HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ỨC CHẾ CỦA NANO BẠC
VÀ DỊCH CHIẾT THỰC VẬT ĐỐI VỚI VI KHUẨN
XANTHOMONAS ORYZAE GÂY BỆNH BẠC LÁ LÚA
LUẬN VĂN THẠC SĨ
HÀ NỘI - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN TRƯỜNG SƠN
ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ ỨC CHẾ CỦA NANO BẠC
VÀ DỊCH CHIẾT THỰC VẬT ĐỐI VỚI VI KHUẨN
XANTHOMONAS ORYZAE GÂY BỆNH BẠC LÁ LÚA
Chuyên ngành
: Công nghệ sinh học
Mã số
: 60.42.02.01
Người hướng dẫn khoa học:
TS. Nguyễn Thanh hải
sự chỉ bảo tận tình, sự giúp đỡ quý báu của các thầy cô trong Khoa Công nghệ Sinh học,
khoa Công nghệ thực phẩm, Phòng thí nghiệm JICA Khoa Nông học – Học viện Nông
nghiệp Việt Nam. Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới:
Thầy TS. Nguyễn Thanh Hải, phó trưởng bộ môn Công nghệ sinh học thực vật
và thầy PGS.TS. Phan Hữu Tôn bộ môn Công nghệ Sinh học Ứng dụng, khoa Công
nghệ sinh học, trường Học viện nông nghiệp Việt Nam, người đã tận tình chỉ bảo,
hướng dẫn và tạo điều kiện tốt nhất cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài và hoàn
thành luận văn, đồng thời bồi dưỡng cho tôi những kiến thức chuyên môn và kinh
nghiệm quý báu.
Để hoàn thành luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn tới các Thầy giáo, Cô
giáo, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Công nghệ sinh học Thực vật, Khoa Công nghệ sinh
học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam, đã ủng hộ, tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành
các thủ tục cần thiết để bảo vệ thành công luận văn này.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến tập thể cán bộ, công nhân viên phòng thí
nghiệm JICA – Học viện Nông nghiệp Việt Nam, các thầy giáo, cô giáo khoa Công
nghệ thực phẩm đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình làm luận văn.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn toàn thể gia đình, bạn bè, anh em, đồng nghiệp đã
tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn này!
Hà Nội, ngày
tháng năm 2015
Nguyễn Trường Sơn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
Thesis abstract
xi
Phần 1 Mở đầu
1
1.1
Tính cấp thiết của đề tài
1
1.2
Mục tiêu nghiên cứu
2
1.3
Phạm vi nghiên cứu
2
1.4
Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn
2.1.4
Quy luật và các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh, phát triển bệnh bạc lá
5
2.1.5
Vi khuẩn gây bệnh Xanthomonas oryzae pv. oryzae
6
2.2
Tình hình nghiên cứu và sử dụng dịch chiết thực vật trong việc phòng trừ
sâu, bệnh trên thế giới và Việt Nam
2.2.1
7
Tình hình nghiên cứu và sử dụng dịch chiết thực vật trong việc phòng trừ
sâu, bệnh trên thế giới
2.2.2
7
Tình hình nghiên cứu và sử dụng dịch chiết thực vật trong việc phòng trừ
sâu, bệnh ở Việt Nam
13
2.3.4
Cây tỏi
14
2.3.5
Cây trầu không
15
2.4
Nano bạc
16
2.4.1
Tổng quan về nano bạc
16
2.4.2
Cơ chế kháng khuẩn của nano bạc
3.3
Đối tượng nghiên cứu/vật liệu nghiên cứu
21
3.3.1
Thực vật nghiên cứu
21
3.3.2
Vi khuẩn nghiên cứu
21
3.3.3
Nano bạc
21
3.3.4
Giống lúa kí chủ
21
3.5.3
Phương pháp định tính xác định một số nhóm hợp chất có trong dịch
chiết thực vật
23
3.5.4
Phương pháp pha loãng dịch chiết
25
3.5.5
Phương pháp nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường rắn và lỏng
26
3.5.6
Phương pháp xác định mật độ vi khuẩn
26
3.5.7
Phương pháp đánh giá khả năng diệt khuẩn in vitro của dịch chiết thực vật
26
với lúa trong điều kiện thí nghiệm in vivo
29
Phương pháp xử lý số liệu
30
Phần 4 Kết quả và thảo luận
31
4.1
Trình bày kết quả
31
4.1.1
Đánh giá hiệu suất và định tính các nhóm chất trong cao khô dịch chiết
thực vật
4.1.2
31
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của cao dịch chiết thực vật với vi
khuẩn Xanthomonas oryzae
4.1.7
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro khi phối trộn cao khô dịch chiết lá
trầu không và nano bạc với vi khuẩn Xanthomonas oryzae
4.1.8
47
Đánh giá tác dụng của nano bạc và cao khô dịch chiết lá trầu không đối
với cây lúa trong điều kiện thí nghiệm in vivo
49
4.2
Thảo luận
51
4.2.1
Đánh giá hiệu suất và định tính các nhóm chất trong cao khô dịch chiết
thực vật
4.2.2
51
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của cao dịch chiết thực vật với vi
55
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro của nano bạc đối với vi khuẩn
56
Xanthomonas oryzae
4.2.7
Đánh giá tác dụng diệt khuẩn in vitro khi phối trộn cao khô dịch chiết lá
trầu không và nano bạc với vi khuẩn Xanthomonas oryzae
4.2.8
56
Đánh giá tác dụng của nano bạc và cao khô dịch chiết lá trầu không đối
với cây lúa trong điều kiện thí nghiệm in vivo
57
Phần 5 Kết luận và kiến nghị.
59
5.1
Kết luận
59
DMSO
Dimethyl Sulphoxit
DC
Dịch chiết
g
Gam
Kg
Kilogam
LB
Luria Bertani
mg
Milligam
mm
Millimet
mg/ml
DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1
Hệ số pha loãng dịch chiết và nồng độ dịch chiết tương ứng
26
Bảng 3.2
Hệ số nồng độ nano pha loãng theo cơ số ½.
28
Bảng 4.1
Hiệu suất chiết của năm loại thực vật trong dung môi ethanol ( 70%)
32
Bảng 4.2
Kết quả phân tích sơ bộ thành phần hóa học của loại các dịch chiết
33
Bảng 4.3
Khả năng kháng khuẩn của dịch chiết thực vật ở nồng độ 100mg/ml
40
Kết quả đánh giá tác dụng diệt khuẩn của dung dịch nano bạc đối
với vi khuẩn Xanthomonas oryzae chủng 01.
Bảng 4.9
43
Kết quả đánh giá tác dụng diệt khuẩn của dung dịch nano bạc đối
với vi khuẩn Xanthomonas oryzae chủng 33.
Bảng 4.10
45
Kết quả đánh giá tác dụng diệt khuẩn của dung dịch nano bạc đối
với vi khuẩn thử nghiệm.
Bảng 4.11
47
Khả năng diệt khuẩn in vitro khi phối trộn cao khô dịch chiết lá trầu
không và nano bạc với vi khuẩn Xanthomonas oryzae
Bảng 4.12
48
Hình 3.1
Sơ đồ pha loãng dịch chiết
25
Hình 3.2
Sơ đồ pha loãng các nồng độ nano bạc
28
Hình 4.1
Bột và cao khô dịch chiết của năm loại thực vật.
31
Hình 4.2
Hiệu suất tách chiết của các loại thực vật.
32
Hình 4.3
Một số hình ảnh định tính thành phần hóa học của các loại dịch chiết.
34
Hình 4.9
46
Khả năng diệt khuẩn in vitro khi phối trộn cao khô dịch chiết lá trầu
không và nano bạc với vi khuẩn Xanthomonas oryzae
Hình 4.10
49
Chiều dài vết bệnh trên lá lúa khi sử dụng các công thức phun khác
nhau (sau 18 ngày lây nhiễm)
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
50
Page ix
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Nghiên cứu nhằm mục đích đánh giá tác dụng ức chế vi khuẩn in vitro của nano
bạc và dịch chiết thực vật đối với vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá lúa.
Thử nghiệm khả năng phòng trị bệnh bạc lá lúa của nano bạc và cao khô dịch chiết trên
giống lúa IR24 trong điều kiện thí nghiệm in vivo
Từ 5 loại thực vật nghiên cứu (trầu không, tỏi, đơn đỏ, huyền diệp, lược vàng)
chúng tôi sử dụng các loại dung môi tách chiết khác nhau để tiến hành chiết xuất và
THESIS ABSTRACT
The present study aimed at evaluating the in vitro anti-bacterial effect of herbal
extracts and silver nano to Xanthomonas oryzae. Experimantal treatment rice blight
disease caused by bacteria Xanthomonas oryzae in rice variety IR24 by Piper siriboa
L. extract and silver nano.
From 5 different herbs (Piper siriboa L.; Allium sativum L.; Excoecaria
cochinchinensis Lour.; Polyalthia longifolia var. pendula; Callisia fragrans Lind), we
tried to evaluate the anti-bacterial effect and efficiency of extraction method with some
different solvent. Chemical methods were used to determine the chemical group in plant
extract. Anti-bacterial effect of plant extract and silver nano were evaluated by agar
diffusion method. To determine the effect of disease control in vivo, we measure the
disease mark in susceptible breed after 18 – 20 days post injection. were various from
9,687 % (Allium sativum L.) to 16,357% (Excoecaria cochinchinensis Lour.). At the
concentration of 100 mg/ml, all the extracts showed good anti-bacterial effect with
Xanthomonas oryzae. Diameter of the bacterial inhibition zones were from 15,67 mm
(Allium sativum L. extract) to 24,33 mm (Piper siriboa L. extract).
The results showed that, Piper siriboa L. extract solution with ethanol 70%
showed the best anti-bacterial efficacy.
Evaluating the extracted efficacy of Piper siriboa L. with sevent different
solvents (distilled water, ethanol 35%, ethanol 70%, ethanol 96%, acid acetic 5%,
aceton nitril 50% and aceton nitril 100%) showed that the highest efficiency was
ethanol 96% which had the weight average of dry glue about 0,40 g and the extract
efficiency was about 20%. Reducing sugars, coumarin, polyphenols, flavonoids, tannins
present in Piper siriboa L. extracts. The highest clear zone against 2 Xanthomonas
oryzae strains were 25,33 ± 1,15 mm and 26,33 ± 0,57 mm, respectively. The minimum
inhibitor concentration of extract against 2 strains 01 and 33 were 0,78 mg/ml and 1.56
mg/ml.
The minimum inhibitor concentration of silver nano were 6,26 ppm.
trường cho thấy, trung bình mỗi năm nước ta sử dụng từ 15 ngàn - 25 ngàn tấn
thuốc bảo vệ thực vật. Gần 100% diện tích đất canh tác nông nghiệp đều có sử
dụng thuốc bảo vệ thực vật. Trong khi đó, thuốc bảo vệ thực vật có chứa độc tố
cao với hàng trăm tên thương mại và nguồn gốc xuất xứ khác nhau. Tuy nhiên
việc lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật gây ảnh hưởng rất lớn đến môi trường sinh
thái và sức khỏe của con người, đồng thời làm xuất hiện các loài gây bệnh mới
có khả năng kháng thuốc.
Ngày nay, việc áp dụng các hướng tiếp cận mới trong việc sản xuất thuốc
bảo vệ thực vật an toàn và hiệu quả đang được đẩy mạnh nghiên cứu. Trong đó,
công nghệ nano bạc đã đạt được nhiều thành tựu trong nông nghiệp nói chung và
ngành bảo vệ thực vật nói riêng (Khot et al., 2012), tạo ra các sản phẩm hiệu quả,
an toàn và kinh tế. Bên cạnh đó, hướng tiếp cận sử dụng các hợp chất có nguồn
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 1
gốc từ thiên nhiên cũng được đẩy mạnh nghiên cứu (Jabeen, 2011), trong đó
nhiều loài đã được chứng minh có hiệu quả trong việc phòng chống một số loại
sâu bệnh hại cây trồng.
Xuất phát từ thực tiễn đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá
hiệu quả ức chế của Nano bạc và dịch chiết thực vật đối với vi khuẩn
Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá lúa”.
1.2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Thu được cao khô dịch chiết (DC) thực vật gồm (Trầu không, đơn đỏ,
huyền diệp, lược vàng, tỏi) và đánh giá hiệu suất tách chiết khi sử dụng các loại
dung môi tách chiết khác nhau. Xác định một số nhóm hoạt chất có trong các loại
dịch chiết thực vật.
Đánh giá tác dụng ức chế của nano bạc và dịch chiết thực vật đối với vi
khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá lúa (Oryza sativa L) trong điều kiện
- Tận dụng các nguồn thực vật sẵn có, kết hợp với nano bạc tạo ra chế
phẩm để phòng trừ vi khuẩn Xanthomonas oryzae gây bệnh bạc lá lúa.
- Chế phẩm hoàn thiện sẽ là cơ sở để tạo ra các sản phẩm nhằm thay thế
dần cho việc sử dụng thuốc trừ sâu hóa học trong phòng trừ sâu, bệnh trên cây
lúa và các loại cây trồng khác qua đó góp phần tạo ra các sản phẩm nông sản an
toàn cho người sử dụng và hạn chế ô nhiễm môi trường.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 3
PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. TỔNG QUAN VỀ NGHIÊN CỨU BỆNH BẠC LÁ
2.1.1. Bệnh bạc lá
Bệnh bạc lá lúa (Bacterial leaf blight of rice) được phát hiện đầu tiên ở
Fukuoka, Nhật Bản vào khoảng năm 1884 – 1885. Sau đó đã có báo cáo xuất hiện
bệnh ở nhiều nước khác nhau, đặc biệt ở Châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc,
Philippin), Bắc Châu Úc, Mỹ Latin; Trung Mỹ và Caribê (1975); Pakistan (1976);
…. Hiện nay, bệnh đã gây hại phổ biến ở hầu hết các nước trồng lúa trên thế giới.
Ở nước ta, bệnh này đã gây hại từ lâu trên các giống lúa mùa cũ, nhưng
đặc biệt từ năm 1965 – 1966 tới nay có năm bệnh phá hại một cách nghiêm trọng
ở các vùng đồng bằng trên các giống lúa mới nhập nội có năng suất cao ở vụ
xuân và nhất là trong vụ mùa . Theo số liệu thống kê của cục Bảo vệ thực vật, từ
năm 1999-2003 diện tích lúa bị hại do bệnh bạc lá gây ra trong cả nước là 108.691,4
ha (miền Bắc là 86.429,2 ha; miền Nam là 22.262,2 ha), trong đó diện tích bị hại
nặng nhất là 156,76 ha và diện tích mất trắng là 80 ha.
2.1.2. Nguyên nhân gây bệnh bạc lá
2.1.2.1. Nguồn gốc của bệnh bạc lá
xác định được 6 chủng, Indonesia đã xác định được 9 chủng, miền Bắc Việt Nam
đã xác định được 10 chủng (Phan Hữu Tôn, 2002).
Về nguyên nhân gây bệnh có thể kể đến một số nguyên nhân chính sau:
- Một số giống mẫn cảm với bệnh bạc lá như một số giống tạp giao và một
số giống chất lượng.
- Do thời tiết nóng ẩm, mưa to gió lớn xảy ra trong thời kỳ lúa cần quang
hợp cao.
- Do biện pháp canh tác làm đất, cây lúa nhiễm bệnh vàng lá sau lập thu,
bón thêm phân cấp cứu vàng lá, cây lúa ra lớp rễ mới phát triển lá non nên gặp
mưa dông dễ nhiễm bệnh bạc lá.
- Bệnh thường mẫn cảm với lượng đạm dư trong lá, những ruộng bón đạm
nhiều, bón muộn, bón lai rai, bón không cân đối giữ đạm, lân và kaly, những
ruộng trũng hẩu dồn đạm cuối vụ, do biện pháp thâm canh gieo cấy, chăm bón
không đúng kỹ thuật.
2.1.3. Tác hại của bệnh bạc lá
- Giảm diện tích quang hợp của lá; Giảm khối lượng 1000 hạt; Tăng tỷ lệ
hạt lép; Giảm 20 - 50% năng suất
2.1.4. Quy luật và các yếu tố ảnh hưởng đến phát sinh, phát triển bệnh bạc lá
2.1.4.1. Quy luật phát sinh, phát triển
Bệnh bạc lá phát sinh phát triển mạnh ở vụ mùa các tỉnh phía Bắc. Bệnh
phát triển, lây lan nhanh trong điều kiện nhiệt độ 26-29°C, ẩm độ 90%, đặc biệt
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 5
khi có mưa to và gió lớn làm dập nát lá lúa tạo thuận lợi cho bệnh truyền lan
(Phan Hữu Tôn, 2004). Vì thế vụ mùa bệnh thường gây tác hại nặng hơn vụ
xuân. Vụ chiêm xuân bệnh phát triển mạnh vào tháng 5 - 6, còn vụ mùa là tháng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
1- 2 x 0,5-0,9 µm, sống trên môi trường có khuẩn lạc hình tròn, màu vàng sáp, rìa
nhẵn, vi khuẩn nhuộm gram âm, không có khả năng khử NO3, không có dịch hoá
gelatin, không tạo ra NH3, indol, có khả năng tạo H2S.
Nhiệt độ thích hợp nhất cho vi khuẩn sinh trưởng 26 – 30oC, nhiệt độ tối
thiểu 0 - 5oC, tối đa 40oC. Nhiệt độ gây chết là 53oC trong 10 phút, có thể sống
trong phạm vi pH 5,7 - 8,5, thích hợp nhất ở pH 6,8 - 7,2. Vi khuẩn xâm nhiễm
qua thuỷ khổng, lỗ khí ở trên mút lá và đặc biệt qua vết thương xây xát trên lá.
Khi đã tiếp xúc với bề mặt có màng nước ướt, vi khuẩn dễ dàng di động tiến vào
bên trong các lỗ khí, qua vết thương mà sinh sản nhân lên về số lượng qua các bó
mạch dẫn lan rộng đi (Nguyễn Công Khoái, 2002).
Trong điều kiện mưa ẩm thuận lợi cho việc phát triển của vi khuẩn, trên
mặt lá bệnh tiết ra những giọt keo vi khuẩn thông qua sự va chạm giữa các lá lúa
nhờ mưa gió mà truyền lan tới các lá, các cây khác để tiến hành lây nhiễm lặp lại
trong nhiều đợt sinh trưởng. Cho nên tuy là một loại bệnh có cự ly truyền nhiễm
lây lan hẹp, song nó còn tùy thuộc vào mưa gió, giông bão xảy ra trong vụ mùa
mà bệnh có thể truyền lan với phạm vi không gian khá rộng, giọt keo vi khuẩn
với số lượng nhiều, đó chính là một nguyên nhân quan trọng làm bệnh lây lan sau
những đợt mưa gió vào cuối vụ lúa xuân và trong suốt vụ mùa ở nước ta (Phan
Hữu Tôn, 2004).
2.2. TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ SỬ DỤNG DỊCH CHIẾT THỰC
VẬT TRONG VIỆC PHÒNG TRỪ SÂU, BỆNH TRÊN THẾ GIỚI VÀ
VIỆT NAM
2.2.1. Tình hình nghiên cứu và sử dụng dịch chiết thực vật trong việc phòng
trừ sâu, bệnh trên thế giới
gram dương bao gồm các chủng Staphylococcus đa kháng.
Okigbo and Nmeka (2005) Nghiên cứu khả năng kiểm soát bệnh thối củ
khoai mỡ từ DC lá và hạt cây Xylopia aethiopica and Zingiber officinale.
Lalitha et al. (2010) sử dụng dịch chiết từ cây Solanum torvum bằng dung
môi ethanol và methanol cho kết quả kháng tốt với nhiều loại bệnh gây hại trên
hạt lúa.
Govindappa (2011) Dịch chiết từ lá cây Adathoda vasica không chỉ kháng lại
vi khuẩn X. oryzae mà còn kích thích tính kháng tập nhiễm hệ thống trên cây lúa.
Tinh dầu cây cam ba lá (Poncirus trifoliata) có khả năng ức chế vi khuẩn
Xanthomonas oryzae trong điều kiện in vitro, với nồng độ ức chế tối thiểu là 62,5
µg/ml (Rahman et al., 2014).
Ahameethunisa and Hopper (2010) đã tìm ra sự hiện diện của các chất dẫn
xuất phytochemical trong các chất chiết xuất từ A. nilagirica. Do đó, sự cô lập và
tinh chế hợp chất tiềm năng điều trị từ A. nilagirica có thể được sử dụng như một
nguồn hiệu quả chống lại bệnh do vi khuẩn trên con người và thực vật.
2.2.2. Tình hình nghiên cứu và sử dụng dịch chiết thực vật trong việc phòng
trừ sâu, bệnh ở Việt Nam
Theo Phạm Bình Quyền (1988), khi nghiên cứu phòng trừ côn trùng gây
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
hại bằng các yếu tố sinh học, đã đánh giá các chế phẩm sinh học và thảo mộc có
hiệu lực đối một số loại sâu hại trên cây đậu ăn quả. Chế phẩm thảo mộc Artoxid
(dạng dịch chiết cây thanh hao) có hiệu lực cao với rệp đậu màu đen.
Theo Nguyễn Duy Trang (1995), hạt na kết hợp với các loại dung môi
(cồn 96º, Acetone, Methanol) có hiệu quả phòng trừ sâu tơ và sâu khoang đạt
66,25 – 79,84% sau phun 72 giờ; nhưng hiệu quả phòng trừ bọ nhảy không cao
(đạt 21,27 – 49,23% sau phun 72 giờ).
thập tự (đạt 61,3 - 88,3% sau phun 7 ngày).
Theo Lê Thị Nga (2012), dung dịch ngâm hỗn hợp lá đu đủ và cỏ Siam
có hiệu quả cao trong phòng trừ sâu xanh bướm trắng cao (đạt 73,56% sau
phun 10 ngày).
Theo Đặng Thị Phương Lan (2012), Matrine được chiết xuất từ cây khổ
sâm và chất Azadirachtin được chiết xuất từ cây xoan có hiệu quả phòng trừ cao
đối với sâu tơ, sâu khoang hại rau họ hoa thập tự; bị trĩ hại bầu bí, cà chua, dưa
chuột; ruồi đục lá đậu đỗ (đạt 60,3 - 89,73% sau phun 5 - 7 ngày); nhưng có hiệu
quả thấp đối với bọ nhảy (đạt 31,13 - 33,76% sau phun 5 - 7 ngày). Chế phẩm
Azadirachtin đạt hiệu quả cao đối với sâu tơ và sâu khoang hại rau họ hoa thập tự
(đạt 70,71 - 79,92% sau phun 5 - 7 ngày); đạt hiệu quả trung bình đối với rồi đục
lá đậu đỗ (đạt 57,41 - 53,78% sau phun 5 - 7 ngày) và đạt hiệu quả thấp đối với
sâu đục quả và bọ nhảy (đạt 48,25 - 51,14% sau phun 5 - 7 ngày).
2.3. THỰC VẬT
2.3.1. Cây Đơn đỏ
2.3.1.1 Nguồn gốc, phân loại
Tên khoa học: Excoecaria cochinchinensis Lour.Tên đồng nghĩa:
Excoecaria bicolor Hask. Tên nước ngoài: Blinding tree (Anh). Chi: Excoecaria
L. Họ: Thầu dầu – Euphorbiaceae
Chi Excoecaria L. có 5 loài ở Việt Nam. Loài đơn đỏ tồn tại ở 2 dưới loài:
E. cochinchinensis Lour. var. cochichinensis và E. cochinchinensis Lour. var.
viridis (Pax ex Hoffm) Merr. (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1995).
Cây đơn đỏ (còn có những tên gọi khác như: đơn tía, đơn mặt trời, đơn tướng
quân, cây lá liễu, hồng bối quế hoa, cây mặt quỷ...) là loài bản địa Đông Nam Á và
Trung Quốc. Cây cũng có ở Lào và Campuchia. Tại Việt Nam, cây mọc hoang hay
được trồng ở nhiều nơi như Long An, Tiền Giang, Hậu Giang, Đồng Tháp, An
Giang, Thái Bình, Nam Định... Cây được trồng nhiều ở làng hoa Ngọc Hà - Hà Nội
để làm thuốc.
Đơn mặt trời là cây ưa sáng, ưa ẩm, thường được trồng ở vườn gia đình
hay các vườn thuốc của các cơ sở y tế để làm cảnh và làm thuốc. Cây xanh tốt
Lá đơn đỏ chứa flavonoid (15%), tanin, saponin, anthranoid, coumarin.
Từ lá khô của cây đơn đỏ, Nguyễn Thái An (2010) đã chiết và phân lập
được 2 acid polyphenol là acid gallic và acid ellagic, 2 flavonol là kaempferol 7O-glucosid và kaempferol. Hoàng Thị Tuyết Nhung (2012) cũng đã chiết xuất và
tinh chế được hợp chất kaempferol.
2.3.2. Cây huyền diệp (Polyalthia longifolia var. pendula)
2.3.2.1. Phân loại
Tên khoa học: Polyathia longifolia var. pendula. Tên thông thường: Huyền
Diệp, Hoàng Nam. Thuộc họ Na: Annonaceae. Thuộc chi Nhọc: Polyalthia.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 11
2.3.2.2. Nguồn gốc
Chi Nhọc (Polyalthia) là một chi lớn trong họ Na (Annonaceae), có
khoảng 150 loài, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới châu Phi, châu Á và miền bắc
nước Úc, số lớn các loài tập trung ở Đông Nam Á. Ở Việt Nam có 27 loài, phân
bố khắp các vùng.
Huyền diệp còn được gọi là Hoàng nam, là một loài cây gỗ thường xanh
thuộc họ Mãng Cầu (Na) – Annonaceae, phân bố tự nhiên ở Sri-Lanka, được trồng
phổ biến ở Ấn Độ. Ở Ấn Độ cây Ashoka (huyền diệp) được biết phổ biến qua truyền
thuyết Đức Phật Thích Ca ra đời nên nó cũng có tên là Sorrowless Tree, mà người
Việt còn gọi là cây Vô Ưu. Các nhà phân loại học thực vật trên thế giới biết cây
huyền diệp với tên khoa học là Polyalthia longifolia (dịch nghĩa: Nhọc lá dài), hoặc
Polyathia longifolia cultival. pendula (dịch nghĩa: Nhọc rũ).
2.3.2.3. Mô tả thực vật
Cây gỗ nhỡ, cao 5-15m, phân cành sớm từ gốc, dài, cong, rũ xuống, tán
hẹp, dạng tháp, che kín gần hết thân, xanh quanh năm. Lá đơn mọc cách, dạng
thuôn dài hẹp, đầu nhọn, gốc tù, dài 8-20cm, rộng 2-4cm, màu xanh bóng nhẵn