HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ QUANG HUY
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
TẠI THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI – 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-------
-------
VŨ QUANG HUY
ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC DỒN ĐIỀN ĐỔI THỬA
TẠI THÀNH PHỐ PHỦ LÝ, TỈNH HÀ NAM
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ ĐẤT ĐAI
MÃ SỐ
: 60.85.01.03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS.TS. NGUYỄN ÍCH TÂN
nông thôn Thành Phố Phủ Lý, Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hà
Nam, các phòng ban và nhân dân các xã phường của thành Phố Phủ Lý, các đồng
nghiệp, gia đình và người thân đã động viên, tạo mọi điều kiện về vật chất, tinh thần
để tôi hoàn thiện Luận Văn. Với tấm lòng biết ơn tôi xin trân thành cảm ơn mọi sự
giúp đỡ quý báu đó.
Tác giả luận văn
Vũ Quang Huy
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
vi
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1
4
Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam qua các
thời kỳ
4
1.1.1 Giai đoạn 1945-1981
4
1.1.2 Giai đoạn 1981-1988
5
1.1.3 Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới.
6
1.2
Tổng quan về dồn điền đổi thửa
7
1.2.1 Vấn đề manh mún đất đai
26
1.4
Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
26
Page iii
1.4.1 Nhóm các yếu tố về điều kiện tự nhiên
27
1.4.2 Nhóm các yếu tố Kinh tế - Xã hội
28
1.4.3 Yếu tố về tổ chức cơ sở hạ tầng, kỹ thuật, tổ chức
30
1.5
Những nghiên cứu nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp sau
dồn điền đổi thửa tại Việt Nam
2.2.4 Hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa
36
2.2.5 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điền đổi thửa.
36
2.3
Phương pháp nghiên cứu
36
2.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
36
2.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
37
2.3.3.Phương pháp điều tra nông hộ:
37
2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu, dữ liệu
37
59
3.2.1 Cơ sở pháp lý của việc dồn điền đổi thửa.
59
3.2.2 Tổ chức thực hiện công tác dồn điền đổi thửa
62
3.2.3 Đánh giá kết quả thực hiện công tác dồn điền đổi thửa đất nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page iv
nghiệp tại thành phố Phủ Lý
3.3
65
Đánh giá ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa
79
3.3.1 Ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa tới công tác quản lý Nhà
nước về đất đai
79
3.4.3 Hiệu quả về môi trường
96
3.4.4 Những tồn tại trong công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn Thành
phố Phủ Lý
3.5
101
Đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả công tác dồn điển đổi
thửa trên địa bàn Thành phố Phủ Lý
102
3.5.1 Nhóm giải pháp về tăng cường công tác quản lý và sử dụng đất đai
103
3.5.2 Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
sau dồn điền đổi thửa
104
3.5.3 Nhóm giải pháp về tuyên truyền phổ biến ý nghĩa thực tiễn của công
tác đồn điền đổi thửa đất nông nghiệp đến người nông dân
104
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Chuyển đổi
CHN
Cây hàng năm
CLN
Cây lâu năm
DĐĐT
Dồn điền đổi thửa
DT
Diện tích
ĐBSH
Đồng bằng sông Hồng
GO
Giá trị sản xuất
HTX
Hợp tác xã
Tiến bộ kỹ thuật
TCTK
Tổng cục thống kê
UBND
Uỷ ban nhân dân
VA
Giá trị gia tăng
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
16
1.6
Tình hình chuyển đổi ruộng đất ở một số địa phương
20
3.1
Chất lượng nước sông, hồ trong những năm gần đây
44
3.2
Kết quả thâm canh một số cây trồng chính của thành phố Phủ Lý
48
3.3
Phát triển chăn nuôi của thành phố Phủ Lý
48
3.4
Dân số trung bình thành phố Phủ Lý giai đoạn 2010 - 2014
3.9
Thực trạng đất đai tại các xã nghiên cứu
70
3.10
Thực trạng ruộng đất tại các xã nghiên cứu trước khi thực hiện dồn
điền đổi thửa
71
3.11
So sánh, phân tích kết quả trước và sau dồn điền đổi tại các xã nghiên cứu
73
3.12
Một số kết quả chính sau dồn điền đổi thửa ở các xã nghiên cứu
75
3.13
Quan điểm của hộ nông dân đối với công tác dồn điền đổi thửa
77
điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu đại diện
3.18
84
Tổng hợp tình hình thực hiện chuyển đổi mô hình canh tác sau dồn
điền đổi thửa tại các xã nghiên cứu đại diện
3.19
86
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất một số cây trồng chính của 4 xã nghiên
cứu (Theo giá hiện hành)
3.20
87
Mức độ đầu tư, chi phí của các hộ trên 1 ha lúa trước và sau dồn điền
đổi thửa
3.21
88
Hiệu quả kinh tế sử dụng đất nông nghiệp trên một héc ta đất nông
nghiệp tại 4 xã điều tra
Tên hình
Trang
2.1
Ruộng đất xã Tiên Hiệp
37
3.1
Ruộng đất xã Kim Bình-thành phố Phủ Lý sau khi đã DĐĐT
66
3.2
Giao thông, thủy lợi nội đồng xã Tiên Tân sau DĐĐT
84
3.3
So sánh thu nhập giữa các nhóm hộ trước và sau DĐĐT ở các xã
nghiên cứu
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
nghiệp không những có nhiệm vụ quan trọng là đảm bảo an ninh lương thực quốc gia
mà còn phải đảm bảo tối đa nguyên liệu cho ngành công nghiệp, tăng khối lượng nông
sản xuất khẩu. Như vậy đòi hỏi chúng ta phải xây dựng được một nền sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng thật hiệu quả.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
Nhưng trên thực tế, khi chia ruộng đất cho nông dân theo tinh thần của Nghị định
64/CP của Chính Phủ, chúng ta đã thực hiện phương châm công bằng xã hội: ruộng tốt
cũng như ruộng xấu, ruộng xa cũng như ruộng gần đều được chia đều tính trên một
nhân khẩu cho các gia đình, dẫn đến tình trạng ruộng đất bị phân tán nên không đáp
ứng được nhu cầu phát triển của nền nông nghịêp trong hoàn cảnh mới. Điều đó đã cho
thấy một số hạn chế, điển hình là tình trạng manh mún ruộng đất.
Sự manh mún ruộng đất đã dẫn đến tình trạng chung là hiệu quả của sản xuất
thấp, hạn chế khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản
xuất. Ngoài ra, tình trạng manh mún ruộng đất còn gây nên những khó khăn trong
quản lý và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên đất.
Để khắc phục tình trạng manh mún ruộng đất như nói trên, thì việc dồn đổi ruộng
đất từ nhiều ô thửa nhỏ thành ô thửa lớn; liền khu, liền khoảnh là việc làm hết sức cần
thiết, đáp ứng được nhu cầu của sự nghiệp đổi mới, xây dựng một nền sản xuất nông
nghiệp hàng hoá, áp dụng cơ giới hoá và tiến bộ khoa học kỹ thuật vào đồng ruộng; đáp
ứng được nguyện vọng của nhân dân, tạo điều kiện cho các hộ nông dân trong việc yên
tâm sử dụng và khai thác đất nông nghiệp lâu dài và hiệu quả, đồng thời nâng cao hiệu
quả trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai.
Nắm bắt được tình hình đó, Đảng và Nhà nước ta đã đưa ra chủ chương
“Dồn đổi ruộng đất” để việc sử dụng đất có hiệu quả hơn.
Thời gian qua một số tỉnh đã thực hiện khá tốt công tác dồn điền đổi thửa
như tỉnh Hà Tây (nay là Hà Nội), Hoà Bình, Bắc Ninh… Tuy nhiên cũng có những
- Phản ánh đúng thực trạng công tác dồn điền đổi thửa trên địa bàn thành phố
Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, làm cơ sở cho việc đề xuất sử dụng đất sản xuất nông nghiệp
theo hướng sản xuất hàng hóa trong những năm tiếp theo.
- Đánh giá những ảnh hưởng của công tác dồn điền đổi thửa.
- Phân tích hiệu quả đạt được sau khi thực hiện công tác dồn điền đổi thửa.
- Đề xuất các giải pháp hợp lý và có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả công
tác dồn điền đổi thửa đất nông nghiệp trên địa bàn thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Chính sách quản lý và sử dụng đất nông nghiệp của Việt Nam qua các thời kỳ
1.1.1. Giai đoạn 1945-1981
Lịch sử cách mạng giải phóng dân tộc và lịch sử phát triển kinh tế của Việt
Nam có mối quan hệ chặt chẽ với các vấn đề về sử dụng đất đai. Những mâu thuẫn
trong chính sách đất đai (vấn đề tiếp cận đất đai, sở hữu và sử dụng đất đai) đã diễn
ra trong suốt thời kỳ thuộc địa của thực dân Pháp; trong thời kỳ chiến tranh chống
Mỹ và các chính sách của Chính phủ từ sau ngày thống nhất đất nước năm 1975.
Trước năm 1945, đất nông nghiệp được phân chia thành 2 loại chính: đất sở
hữu cộng đồng và đất tư hữu. Khu vực nông thôn được phân chia làm 2 tầng lớp
dựa trên tính chất sở hữu của đất đai: địa chủ và tá điền. Tầng lớp địa chủ chiếm
khoảng 2% tổng dân số nhưng chiếm hữu trên 50% tổng diện tích đất, trong khi đó
59% hộ nông dân là tá điền không có đất và đi làm thuê cho tầng lớp địa chủ.
Sau năm 1945, Chính phủ đã thực hiện phân chia lại ruộng đất và giảm bớt
thuế cho nông dân nghèo và tá điền. Sau khi kết thúc chiến tranh với thực dân Pháp
(năm 1954), miền Bắc thực hiện chương trình cải cách ruộng đất cơ bản. Mục đích
là để công hữu hoá ruộng đất của địa chủ người Việt và người Pháp, tiến hành phân
còn đơn giản nhưng Khoán 100 đã trở thành bước đột phá trong quá trình hướng tới
nền kinh tế thị trường. Sự ra đời của Khoán 100 đã có những ảnh hưởng đáng kể đến
sản xuất nông nghiệp, đặc biệt đối với sản xuất lúa gạo, tăng 6,3%/ năm trong suốt
giai đoạn 1981-1985. Tuy nhiên, sau năm 1985, tăng trưởng trong sản xuất nông
nghiệp bắt đầu giảm, cụ thể tốc độ tăng trưởng của tổng sản lượng nông nghiệp trong
giai đoạn 1986-1988 chỉ là 2,2%/ năm. Đầu năm 1988, sản xuất lương thực không
đáp ứng được nhu cầu dẫn đến sự thiếu ăn ở 21 tỉnh, thành trên miền Bắc. Ở miền
Nam một loạt các mâu thuẫn cũng gia tăng trong khu vực nông thôn, đặc biệt là mối
quan hệ đất đai bởi sự “cào bằng” về phân chia và điều chỉnh đất đai. Điều này hiển
nhiên đặt ra yêu cầu một cuộc cải cách mới trong chính sách đất đai.
Để giải quyết các vấn đề trên, chính sách đổi mới trong nông nghiệp đã được
thực hiện theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị vào tháng 4 năm 1988. Với
sự ra đời của Nghị quyết 10 thường được biết đến với tên Khoán 10, người nông
dân được giao đất nông nghiệp sử dụng từ 10-15 năm và lần đầu tiên hộ nông dân
được thừa nhận như một đơn vị kinh tế tự chủ trong nông nghiệp. Bắt đầu từ thời kỳ
này, các tư liệu sản xuất (máy móc, trâu, bò, gia súc và công cụ khác) được sở hữu
dưới hình thức cá thể. Một khía cạnh khác của chính sách này đó là người nông dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
ở miền Nam được giao lại đất họ đã sở hữu trước năm 1975 (Viện Quy hoạch và
thiết kế nông nghiệp, 2003).
Tuy nhiên, cùng với Khoán 10 chưa có luật tương ứng dẫn đến một số quyền sử
dụng đất như cho tặng hoặc thừa kế chưa được luật pháp hóa và thừa nhận. Một loạt
các vấn đề khác nảy sinh liên quan đến sản xuất chẳng hạn như trạm điện, hệ thống
giao thông nông thôn, thị trường,… mà trước đây thuộc trách nhiệm quản lý của các
HTX nông nghiệp. Để giải quyết các vấn đề này Luật Đất đai năm 1993 đã ra đời.
1.1.3. Sự phát triển của quản lý ruộng đất sau đổi mới.
Những thay đổi trong chính sách đất đai của Việt Nam từ năm 1981 đến nay
đã góp phần đáng kể trong việc tăng nhanh sản lượng nông nghiệp và phát triển khu
vực nông thôn. Tổng sản lượng nông nghiệp tăng 6,7%/năm trong suốt giai đoạn
1994-1999 và khoảng 4,6% trong giai đoạn 2000 - 2003. An ninh lương thực quốc
gia không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa và nghèo đói đang từng bước được đẩy lùi
(Ban Kinh tế, 2004).
1.2. Tổng quan về dồn điền đổi thửa
1.2.1. Vấn đề manh mún đất đai
Khái niệm manh mún ruộng đất được hiểu trên hai khía cạnh: một là sự
manh mún về mặt ô thửa, trong đó một đơn vị sản xuất (thường là nông hộ) có quá
nhiều mảnh ruộng với kích thước quá nhỏ và bị phân tán ở nhiều xứ đồng. Hai là sự
manh mún thể hiện trên quy mô đất đai của các đơn vị sản xuất, số lượng ruộng đất
quá nhỏ không tương thích với số lượng lao động và các yếu tố sản xuất.
Cả hai kiểu manh mún trên đều dẫn đến tình trạng là hiệu quả sản xuất thấp,
khả năng đổi mới và ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, nhất là vấn đề cơ giới
hoá, thuỷ lợi hoá trong nông nghiệp,...dẫn đến tình trạng sử dụng đất kém hiệu quả.
Vì thế người ta luôn tìm cách khắc phục tình trạng này.
Manh mún đất đai xẩy ra ở nhiều nơi, nhiều nước khác nhau trên thế giới và
ở nhiều thời kỳ của lịch sử phát triển. Những nguyên nhân dẫn đến tình trạng này
rất đa dạng: có thể là do đặc điểm bề mặt phân bố địa lý, do sức ép dân số,...nhưng
cũng có thể là do ý thức của con người như tính chất tiểu nông của nền sản xuất còn
kém phát triển, đặc điểm tâm lý của cộng đồng dân cư nông thôn, hệ quả của một
hay nhiều chính sách ruộng đất, kinh tế xã hội hay sự quản lý lỏng lẻo kém hiệu quả
của công tác địa chính...
Tình trạng manh mún đất đai là một trong những nhược điểm của nền nông
nghiệp nhiều nước, nhất là các nước đang phát triển. Ở Việt Nam, manh mún đất
đai rất phổ biến, đặc biệt là ở miền Bắc. Theo con số ước tính, toàn quốc có khoảng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 7
đất. Kết quả là khoảng 2 triệu ha trong 2,7 triệu ha đất trồng lúa nước ở Nhật Bản đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
được chuyển đổi. Trước chuyển đổi, bình quân có 3,4 thửa/hộ, sau chuyển đổi bình
quân có khoảng 1,8 thửa/hộ. Việc chuyển đổi, xử lý đất nông nghiệp đã tăng sức
sản xuất của đất đai, tăng năng suất lao động của người nông dân; việc áp dụng máy
móc vào sản xuất được thuận tiện và hiệu quả,...tạo điều kiện để phát triển nông
nghiệp hàng hoá, nâng cao sức cạnh tranh trong nông nghiệp. Vì vậy cùng với các
yếu tố khác, việc chuyển đổi và xử lý đất nông nghiệp đã góp phần quan trọng đưa
năng suất lúa từ 3.000kg gạo/ha/năm năm 1960 lên 6.000 kg gạo/ha/năm năm 1992
(Bộ Tài nguyên và Môi trường, 1998).
* Ở Đài Loan: Sau năm 1949 dân số tăng đột ngột do sự di dân từ lục địa
ra. Lúc đầu chính quyền Tưởng Giới Thạch thực hiện cải cách ruộng đất theo
nguyên tắc phân phối đồng đều ruộng đất cho nông dân. Ruộng đất đã được
trưng thu, tịch thu, mua lại của các địa chủ rồi bán chịu, bán trả dần cho nông
dân, tạo điều kiện ra đời các trang trại gia đình quy mô nhỏ. Năm 1953, hòn đảo
này đã có đến 679.000 trang trại với quy mô bình quân là 1,29ha/trang trại. Đến
năm 1991 số trang trại đã lên đến 823.256 với quy mô bình quân chỉ còn
1,08ha/trang trại. Tuy nhiên, quá trình công nghiệp hoá nông nghiệp nông thôn
sau này đòi hỏi phải mở rộng quy mô của các trang trại gia đình nhằm ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật, giảm chi phí sản xuất, hạ giá thành sản phẩm,…
nhưng do người Đài Loan coi ruộng đất là tiêu chí đánh giá vị trí của họ trong xã
hội nên mặc dù có thị trường nhưng ruộng đất vẫn không được tích tụ (có nhiều
người tuy là chủ đất nhưng đã chuyển sang làm những nghề phi nông nghiệp).
Để giải quyết tình trạng này, năm 1983 Đài Loan công bố Luật Phát triển nông
nghiệp trong đó công nhận phương thức sản xuất uỷ thác của các hộ nông dân,
có nghĩa là nhà nước công nhận việc chuyển quyền sở hữu đất đai. Ước tính đã
(ha)
(thửa)
(ha)
1986
0,446
5,85
0,08
1988
0,466
5,67
0,078
1990
0,420
5,52
0,076
thông qua dồn đổi ruộng giữa các hộ, bước đầu “mềm hoá” hình thức chuyển đổi
nông nghiệp trong nông thôn, đồng thời cho phép hộ nông dân được quyền góp cổ
phần bằng ruộng đất vào các tổ chức sản xuất kinh doanh nông nghiệp trên cơ sở
chế độ cổ phần. Hiện nay Trung Quốc mỗi hộ có khoảng 0,5 ha chia làm 3-4 mảnh,
các hộ đang tiến hành đổi ruộng cho nhau để có ruộng liền khoảnh.
1.2.3. Tình hình nghiên cứu dồn điền đổi thửa ở Việt Nam
1.2.3.1. Nguyên nhân tiến hành dồn điền đổi thửa
Chủ trương của Đảng và Nhà nước ta là tiếp tục đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới
cơ chế kinh tế nông nghiệp nông thôn, thừa nhận hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự
chủ trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên trước nhu cầu của sự nghiệp công
nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước, nền nông nghiệp và đặc biệt là vấn đề ruộng đất
trong nông nghiệp đã bộc lộ những tồn tại, nảy sinh mới cần phải được quan tâm
giải quyết, đó chính là tình trạng ruộng đất quá manh mún về diện tích và ô thửa.
Chuyển đổi ruộng đất chống manh mún, phân tán tạo ra ô thửa lớn là việc làm cần
thiết, tạo tiền đề cho việc thực hiện công nghiệp hoá nông nghiệp, nông thôn (Tổng
cục Địa chính, 1998).
Mặt khác, khi thực hiện giao đất còn nhiều sai sót, tuỳ tiện dẫn đến tình trạng
khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định ở cơ sở; quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch kiến
thiết lại ruộng đồng thiếu khoa học, thiếu tầm nhìn chiến lược đang gây trở ngại lớn
cho việc đổi mới quản lý, tổ chức lại sản xuất nhất là việc chuyển dịch cơ cấu kinh
tế (Tổng cục Địa chính, 1997).
Để khắc phục tình trạng trên, giải pháp có hiệu quả nhất là phải tiến hành
dồn đổi ruộng đất. Để hiểu rõ hơn tại sao phải nhanh chóng tiến hành công tác dồn
đổi ruộng đất. Chúng ta cần tìm hiểu nguyên nhân và những hạn chế do tình trạng
manh mún ruộng đất gây trở ngại cho sản xuất, công tác quản lý Nhà nước về đất
đai như thế nào?
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
* Mức độ manh mún ruộng đất hiện nay thể hiện ở một số điểm:
- Tình trạng manh mún hiện nay tập trung vào đất cây hàng năm như: đất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 12
trồng lúa, đất trồng rau màu, đất trồng cây công nghiệp ngắn ngày và các loại đất
trồng cây hàng năm khác. Loại đất càng tốt, có điều kiện thâm canh càng cao thì
càng bị phân tán manh mún.
- Biểu hiện đặc trưng của sự manh mún là ruộng đất bị "chia nhỏ" để chia
đều theo nguyên tắc "tốt có, xấu có, xa có, gần có" cho các hộ gia đình (Nguyễn
Khắc Thời, Bùi Thị Phúc, 2010). Vì vậy một hộ sử dụng rất nhiều thửa đất nằm rải
rác trên tất cả các xứ đồng của mỗi thôn xóm, làng bản..., kích thước rất đa dạng,
diện tích bình quân /thửa đất lúa phổ biến là từ 200 - 400m2; diện tích đất trồng màu
và cây công nghiệp ngắn ngày bình quân/thửa phổ biến từ 100 - 300m2. Riêng các
tỉnh nam bộ bình quân/thửa phổ biến đất lúa là từ 2000 - 4000m2; đất trồng màu và
cây công nghiệp ngắn ngày bình quân lên đến hàng nghìn m2.
- Mức độ manh mún các vùng miền có sự khác nhau, số liệu minh hoạ được
thể hiện trong bảng 1.2.
Bảng 1.2. Mức độ manh mún ruộng đất ở các vùng trong cả nước
TT
Vùng sinh thái
Diện tích bình quân/thửa
(m2)
Đất lúa
Đất rau
150 - 300
30
300 - 500
200 - 300
4
Duyên hải Nam Trung Bộ
5 - 10
30
300- 1000
200 - 1000
5
Tây Nguyên
5
25
200 - 500
1000- 5000
Page 13
+ Số lượng các hộ có diện tích từ 02 ha trở lên không đáng kể (khoảng 2116
hộ) đa số có diện tích nhỏ hơn 0,20ha (1.731.533 hộ).
+ Bình quân diện tích canh tác trên hộ và trên khẩu có xu thế giảm do mất
đất nông nghiệp và sự gia tăng của dân số nông thôn.
Bảng 1.3. Số hộ sử dụng đất sản xuất nông nghiệp phân theo quy mô
sử dụng của một số tỉnh thuộc vùng ĐBSH
(ĐVT: hộ)
TT
Địa danh
Tổng số
Phân theo quy mô sử dụng
Từ 0,2 ha
Từ 0,5 ha
Từ 2 ha
dưới
đến dưới đến dưới 2
0,2 ha
trở lên
0,5 ha
ha
1731533 1223905
97216
2116
9057
213
3
Bắc Ninh
187569
109037
73951
4539
42
4
Hà Tây
457290
279625
160362
16955
7
Hưng Yên
228183
127289
94950
5837
107
8
Thái Bình
457669
266379
187376
3843
71
9
85474
17613
710
(Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, 2003)
- Tình trạng manh mún về số ô thửa
+ Diện tích/thửa: Với cây lúa, diện tích/thửa có thể diễn biến từ 200 đến
400m2, với cây rau thì rất nhỏ chỉ từ 20 - 50m2, tỷ lệ thửa có diện tích < 100m2 chiếm
đến 5 - 10% tổng số thửa, đặc biệt có những thửa đất mạ < 10m2 hoặc có những thửa
chiều dài vài chục m nhưng chiều rộng chỉ từ 30 - 50cm (Tổng cục Địa chính, 1997).
+ Số thửa/hộ: Số liệu ở bảng 1.4 cho thấy mức độ manh mún ruộng đất thuộc 1
số tỉnh Đồng Bằng sông Hồng rất khác nhau, các tỉnh đông dân, diện tích đất nông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 14