện tích trồng vải cả nước). Quả vải
thiều ở đây có chất lượng rất thơm ngon, tạo được thương hiệu nổi tiếng khắp trong
và ngoài nước.
Cây vải có nguồn gốc ở giữa miền Nam Trung Quốc, miền Bắc Việt Nam và
bán đảo Malaysia và được trồng trọt cách đây trên 3.000 năm. Hiện tại, ở Trung
Quốc vẫn còn những cây vải tổ ở huyện Bồ Điền (Phúc Kiến), có tuổi cây trên
1.000 năm (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần ,1998).
Thực tế, nhiều tài liệu Trung Quốc cho biết, nhiều nơi cây vải mọc dại như:
núi Tạ Hoài Sơn, huyện Liên Giang, tỉnh Quảng Đông; Thạch Phượng Sơn, huyện
Bác Bạch, tỉnh Vân Nam, núi Lôi Hồ Lĩnh, Bá Vương Lĩnh... Tại núi Kim Cổ Lĩnh
(đảo Hải Nam), vải dại mọc thành rừng. Ngoài ra, ở Dương Xuân, Hoá Châu, Liêm
Giang và trên sáu vạn núi ở vùng giáp gianh huyện Bác Bạch và huyện Hồ Bắc của

Myanmar, Lào, Campuchia, Malaysia, Philippin, Indonexia, Srilanca, Bănglades,
Nhật Bản và Ixrael.
Ở Châu Phi vải có ở Nam Phi, Morithiuyt, Madagasca, Ga Bông, Công Gô
và Rêuyniông.
Ở Châu Mỹ có Hoa Kỳ, Hundurat, Panama, Cu Ba, Tirinidat, Pooctoricô và
Braxin. Châu Đại Dương có Australia và Newzeland.
Đến nay, ở Việt Nam đã hình thành một số vùng trồng vải mang tính sản xuất
hàng hoá như: Thanh Hà (Hải Dương), Đông Triều (Quảng Ninh), Lục Ngạn (Bắc
Giang), Đồng Hỷ (Thái Nguyên)... Một số vùng thuộc các tỉnh miền Trung như Đăk
Nông, Đăk Mil, Đăk RLâp (Đăk Lak); Đà Lạt (Lâm Đồng) cũng trồng được vải .
1.1.2.Phân loại giống và giống vải
Theo Võ Văn Chi, Dương Đức Tiến (1987), Menzel (2002), Hoàng Thị Sản,
2003, cây vải có tên khoa học là Litchi chinensis Sonn thuộc họ Bồ hòn
(Sapindaceae), bộ Bồ hòn (Sapindales), phân lớp hoa hồng (Rosidae). Họ Bồ hòn
có 150 chi với trên 2.000 loài được phân bố ở vùng nhiệt đới và Á nhiệt đới, tập
trung chủ yếu ở Châu Á và Châu Mỹ. Ở Việt Nam, họ Bồ hòn có 25 chi và trên 70
loài, phân bố trên khắp các miền của đất nước.
Về đặc điểm phân loại, cây vải là cây gỗ nhỡ, xanh tốt quanh năm, lá kép
lông chim, hoa nhỏ không có cánh hoa, bầu có 2 ngăn. Trên cùng chùm hoa có 3
loại hoa: Hoa đực, hoa cái, hoa lưỡng tính, và một số ít hoa dị hình.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


1.1.3.Các giống vải chủ yếu trên thế giới và trong nước
Hiện tại, Trung Quốc có số lượng giống vải nhiều nhất thế giới. Tuy nhiên,
chỉ có khoảng 15 giống trong số hơn 100 giống vải ở Trung Quốc có khả năng sản
xuất thương mại như: Wai chee, Baila, Baitangying, Heiye, Feizixiao, Huaizhi... đặc

1.2.1. Sự phân hóa mầm hoa
Phân hóa mầm hoa là quá trình chuyển hóa từ trạng thái sinh lý và tổ chức
của mầm lá sang trạng thái sinh lý và tổ chức của mầm hoa. Cành mẹ của cây vải
thành thục về sinh trưởng sớm hay muộn ảnh hưởng trực tiếp đến thời gian phân
hóa mầm hoa. Trên cùng một cây, thông thường cành thành thục sớm sẽ phân hóa
mầm hoa sớm hơn cành thành thục muộn (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần,
1998), Trần Thế Tục (1997).
Theo Vũ Công Hậu (1982, 1999), Phạm Văn Côn (1992), Trần Thế Tục
(1994, 1997) điều kiện cho vải phân hóa mầm hoa được thuận lợi là cần có nhiệt độ
thấp trong một khoảng thời gian nhất định, song phản ứng với nhiệt độ thấp ở các
giống khác nhau, các giống vải chín sớm có thể có thể hình thành mầm hoa ở nhiệt
độ cao hơn so với các giống vải chính vụ và chín muộn.
Theo Lương Vũ Nguyên (1986), hàm lượng IAA trên đỉnh cành non rất cao,
khi lá chuyển màu xanh, mầm ngưng sinh trưởng tương đối thì hàm lượng IAA
giảm thấp, về sau mới bắt đầu phân hóa mầm hoa. Trong quá trình phân hóa mầm
hoa, đối với cây năm sai quả (hình thành hoa nhiều), hàm lượng IAA và gibberellin
ở đầu ngọn cành hơi thấp. Điều này chứng tỏ hàm lượng các chất này thấp có lợi
cho sự phân hóa mầm hoa (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998).
1.2.2. Sự phát triển của chùm hoa và nở hoa của vải.
Tốc độ phát triển của chùm hoa phụ thuộc vào giống và vùng trồng. Các
giống chín sớm thường xuất hiện hoa vào tháng 12, ra hoa tháng 1 và nở hoa tháng
2. Các giống chín chính vụ và chín muộn thì ra hoa cuối tháng 1, đầu tháng 2 và nở
hoa tháng 3 (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998).
Cây vải nở hoa theo thứ tự từ dưới lên trên, những hoa ở các nhánh giữa nở
trước, sau đến các nhánh ở trên đỉnh và ở gốc. Trên một chùm hoa thì thời gian hoa
đực và hoa cái nở rộ cũng không trùng nhau, thường thì hoa đực nở trước, rồi mới
đến hoa cái, rồi lại đến hoa đưc.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


+ Giai đoạn cùi tăng trưởng nhanh và quả chín (khoảng 20 ngày): Sau khi

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


bao kín hạt, cùi dày lên nhanh chóng và tăng khối lượng. Do cùi bị ép chặt trong lớp
vỏ nên cùi bị gấp nếp. Tiếp theo là sự chuyển hoá chất hữu cơ, chất đặc dễ hoà tan
ngày càng tăng nhanh, hàm lượng nước tăng lên, vỏ quả quanh cuống bắt đầu
chuyển sang màu hồng, vỏ phẳng hơn, cùi đầy đặn và chín. Trong thực tế sản xuất
thường gặp những giống kết quả đơn tính (quả không hạt) như giống Giả Quái Lục,
Hoà Hà Xuyên, Giả Hương Lệ, những giống có quá trình phát triển của phôi thuộc
loại không hoàn thiện như giống Lam Trúc (Trung Quốc). Khi hoa nở 30 - 35 ngày,
phôi phát triển bình thường, nhưng sau đó một bộ phận phôi tiếp tục phát triển hình
thành hạt to, bộ phận còn lại phôi ngừng phát triển, nếu ngừng sớm thì hạt lép,
ngừng muộn hơn thì tạo hạt to nhỏ khác nhau. Thực chất sự phát triển của hạt bao
gồm quá trình sinh trưởng của phôi và quá trình sinh trưởng của nội nhũ. Hiện
tượng hạt lép xảy ra là do: Phôi chết làm nội nhũ ngừng phát triển hoặc phôi sống
nhưng nội nhũ bị ức chế không hình thành. Kích thước hạt là một trong những tiêu
chuẩn đánh giá tốt xấu của quả vải, vì vậy nếu đảm bảo năng suất và chất lượng thì
việc ứng dụng các chất ức chế sự phát triển của phôi hạt là điều hoàn toàn có ý
nghĩa (Nghê Diệu Nguyên và Ngô Tố Phần, 1998).
Hiện tượng rụng quả vải diễn ra liên tục từ khi đậu quả non đến trước thu
hoạch và được chia làm 3 thời kỳ:
Thời kỳ rụng quả non: Khi quả bằng hạt đậu xanh, quả non rụng hàng loạt
(rụng quả sinh lý đợt 1). Nguyên nhân chủ yếu của đợt rụng quả này là do thụ phấn,
thụ tinh không hoàn toàn hoặc do thiếu dinh dưỡng hay nhiệt độ không thích hợp
làm phôi teo quắt hoặc ngừng phát triển. Đợt rụng quả này thường chiếm 30 - 35%
tổng lượng quả rụng cả năm.

một số nước Châu Á như: Trung Quốc, Philippin, Nhật và Singapore.
Thị trường Hồng Kông ngoài việc nhập khẩu vải tiêu thụ tại chỗ còn là nơi
tái xuất vải lớn nhất sang các thị trường khác nhau trên thế giới như: Vùng Viễn
Đông (Nga) và một số nước Trung Cận Đông, EU...Chính vì vậy sự cạnh tranh trên
thị trường này khá gay gắt. Đầu những năm 80 vải Quảng Đông gần như độc chiếm
thị trường này. Những năm gần đây vải ở những vùng khác tham gia vào thị trường
này như Đài Loan, Thái Lan, Việt Nam.
Ở Australia cũng là một nước trồng nhiều vải, sản lượng vải năm 1990 vào
khoảng 15000 tấn quả, đáng chú ý nhất là nước này rất chú trọng công tác cải tạo
giống, chăm sóc cũng như bảo quản và chế biến quả sau thu hoạch.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


1.3.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ vải tại Việt Nam
Năm 2007, diện tích trồng vải của cả nước đạt 88.900 ha với năng suất
bình quân đạt hơn 5,5 tấn/ha và đạt sản lượng cao nhất với 428.900 tấn. Một số
tỉnh có diện tích trồng vải lớn như: Quảng Ninh (diện tích 5.174 ha; sản lượng
17.349 tấn), Thái Nguyên (diện tích 6.861ha; sản lượng 8.787 tấn), Lạng Sơn
(diện tích 7.473 ha; sản lượng 12.684 tấn), Hải Dương (diện tích 14.219 ha; sản
lượng 47.632 tấn). Tỉnh có diện tích và sản lượng lớn nhất là Bắc Giang:
39.835 ha (chiếm 40,42% tổng diện tích vải), sản lượng đạt 228.558 tấn (chiếm
51,36% sản lượng vải của cả nước).
Khoảng 75% sản lượng vải được tiêu thụ ngay trong thị trường nội địa, phần
còn lại được sơ chế, xuất khẩu tươi và chế biến. Thị trường xuất khẩu vải của Việt
Nam chủ yếu là Trung Quốc, Hồng Kông, Hàn Quốc, Nhật Bản... và một số nước
khác trong khu vực và thị trường Châu Âu. Lượng xuất khẩu các mặt hàng từ quả
vải 6 tháng đầu năm 2007 được trình bày ở Bảng 1.2.


14.700

125,84

116.225

Hà Lan

46,00

51.750

Hàn Quốc

22,00

22.810

211,19

239.495

Pháp
3

4

Vải đông lạnh


còn 62 ngàn ha. Tỉnh Bắc Giang là tỉnh có diện tích trồng vải lớn nhất cả nước với
hơn 39 ngàn ha, chiếm hown 44% diện tích vải cả nước, với sản lượng vảo thiều lớn
nhất, chiếm hơn 50% sản lượng vải thiều cả nước năm 2008 thì đến năm 2010 tổng
diện tích vải thiều của Bắc Giang là 36.900 ha, giảm 181 ha so cới năm 2009. Không
chỉ riêng tỉnh Bắc Giang mà các huyện thuộc tỉnh Hải Dương, diện tích trồng vải
cũng đang giảm mạnh xuống, trung bình mỗi năm diện tích vải giảm từ 100 - 150 ha.
Diện tích trồng vải của cả nước có xu hướng giảm kéo theo đó là sự sụt giảm
về sản lượng. Cụ thể năm 2009, vải thiều ở huyện Lục Ngạn - tỉnh Bắc Giang không
những bị thu hẹp về diện tích mà sản lượng cũng giảm khoảng 50% so với cùng kỳ
năm trước (đạt khoảng 25.000 tấn quả tươi). Năm 2010, sản lượng vải thiều của tỉnh
Bắc Giang đạt 126.100 tấn quả tươi, xấp xỉ sản lượng thu hoạch của năm 2009 ( sản
lượng năm 2009 là 127.796 tấn). Trong đó vải sớm chiếm khoảng 20%, vải muộn là
80%. Huyện Lục Ngạn là huyện có vải thiều lớn nhất tỉnh, ước đạt 60 nghìn tấn,
chiếm gần 50% sản lượng vải thiều toàn tỉnh. Theo số liệu của Tổng cục thống kê,

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


năm 2011, diện tích trồng vải tại Bắc Giang đạt hơn 35 nghìn ha, sản lượng toàn
tỉnh đạt hơn 218 nghìn tấn, cao gần gấp đôi so với năm 2010 tập trung tại các huyện
Tân Yên, Lục Ngạn, Lục Nam. Riêng huyện Lục Ngạn sản lượng đạt khoảng 120
nghìn tấn. Sang đến năm 2012, diện tích vải huyện Lục Ngạn đạt gần 84.000 tấn,
giảm đi rất nhiều so với năm 2011.Sang đến năm 2013, toàn tỉnh Bắc Giang với
tổng diện tích trên 32.000 ha (giảm 1.000 ha so với năm 2012), sản lượng toàn tỉnh
đạt trên 140.000 tấn quả tươi. Cụ thể: huyện Lục Ngạn đạt 72.000 tấn, Lục Nam
25.000 tấn, Tân Yên 8.000 tấn, Lạng Giang 7.500 tấn, Yên Thế 15.000 tấn, Sơn
Động 4.000 tấn.Trong đó, vải sớm 21.000 tấn (chiếm 16%), vải muộn khoảng
110.000 tấn (chiếm 84%).

này có tác dụng bổ sung nhanh chóng một vài yếu tố cần thiết cho cây nhằm hạn
chế kịp thời tác động xấu do thiếu chúng gây ra.
Phân bón lá thường gồm 3 thành phần chính: các nguyên tố đa lượng, trung
lượng và vi lượng, ngoài ra còn có một số chất kích thích sinh trưởng. Vai trò của
phân bón lá đối với cây trồng là tác động tổng hợp của từng nhóm các nguyên tố
đa lượng, trung lượng và vi lượng, chúng có vai trò rất quan trọng trong đời sống
cây trồng .
- Nitơ: Rất cần cho cây ở các giai đoạn sinh trưởng, có tác dụng nâng cao
năng suất, phẩm chất quả. Nitơ thúc đẩy quá trình sinh trưởng dinh dưỡng, bón Nitơ
hợp lý sẽ tạo cho cây phát triển khoẻ mạnh, nâng cao hiệu suất quang hợp, tích luỹ
được nhiều chất dinh dưỡng, thuận lợi cho quá trình phân hoá hoa, tăng năng suất.
Bón thừa Nitơ làm cho cành lá phát triển quá mạnh, khó phân hoá mầm hoa, rụng
hoa, rụng quả làm giảm sản lượng và phẩm chất quả kém, sức chống chịu sâu bệnh
giảm. Thiếu Nitơ, cây có màu vàng nhạt, sinh trưởng kém, lộc mọc yếu, cành lá bé,
lá rụng sớm, hoa và quả rụng nhiều, năng suất thấp, tuổi thọ của cây ngắn.
- Phốt pho: Giúp cho sự phát triển của rễ, tăng cường khả năng chống hạn,
chống rét cho cây, thúc đẩy quá trình phân hoá mầm hoa, sự phát dục của quả, sự
thành thục của hạt, nâng cao phẩm chất quả. Thiếu lân cây vải có lá to hơn và có
màu xanh tối, nếu thiếu nghiêm trọng lá nhọn ra, chóp lá có màu nâu sẫm, có đốm
khô và sau loang ra gân chính.
- Kali: Giúp cho cấu tạo mô cây thêm cứng cáp, việc vận chuyển các sản
phẩm quang hợp đến các tổ chức của cây được thuận lợi. Kali làm tăng sức đề
kháng của cây như: chịu hạn, chịu lạnh, chịu nóng, tăng khả năng chống chịu sâu

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 15


bệnh... Kali thúc đẩy chuyển hoá và vận chuyển đường giúp cho quả lớn nhanh,


Page 16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status