1
đại học Thái Nguyên
trờng Đại học Nông lâm
Nguyễn Duy Tâm
Nghiên cứu ảnh hởng của mật độ cấy và liều lợng kali
tới phát sinh, phát triển của một số loài sâu hại chính
trên lúa tại huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang
luận văn thạc sỹ khoa học nông nghiệp
chuyên ngành trồng trọt
m số: 60.62.01
Ngời hớng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Đức Thạnh
Thái Nguyên - 2007
2
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả thí nghiệm trong luận văn này
là hoàn toàn trung thực và cha hề sử dụng cho bảo vệ một học vị nào. Mọi sự
giúp đỡ đều đã đợc cảm ơn. Các thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã
đợc ghi rõ nguồn gốc.
U
U
T
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ......................................................................................12
TU
UT
1.2. Tình hình nghiên cứu trong nớc và nớc ngoài.................................................13
TU
UT
1.2.1. Tình hình nghiên cứu ở nớc ngoài ................................................... 13
TU
UT
1.2.1.1. Những nghiên cứu về sâu hại ......................................................... 13
TU
UT
1.2.1.2. Những nghiên cứu về thiên địch..................................................... 15
TU
T
2.1. Đối tợng, nội dung và phơng pháp nghiên cứu ...............................................40
TU
UT
2.1.1. Đối tợng nghiên cứu ........................................................................ 40
TU
UT
2.1.3. Dụng cụ thí nghiệm ........................................................................... 40
TU
UT
2.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu.........................................................................40
TU
UT
2.2.1. Địa điểm nghiên cứu ......................................................................... 40
TU
UT
2.2.2. Thời5 gian nghiên cứu ....................................................................... 40
TU
UT
2.4.2.3. Phơng pháp nghiên cứu năng suất của cây lúa ............................. 44
TU
UT
2.4.2.4. Phơng pháp xác định nơi c trú của sâu hại ................................. 44
TU
UT
5
2.4.2.5. Phơng pháp xử lý số liệu .............................................................. 44
TU
UT
chơng 3: Kết quả nghiên cứu ...................................................................45
T
U
U
T
3.1. Điều kiện thời tiết, khí hậu năm 2006 tại huyên Yên Dũng tỉnh Bắc Giang....45
TU
UT
3.4.5. Hạch toán sơ bộ kinh tế đối với các mật độ cấy khác nhau .............. 59
TU
UT
3.5. ảnh hởng của liều lợng kali đến số lợng sâu hại và năng suất lúa...............61
TU
UT
3.5.1. ảnh hởng của liều lợng kali đến sâu đục thân lúa ........................ 61
TU
UT
3.5.2. ảnh hởng của liều lợng kali đến sâu cuốn lá nhỏ ......................... 62
TU
UT
3.5.3. ảnh hởng của liều lợng kali đến mật độ rầy nâu .......................... 64
TU
UT
3.5.4. ảnh hởng của liều lợng kali đến năng suất lúa ............................. 66
U
U
6
Danh mục các bảng biểu
Bảng 1.1: Số lợng loài sâu hại lúa đã phát hiện đợc ở Việt Nam .................... 8
Bảng 3.1: Diễn biến điều kiện thời tiết năm 2006 tại huyện Yên Dũng ............. 37
Bảng 3.2. Thành phần sâu hại thờng xuất hiện trên lúa tại
huyện Yên Dũng ................................................................................................. 39
Bảng 3.3: Mức độ phổ biến của một số loài sâu hại............................................ 41
Bảng 3.4. ảnh hởng của mật độ cấy đến số lợng của sâu đục thân 2 chấm
(đơn vị tính con/ m2) ........................................................................................... 43
P
P
Bảng 3.5. ảnh hởng của mật độ cấy đến số lợng sâu cuốn lá nhỏ hại lúa qua
các tháng (đơn vị tính con/ m2) ........................................................................... 45
P
P
Bảng 3.6. ảnh hởng của mật độ cấy đến số lợng rầy nâu qua các tháng... .... 46
Bảng 3.7. ảnh hởng của mật độ cấy đến năng suất lúa .................................... 49
Bảng 3.8. Hoạch toán kinh tế ở thí nghiệm mật độ cấy (1000 đồng) ................ 52
Bảng 3.9. ảnh hởng của liều lợng kali đến sâu đục thân 2 chấm (đơn vị tính
con/ m2)......................... ..................................................................................... 53
8
Danh mục các từ viết tắt
1. BMAT: Bắt mồi ăn thịt
2. BVTV: Bảo vệ thực vật
3. NLBM: Nhện lớn bắt mồi
4. NLBMAT: Nhện lớn bắt mồi ăn thịt
5. Nxb: Nhà xuất bản
6. ctv: Cộng tác viên
9
Đặt vấn đề
Lúa là cây trồng có từ lâu đời và gắn liền với quá trình phát triển của xã
hội loài ngời. Lúa cung cấp lơng thực cho 1/2 dân số thế giới nó chiếm
26,5% trong cơ cấu sản xuất lơng thực thế giới. Mặc dù sản lợng lơng thực
ngày càng tăng song hiện nay thế giới còn 800 triệu ngời đang đói nghèo, tập
trung chủ yếu ở các nớc đang phát triển, dân số ngày càng tăng do đó lơng
thực vẫn là vấn đề cấp bách cần phải quan tâm trớc mắt cũng nh lâu dài của
thế giới. Kinh tế xã hội phát triển đòi hỏi nền sản xuất nông nghiệp không chỉ
đạt năng suất cao mà phẩm chất nông sản cũng phải tốt. Tuy nhiên còn gặp trở
ngại trong sản xuất lúa đó là vấn đề sâu bệnh (hay bảo vệ thực vật). Theo
Cramen (1967) [48], thì năng suất lúa ở Châu á giảm 31,5% do sâu bệnh hại
gây ra. Cây lúa có nhiều loài côn trùng phá hoại, riêng vùng trồng lúa nhiệt
đới Châu á đã bắt gặp 20 loài sâu hại lúa quan trọng đã làm giảm năng suất
và chất lợng lúa đáng kể.
ở Việt Nam sâu hại gây thiệt hại đáng kể trên cây lúa. Theo Hồ Khắc
Tín (1982) [38], sâu cắn gié đã phát sinh thành dịch gây lên mất mùa lớn.
là 505 ha, Rầy nâu là 1.028 ha. Vụ mùa diện tích nhiễm sâu cuốn lá nhỏ
10.720 ha, sâu đục thân là 770 ha, rầy nâu 3.706 ha [12].
Với những thiệt hại do sâu hại gây ra ngời nông dân đã sử dụng quá
nhiều thuốc bảo vệ thực vật để diệt trừ, dẫn đến làm ô nhiễm môi trờng và
ảnh hởng tới phẩm chất của nông sản, không ít trờng hợp chi phí cao cho
vấn đề bảo vệ thực vật nhng vẫn không bảo vệ đợc cây lúa, năng suất vẫn
giảm đồng thời sử dụng quá nhiều hoá chất dẫn đến mất cân bằng sinh thái.
Huyện Yên Dũng là một huyện trồng lúa trọng điểm của tỉnh Bắc Giang
với dân số là 166.000 ngời chủ yếu lao động tập trung sản xuất nông nghiệp.
Huyện có diện tích cấy lúa khoảng 14.000 ha. Trong những năm gần đây năng
suất sản lợng lúa không ngừng tăng đạt 50,6 tạ/ha bên cạnh đó tình hình sâu
hại diễn biến ngày càng phức tạp. Hàng năm thiệt hại sâu bệnh đối với lúa
11
khoảng 3 - 10% cũng giống nh các vùng trồng lúa khác trong cả nớc sản
xuất lúa ở huyện Yên Dũng hàng năm vẫn bị các loại sâu hại gây hại trên diện
tích không nhỏ.
Trong lịch sử ở huyện Yên Dũng ở tỉnh Bắc Giang cũng đã có dịch sâu
hại ở mức độ nặng đó là dịch sâu cuốn lá nhỏ phá hại trên diện tích 1.500 ha
năm (1986). Năm (1981) toàn huyện có 1230 ha nhiễm rầy nâu, rầy lng trắng
trong đó 500 ha bị nhiễm nhẹ nhiễm nặng là 700 ha, cháy 30 ha. Hàng trăm
ha bị nhiễm sâu đục thân [40].
Trình độ thâm canh lúa của nông dân còn thấp nhiều tiến bộ khoa học
kỹ thuật, biện pháp canh tác tiên tiến cha đợc nghiên cứu ứng dụng chuyển
giao tới nông dân. Để góp phần từng bớc giúp ngời trồng lúa bớt đợc
những tổn thất do sâu hại gây ra. Chúng tôi đã tiến hành đề tài: Nghiên cứu
ảnh hởng của mật độ cấy và liều lợng kali tới phát sinh, phát triển của một
số loài sâu hại chính trên lúa tại huyện Yên Dũng - tỉnh Bắc Giang.
Những ruộng chăm bón cân đối NPK mầu sắc lá xanh nhạt (xanh hơi vàng)
sâu hại gây hại nhẹ.
Dinh dỡng kali tuy không tham gia vào thành phân cấu tạo của tế bào
nhng kali tham gia vào các phản ứng trao đổi chất của cây thông qua tác
dụng hoạt hoá các enzim xúc tác các phản ứng quan trọng. Kali có tác dụng
điều tiết khả năng chịu hạn, chịu rét của cây, kali cần cho quá trình hút vận
chuyển nớc, kali có tác dụng tăng sự tích luỹ tinh bột, các monosacarit,
xenlulo, hemixenlulo,và các chất pectin trong vách tế bào vì vậy tính chống
13
chịu nốp đổ của lúa tăng nên,Kali xúc tiến quá trình hấp thu ion amon NH4
B
B
làm tăng quá trình vật chuyển các chất trong cây trong hạt.
Trong sản xuất lúa phong trào thâm canh đã đem lại những lợi ích thực
tiễn tuy nhiên việc tăng vụ, sử dụng giống mới có năng suất cao và thâm canh
cao đã tạo điều kiện cho sâu hại ngày càng nhiều, diễn biến phức tạp, do vậy
việc phòng trừ chúng ngày càng khó khăn. Mỗi biện pháp tác động đến cây
lúa đều có ảnh hởng đến mật độ của sâu hại. Trong sản xuất lúa, mật độ cấy
cũng tác động đến từng loài sâu hại; mỗi cách bón phân, loại phân, tỷ lệ giữa
các loại phân cũng ảnh hởng đáng kể đến sâu hại. Điều kiện thời tiết khí hậu
từng vùng khác nhau cũng có sự gây hại khác nhau của các loài sâu. Nghiên
cứu những biện pháp canh tác thích hợp nhất làm hạn chế sâu hại trên lúa, hạn
chế thấp nhất việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật mà vẫn duy trì mật độ sâu
hại dới ngỡng kinh tế. Từ đó để tìm ra phơng pháp phòng sâu hại thích
hợp, chính vì vậy đề tài này đợc tiến hành để tìm ra các giải pháp hữu hiệu
trong sản suất là một trong biện pháp quan trọng trong phòng trừ tổng hợp.
Một mặt làm giảm thiệt hại về năng suất, tiết kiệm đợc chi phí phòng trừ,
mặt khác hạn chế đợc việc dùng thuốc hoá học gây ô nhiễm môi trờng
(Khush, 1993) [57].
Tại Viện nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) trong thời gian từ (1966 - 1975)
đã nghiên cứu khoảng 26.000 giống lúa và 42.000 dòng lai, qua đó xác định
đợc hơn 300 giống và dòng lai có phản ứng kháng với rầy nâu (Pathak
Khush, 1979) [61]. Cũng tại IRRI (1973) bằng phơng pháp nuôi phân lập rầy
nâu qua nhiều đợt trên các giống lúa Tl1, Mudgo và IR36 đã tạo đợc 3 quần
thể rầy nâu mang độc tính (Virulence) khác nhau gọi là Biotyp 1, biotyp 2,
biotyp 3 (Pathak., Khush, 1979) [61].
Theo Heinrichs và Pathak (1981) [52], muỗi cuốn lá hành (sâu năn)
Orseolia oryzae là một trong những sâu hại lúa quan trọng ở nhiều nớc Châu
á và Châu Phi. ấu trùng của sâu năn có 3 tuổi, gây hại ngay từ tuổi 1 (Vreden
, Arifin, 1977) [69]. Các gnhiên cứu của Grover và Prasad (1980) [50], lại cho
rằng Số tuổi ấu trùng sâu năn phụ thuộc vào điều kiện môi trờng, tuy theo điều
kiện môi trờng thức ăn mà ấu trùng của sâu năn có thể kéo dài 4 tuổi. Theo
Ludwing (1956) [59], cho rằng số lần lột xác của sâu năn phụ thuộc vào nhiệt
độ của môi trờng, ở nhiệt độ cao số lần lột xác của chúng gia tăng.
15
Những nghiên cứu của Lơng Cẩm Anh (1993) [1] tại Trờng Đại học
Nông nghiệp Quảng Tây - Trung Quốc nghiên cứu cho thấy: Sâu non muỗi
năn sau khi đã chui vào đến điểm sinh trởng, tiết tố của sâu sản sinh ra đã tác
động xấu đến chức năng phân hoá để hình thành tạo ra lá. Kết quả nghiên cứu
trong năm 1990, tác giả có nhận xét: Sâu non tuổi 1 trong 24 giờ cha gây tác
hại gì lớn, chỉ có 0,04% số cây bị hại, 3 ngày sau khi chui đợc đến điểm sinh
trởng của cây thì tỷ lệ cây bị hại lên đến 5,5% và mất khả năng phân hoá để
rầy nâu ở tất cả các giai đoạn phát dục. ở Cuttack (ấn Độ), sự tăng số lợng
rầy nâu ở ruộng lúa kéo theo sự sinh sản rất nhanh của loài bọ rùa ăn thịt trong
thời gian từ giữa tháng 8 đến cuối tháng 9. Bọ rùa Coccinella arcuata là loài
bọ rùa phổ biến nhất và ăn rầy nâu khoẻ nhất.
* Vai trò của thiên địch trong việc hạn chế số lợng sâu hại.
Đã có khá nhiều công trình nghiên cứu đánh giá vai trò của thiên địch
trong việc hạn chế mật độ quần thể các sâu hại lúa.
Nhiều kết quả khẳng định các loàI BMAT có vai trò quan trọng trong
hạn chế số lợng rầy hại lúa so với tác động của các loài ký sinh (Kenmore et
al, 1984) [56]. Trong phòng thí nghiệm, một bọ xít mù xanh trởng thành có
thể ăn 10 - 20 rầy nâu. (IRRI, 1987) [55].
Thí nghiệm trong nhà kính ở IRRI cho thấy, khi thấy tỷ lệ số lợng giữa
bọ rùa và rầy nâu là 1: 4 thì tỷ lệ rầy nâu bị chết do bọ rùa Harmonia gây ra là
77 - 91% và do bọ rùa Micrapis gây ra là 52 - 93% (Chiu, 1979) [47].
Thí nghiệm trong phòng cho thấy, một cá thể nhện P.pseudoanulata
trong 1 ngày có thể ăn đợc 17 - 24 ấu trùng hoặc 15 - 20 trởng thành rầy
nâu (Samal et al., 1975) [63].
Theo Nakasuji et al (1984) [60], Bọ xít nớc Mesovelia sp.,
Limnogonus sp., Microveria sp tiêu diệt cả rầy nâu, rầy lng trắng và rầy xanh
đuôi đen, góp phần rất lớn hạn chế số lợng rầy nâu. Bên cạnh đó chúng còn
hạn chế số lợng nhóm sâu cuốn lá lúa.
17
Theo Bandong et al (1986) [46], nghiên cứu và cho rằng: Có khoảng
70% sâu cuốn lá nhỏ bị tiêu diệt bởi các loài BMAT. Các loài bọ rùa Micrapis
crocea và Synharmonia octomaculata rất thích ăn trứng sâu cuốn lá nhỏ,
chúng tiêu diệt đợc hơn 30% trứng sâu cuốn lá nhỏ sau 24 giờ. Các loài dế
Mentioche vittaticolit và Anaxipha longipennis tiêu diệt đợc 73 - 85% trứng
giống
loài
Bộ cánh thẳng - Orthoptera
3
20
25
Bộ cánh đều - Homoptera
8
15
20
Bộ cánh nửa - Hemiptera
2
15
34
Bộ cánh tơ - Thysanoptera
Bộ nhện nhỏ - Acarina
3
3
3
Tổng số
32
88
133
Trong 133 loài sâu hại chỉ có khoảng 44 loài là sâu hại thờng thấy trên
đồng lúa. Trong đó có 10 loài là sâu hại chính. Đó là các loài: Rầy nâu, sâu
đục thân hai chấm, sâu cuốn lá nhỏ..v.v.
Theo nghiên cứu của Viện BVTV (1999) [43],Tại các tỉnh phía Nam từ
1977 - 1978 cũng tìm thấy có khoảng 86 loài gây hại trên lúa.
Theo Nguyễn Công Thuật (2002) [37], điều tra và giám định của các
nhà côn trùng học, cho đến nay đã biết khoảng 140 loài côn trùng và nhện gây
hại trên cây lúa ở nớc ta. Trong đó có khoảng 30 loài đợc xếp vào hàng
những sâu có khả năng gây thành dịch làm giảm năng suất lúa.
Bốn loài sâu cuốn lá nhỏ xuất hiện tại châu á. Loài Cnaphalocrocis
medinalis phổ biến hơn loài Marasmia exigua, Marasmia patnalis hoặc
Marasmia ruralis [45].
ở châu á có năm loài sâu đục thân gây hại quan trọng trên ruộng lúa
gồm sâu đục thân sọc nâu Chilosuppressalis (simplex), sâu đục thân đầu đen
lúa và cỏ dại gần ruộng lúa, hoạt động mạnh về đêm bay đến ruộng lúa để đẻ
trứng, mỗi con cái đẻ từ 200 - 300 quả trứng trong suốt vòng đời dài 4 ngày
20
của nó, thanh trùng bị bẫt đèn thu hút và bị mắc bẫy nhiều nhất vào tuần trăng
khuyết [45].
Những nghiên cứu về sâu cuốn lá nhỏ ở vùng ngoại thành Hà Nội cho
biết: Sâu cuốn lá nhỏ gây hại chủ yếu vào thời kỳ lúa làm đòng đến trỗ bông
(Đặng Thị Bình và ctv, 1994) [3]
Theo Nguyễn Văn Hành và ctv (1989) [15], mật độ sâu non cuốn lá
nhỏ trên đồng ruộng là biểu hiện khả năng dẫn dụ của cây đối với ngài sâu
cuốn lá nhỏ đến đẻ trứng. Mật độ trứng của sâu cuốn lá nhỏ khác nhau ở các
giai đoạn sinh trởng khác nhau của cây lúa.
Thành trùng (bớm) sâu cuốn lá nhỏ ẩn nấp trong ruộng lúa và cỏ dại
suốt ngày để chốn những loài bắt mồi chỉ bay ra trong thời gian ngắn khi bị
động. Bớm bị ánh sáng đèn thu hút vào ban đêm. Mỗi con cái đẻ khoảng 300
trứng trong suốt cuộc đời dài khoảng 3 - 7 ngày của chúng. Việc giao phối và
đẻ trứng chỉ xảy ra vào ban đêm [45].
Trần Huy Thọ và ctv (1989) [35], theo dõi định kỳ trong 2 năm 1981 1982 tại khu vực Chèm - Từ Liêm - Hà Nội cho thấy: Từ tháng 1 - 11 hàng
năm, rầy nâu phát sinh 9 lứa. Hai lứa rầy có mật độ cao và gây hại nặng là lứa
tháng 5 ở vụ chiêm xuân và lứa tháng 10 ở vụ mùa.
Theo Trần Huy Thọ và ctv, (1989) [35], cho biết: Mỗi vụ thờng có 4
lứa rầy, trong đó lứa rầy thứ 3 thờng có mật độ cao, phá hại nặng và gây ra
cháy rầy. Lứa rầy cuối vụ, do thức ăn hạn chế nên chúng kém phát triển,
mật độ giảm thấp. Trong điều kiện vụ mùa, lứa rầy cuối vụ còn chịu ảnh
hởng của nhiệt độ thấp từ đầu tháng 11 nên số lợng giảm nhiều ngay từ giai
đoạn rầy non, chỉ một số ít hoàn thành chu kỳ phát dục chuyển sang trởng
thành.
rầy nâu lớn hơn nhiệt độ. Trong cùng một thời gian, những ruộng có nớc
hoặc có ẩm độ cao bao giờ cũng có nhiều rầy nâu hơn những ruộng khô nớc
bị hạn. ẩm độ 70 - 78% là thích hợp cho sự phát triển của rầy nâu. Tháng 4 - 5,
và các tháng 8, 9, 10 là những tháng mà rầy nâu phát triển mạnh nhất cũng là
những tháng có lợng ma lớn nhất trong vụ chiêm xuân và vụ mùa. Tuy nhiên
riêng điêu kiện nhiệt độ hoặc riêng điều kiện ẩm độ không gây nên dịch rầy nâu.
Dịch rầy nâu thờng xuất hiện sau những đợt ma nắng oi bức xen kẽ [32].
Thời vụ cũng ảnh hởng rất lớn rầy nâu, trà sớm và trà đại trà thờng bị
rầy nâu hại nặng hơn trà sớm. Trong vụ chiêm xuân, rầy hại lúa chiêm vào
cuối tháng 3 - 4, sau đó rầy hại lúa xuân sớm trong tháng 4, lúa xuân đại trà
trong tháng 5 - 6. Từ giữa tháng 6 mật độ rầy giảm dần trên lúa, do đó lúa
mùa muộn có thể bị rầy nâu hại nhng mức độ nhẹ hơn. Trong vụ mùa, mật
22
độ rầy tăng nhanh dần trên lúa sớm trong tháng 8 và phát triển rất mạnh trong
tháng 9. Từ đầu hoặc giữa tháng 10 trở đi, mật độ rầy giảm dần, do đó lúa
mùa sớm và mùa đại trà bị nặng hơn cả [32].
- Chăm bón và mật độ gieo cấy.
Cùng một giống lúa, nhng nếu ruộng lúa tốt, cấy dày thì mật độ rầy
cao hơn ruộng lúa xấu, cấy tha. Có nhiều ngời cho rằng bón phân đạm cho
lúa, ngoài tác dụng làm cho lúa xanh tốt tạo ẩm độ thích hợp cho rầy, phân
đạm còn làm cho lợng protein và axit amin - loại thức ăn chính của rầy trong
cây lúa tăng, nên số lợng rầy cũng tăng nhanh. Do đó để vừa đạt đợc năng
suất cao vừa chống đợc rầy, cần bón phân hợp lý cho các giống chống rầy
chịu phân kết hợp áp dụng các biên pháp phòng chống khác [32].
Theo Trần Huy Thọ và ctv (1983) [34] trên các giống lúa khác nhau,
mật độ rầy nâu tích luỹ qua các lứa là khác nhau.Trên giống nhiễm và giống
thích hợp cho thiên địch của rầy. Gieo cấy thành hàng cách nhau từ 15 - 20cm
sẽ đáp ứng đợc những yêu cầu đó [27].
Những giống lúa đẻ nhiều và phân bố nhánh mau sẽ không để ánh sáng
đến đợc gốc lúa, dòng không khí qua hàng cây cũng bi giảm, môi trờng
sống sẽ vừa ẩm vừa tối, vừa bí nên rất thích hợp với rầy. Ngợc lại những
ruộng đẻ vừa phải và phân bố nhánh tha, thờng cho năng suất không cao
nhng không tạo môi trờng sống thuận lợi cho rầy nâu [27].
Bón phân đạm cao làm tăng mức độ nhiễm sâu cuốn lá nhỏ, sâu đục
thân, hãy bón phân đạm thành nhiều đợt trong vụ lúa [45].
Những nơi có cây tạo bóng trên ruộng lúa đó có mức độ nhiễm sâu
cuốn lá nhỏ và sâu đục thân cao hơn [45].
Những ruộng đợc bón phối hợp 60N, 60P2O5 có số lợng rầy nâu đông
B
B
B
B
nhất sống trên những cây lúa đợc bón nhiều đạm, rầy cái có tỷ lệ sinh sản cao
hơn. Tài liệu thí nghiệm ở nhiều nớc cho biết bón nhiều phân đạm đã làm tăng
mức phá hoại của rầy nâu, phân đạm góp phần làm cho thảm lúa rậm rạp hơn, tạo
một tiểu môi trờng ẩm và cớm nắng ở dới thảm cây nên thích hợp cho rầy và
không thích hợp cho thiên địch của rầy. Phân đạm cũng làm cho cây lúa tổng
24
hợp đợc nhiều protein và axit amin hơn, đây là những chất dinh dỡng chính
Bón thúc đợt 1: khi lúa bắt đầu đẻ nhánh (có 10% số dảnh cái bắt đầu
đẻ) phân đạm 60%, kali 50%
Bón thúc đợt 2: (35 ngày sau cấy), phân kali 50%, phân đạm so mầu lá
lúa theo Lcc nếu chỉ số mầu nhỏ hơn 3,5 đốivới lúa thuần và nhỏ hơn 4 đối với
lúa lai, thì bón đạm (nhiều hay ít phụ thuộc vào mầu của sắc tố lá).
Công thức 2: bón theo tập quán của nông dân.
Lợng phân bón do chủ ruộng quyết định, hầu hết các hộ bón nhiều
đạm, bón ít hoặc không bón kali.
Thời gian và cách bón hầu hết bón lót nông, bón thúc đợt đầu muộn,
Thí nghiệm đợc tiến hành với 3 lần nhắc lại.
Kết quả thí nghiệm:
ảnh hởng của phân bón đến sâu cuốn lá nhỏ: Qua điều tra trong năm
2002, 2003 trên các ô bón phân theo hộ nông dân mật độ sâu cuốn lá nhỏ đều
tăng phổ biến từ 1,4 đến 3,4 lần so với mật độ sâu cuốn lá nhỏ trên các ô bón
phân theo quy trình cải tiến.
ảnh hởng của phân bón đến rầy nâu rầy lng trắng: Qua kết quả
điều tra năm 2002, 2003 mật độ rầy ở công thức bón theo hộ nông dân đều
cao hơn so với công thức bón theo quy trình cải tiến.
Qua thí nghiệm có kết luận: khi bón phân cân đối, bón theo nhu cầu
dinh dỡng từng giai đoạn sinh trởng, cây lúa khoẻ ngay từ đầu, cứng cây, lá
cứng, ruộng thông thoáng nên các đối tợng sâu hại chính đều thấp hơn so với
sâu bệnh trên các ô bón theo nông dân. Do đó đã giảm đợc 1 đến 2 lần phun
thuốc bảo vệ thực vật trong mỗi vụ [14].
Năm 2006 Tại Điện Biên đã thực hiện thí nghiệm tìm hiểu mối liên
quan giữa mật độ lúa gieo đến diễn biến sâu bệnh và năng suất lúa. Thí
nghiệm đợc tiến hành theo 4 công thức.