HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NÔNG THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ
LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA BC15 VỤ XUÂN 2015
TẠI HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NÔNG THỊ HUẾ
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ
LƯỢNG ĐẠM BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG LÚA BC15 VỤ XUÂN 2015
TẠI HUYỆN THẠCH THẤT, HÀ NỘI
CHUYÊN NGÀNH: KHOA HỌC CÂY TRỒNG
MÃ SỐ: 60.62.01.10
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. NGUYỄN ÍCH TÂN
HÀ NỘI, NĂM 2015
Nông Thị Huế
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page ii
MỤC LỤC
Lời cam đoan
i
Lời cảm ơn
ii
Mục lục
iii
Danh mục chữ viết tắt
vi
Danh mục bảng
vii
2
1.3
Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
2
1.3.1
Ý nghĩa khoa học
2
1.3.2
Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
2
Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
3
1.1
Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
3
1.2.3
Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa trên thế giới và ở Việt Nam
9
1.2.4
Một số nghiên cứu về mật độ cho lúa trên thế giới và ở Việt Nam
18
1.3
Thực trạng sản xuất lúa tại huyện Thạch Thất, Hà Nội
22
1.3.1
Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội
22
1.3.2
Tình hình sản xuất lúa của huyện Thạch Thất
24
26
2.3
Phương pháp nghiên cứu
27
2.3.1
Bố trí thí nghiệm
27
2.3.2
Các biện pháp kỹ thuật
28
2.3.3
Các chỉ tiêu theo dõi
29
2.3.4
Phương pháp xử lý số liệu
giống lúa BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.2
38
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh lý của
giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.2.4
44
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.2.5
44
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng chất khô và
tốc độ tích lũy chất khô của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại
Thạch Thất
3.3
49
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm và
hiệu quả kinh tế của giống BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.5.1
62
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu suất bón đạm của
giống BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.5.2
62
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến hiệu quả kinh tế của
giống BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
63
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
64
1
Kết luận
64
2
CV%
Hệ số biến động (Coefficient of variation)
HSĐN
Hệ số đẻ nhánh
HSĐNHH
Hệ số đẻ nhanh hữu hiệu
kg
Kilogam
KLTLCK
Khối lượng tích lũy chất khô
KT
Kết thúc
KTĐN
Kết thúc để nhánh
LAI
Tích lũy chất khô
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT
Tên bảng
Trang
1.1
Diện tích, năng suất và sản lượng lúa của thế giới giai đoạn từ 2000-2013
1.2
Tình hình sản xuất lúa gạo của 5 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất trên
4
thế giới 2013
5
1.3
35
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái tăng trưởng
chiều cao cây của giống lúa BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.3a
Ảnh hưởng của mật độ đến động thái đẻ nhánh của giống lúa BC15 vụ
Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.3b
39
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của giống lúa
BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.3c
39
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến động thái đẻ nhánh của
giống lúa BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.3d
41
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến HSĐN và HSĐNHH
3.5a
48
Ảnh hưởng của mật độ đến khối lượng chất khô và tốc độ tích lũy chất
khô của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.5b
50
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng chất khô và tốc độ tích
lũy chất khô của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.5c
51
Ảnh hưởng của lượng đạm bón đến khối lượng chất khô tích lũy của
giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.5
52
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khả năng chống chịu
sâu bệnh của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.7a
giống BC15 vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
63
Page viii
DANH MỤC HÌNH
STT
Tên hình
Trang
1.1
Sản xuất lúa gạo thế giới phân theo khu vực
3
3.1
Ảnh hưởng của mật độ đến động thái tăng trưởng chiều cao cây của
giống lúa BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.2
35
3.7
47
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến chỉ số diện tích lá (LAI)
của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
3.8
38
47
Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến khối lượng chất khô và tốc
độ tích lũy chất khô của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại Thạch Thất
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
51
Page ix
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Huyện Thạch Thất nằm ở phía Tây của thành phố Hà Nội, có diện tích đất tự
nhiên khoảng là 20.250,85 ha, trong đó diện tích đất nông nghiệp khoảng 9.478 ha,
chiếm khoảng 45,7% diện tích, còn lại là đất phi nông nghiệp. Huyện Thạch Thất có
vị trí địa lý quan trọng về quốc phòng - an ninh, nhiều tiềm năng về phát triển công
nghiệp, dịch vụ thương mại, du lịch và nông nghiệp. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch
Hà Nộị.
1.2.2. Yêu cầu
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các chỉ tiêu sinh
trưởng, sinh lý, mức độ nhiễm sâu bệnh hại của giống lúa BC15 vụ Xuân 2015 tại
huyện Thạch Thất, Hà Nội.
- Đánh giá ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm bón đến các yếu tố cấu thành
năng suất và năng suất của giống BC15 trong vụ Xuân 2015 tại huyện Thạch Thất,
Hà Nội.
- Đánh giá hiệu suất bón đạm, hiệu quả kinh tế của giống lúa BC15 trong vụ
Xuân 2015 tại huyện Thạch Thất, Hà Nội.
1.3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa khoa học
Kết quả nghiên cứu của đề tài dùng làm tài liệu tham khảo góp phần định
hướng cho việc nghiên cứu biện pháp kỹ thuật thâm canh cũng như đề xuất xây
dựng quy trình kỹ thuật thâm canh cho giống lúa BC15.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn của đề tài:
Kết quả nghiên cứu của đề tài góp phần tích cực trong việc chỉ đạo, hướng
dẫn sản xuất nhằm tăng năng suất, hiệu quả kinh tế cũng như mở rộng sản xuất
giống lúa BC15 tại huyện Thạch Thất, Hà Nội.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 2
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1. Tình hình sản xuất lúa trên thế giới
Lúa là cây lương thực chính của nhiều quốc gia trên thế giới vì khả năng thích
nghi rộng với nhiều điều kiện sinh thái khác nhau. Theo thống kê thì hiện nay trên
Diện tích (triệu ha)
Năng suất (tạ/ha)
2000
154,1
38,9
599,4
2001
152,0
39,4
598,9
2002
147,7
38,4
567,2
2003
2007
155,8
42,3
659,0
2008
154,8
42,4
656,4
2009
155,8
42,1
655,9
2010
155,6
43,3
Về sản lượng: Cùng với sự tăng ổn định về diện tích và năng suất thì sản lượng
lúa của thế giới cũng tăng trưởng không ngừng qua các năm. Hiện nay tổng sản
lượng lúa trên thế giới đạt 744,1 triệu tấn, tăng 24,4% so với năm 2000.
Hiện nay 5 nước có sản lượng lúa gạo lớn nhất trên thế giới lần lượt là Trung
quốc, Ấn Độ, Indonesia, Bangladesh và Việt Nam. Tình hình sản xuất lúa gạo của
các nước này năm 2013 được thể hiện ở bảng 1.2:
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 4
Bảng 1.2: Tình hình sản xuất lúa gạo của 5 nước sản xuất lúa gạo lớn nhất
trên thế giới 2013
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(triệu ha)
(tạ/ha)
(triệu tấn)
Thế giới
166,1
11,7
43,7
51,1
Việt Nam
7,9
55,7
44,0
Nước
Nguồn FAO STAT, 2013
Qua bảng 1.2:
Trong số các nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới thì hiện nay Ấn Độ đang
là nước dẫn đầu về diện tích trồng lúa với 43,5 triệu ha trồng lúa chiếm 26,2% tổng
diện tích trồng lúa trên thế giới, tiếp theo là Trung Quốc với diện tích là 30,2 triệu
ha chiếm 18,2% tiếp theo là Indonesia với 13,8 triệu ha, Bangladesh 11,7 triệu ha.
Việt Nam 7,9 triệu ha.
Vê năng suất lúa thì trong số các nước này Trung Quốc là nước có năng suất
lúa cao nhất với năng suất đạt 67,2 tạ/ha, tiếp theo là Việt Nam với 55,7 tạ/ha đều
cao hơn khá nhiều so với năng suất trung bình toàn thế giới. Ấn Độ là nước có năng
suất lúa thấp nhất trong số các nước này với năng suất lúa trung bình năm 2013 chỉ
đạt 36,5 tạ/ha và thấp hơn so với năng suất trung bình toàn thế giới.
Về sản lượng lúa gạo thì Trung Quốc hiện đang là nước dẫn đầu về sản lượng
lúa gạo, sản lượng lúa gạo năm 2013 của Trung Quốc là 202,9 triệu tấn chiếm
trưởng bình quân các năm từ năm 2000-2013 là 0,83 tạ/ha Năm 2000 năng suất lúa
trung bình của nước ta chỉ đạt 42,1 tạ/ha thì đến năm 2013 đã đạt 55,8 tạ/ha cao hơn
so với năng suất lúa trung bình của thế giới. Chính điều này làm cho tổng sản lượng
lúa của nước ta từ năm 2000 đến nay luôn tăng mặc dù diện tích trồng lúa có nhiều
biến động lên xuống. Hiện nay sản lượng lúa của nước ta đã đạt hơn 5 triệu tấn và
đứng thứ 5 trong số các nước sản xuất lúa gạo lớn trên thế giới.
Việt Nam đang đứng thứ 3 thế giới về xuất khẩu gạo tuy nhiên vấn đề hiện nay
của ngành lúa gạo của nước ta là sản phẩm lúa gạo có giá thấp trên thị trường quốc
tế do chất lượng gạo của Việt Nam thấp so với các nguồn cung cấp khác. Do nước
ta thường sử dụng các giống ngắn ngày (3 tháng/vụ), thời gian sinh trưởng ngắn đã
tạo ra chất lượng gạo của chúng ta luôn thấp, không đảm bảo.
Bảng 1.3 Tình hình sản xuất lúa ở Việt Nam giai đoạn từ năm 2000-2013
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 6
Năm
Diện tích
Năng suất
Sản lượng
(nghìn ha)
(tạ/ha)
(nghìn tấn)
3.472,7
2004
7445,3
48,0
3.573,7
2005
7329,2
49,5
3.628,0
2006
7324,8
48,9
3.581,8
2007
7207,4
7655,4
55,4
4.241,1
2012
7761,2
56,3
4.369,6
2013
7899,4
55,8
4.407,9
Nguồn FAO STAT, 2013
Mặt khác hiện nay chúng ta chủ yếu sản xuất gạo hạt dài Indica nhưng hạt dài
của Việt Nam luôn thấp hơn các nước khác. Ở Việt Nam quy định cỡ hạt dài là 6,2
mm, ở vùng Đông Bắc Thái Lan giống gạo hạt dài của họ là 7 mm và có thể dài
hơn. Chưa kể đến việc sử dụng giống ngắn ngày ở Việt Nam khiến gạo bị bạc bụng
không trong suốt như gạo của Thái Lan. Ở Đông Bắc Thái Lan có đến trên 60%
diện tích chỉ trồng 1 vụ/năm theo mùa mưa, ở miền Trung Thái Lan có hồ chứa
Quang hợp của cây lúa trong giai đoạn vào chắc tạo ra khoảng 60- 100%
lượng hydratcacbon trong hạt. Theo Yoshida, 1981 phần còn lại là do từ các bộ
phận khác chuyển đến. Để đạt được năng suất hạt cao nhất thì hoạt động trao đổi
trong hạt phải trùng với giai đoạn lá lúa có hoạt động quang hợp mạnh nhất. Thực
tế, năng suất lúa cao ở những giống mà lá có thể duy trì hoạt động quang hợp đến
tận giai đoạn vào chắc. Bón đạm làm tăng diện tích lá, bề rộng của tán lá, duy trì
hoạt động quang hợp của cây vì vậy ảnh hưởng quyết định đến năng suất lúa (Mae
và cs,1981).
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 8
Cây lúa cần đạm trong tất cả các giai đoạn sinh trưởng, tuy nhiên giai đoạn
đẻ nhánh lúa cần nhiều N nhất (Nguyễn Văn Hoan và Vũ Văn Hiển, 1999).
Khi bón đạm nhiều làm cây chậm thành thục, hạt chín không đẫy hạt so với bón
ít đạm. Như vậy đạm nhiều sẽ ảnh hưởng xấu đến độ thành thục của hạt.
Cung cấp đủ đạm cho lúa và đúng lúc làm cho lúa đẻ nhánh nhanh và tập
trung, tạo nhiều nhánh hữu hiệu. Mặt khác bón đạm làm tăng hàm lượng protein, do
đó ảnh hưởng đến chất lượng gạo.
Thiếu đạm làm cho cây lúa thấp, đẻ nhánh kém, đòng nhỏ, khả năng trỗ kém,
số hạt/ bông ít, hạt lép nhiều, năng suất thấp. Thừa đạm làm cho lá to, dài, phiến lá
mỏng, nhánh vô hiệu nhiều, lúa trỗ muộn, cây cao, lốp, đổ non, ảnh hưởng xấu đến
năng suất và phẩm chất lúa. Bên cạnh đó đạm cũng ảnh hưởng đến khả năng
chống chịu sâu bệnh của lúa. Thừa hoặc thiếu đạm đều làm cho lúa dễ bị nhiễm
sâu bệnh hại do sức đề kháng giảm (Nguyễn Như Hà, 2006).
1.2.2. Đặc điểm dinh dưỡng đạm của cây lúa
Cây hút đạm dưới dạng NH4+ và NO3-. Tùy loài cây mà có thể chia ra loài cây
ưa NH4+ và cây ưa NO3-. Lúa là cây ưa NH4+ điển hình. Trong thời kỳ đầu sinh trưởng
của cây lúa có khuynh hướng hút NH4+, lúa còn hút cả NO3-. Ở ruộng khô lúa hút cả
kgN/ha cần bón 150 – 200 kgN/ha vì lúa còn hút được đạm từ đất.
Liểu lượng N bón còn phụ thuộc vào giống, giống lai yêu cầu lượng đạm bón
cao hơn giống thuần (Yoshida, 1983). Theo Yoshida (1983) nếu bón đạm với liều
lượng cao thì hiệu suất cao nhất là lúc lúa đẻ nhánh và sau đó giảm dần. Với liều
lượng bón thấp thì bón vào lúc lúa đẻ nhánh và 10 ngày trước trỗ cho hiệu quả cao.
Theo Cook, 1975 khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón tới năng suất và
chất lượng hạt lúa đã kết luận: Năng suất của các giống lúa tăng dần theo lượng
đạm bón, nếu bón 100 -150 kgN/ha có thể tăng năng suất từ 10,3 lên 39,9 kg/ha.
1.2.3.2. Một số nghiên cứu về lượng đạm bón cho lúa ở Việt Nam
Nghiên cứu bón phân đạm trên đất phù sa sông Hồng, tập thể nghiên cứu của
viện Khoa học kỹ thuật nông nghiệp Việt Nam đã tổng kết các thí nghiệm từ năm
1992 - 1994 cho thấy: Phản ứng của phân đạm tùy thuộc vào từng thời vụ, nền đất
và loại giống.
Viện nghiên cứu đồng bằng sông Cửu Long đã có nhiều thí nghiệm về ảnh
hưởng của lượng đạm bón khác nhau đến năng suất lúa vụ đông xuân và hè thu trên
đất phù sa đồng bằng sông Cửu Long. Kết quả nghiên cứu trung bình nhiều năm, từ
1985 đến 1994 của viện lúa đồng bằng sông Cửu Long đã chứng minh rằng: Trên
đất phù sa được bồi hàng năm có bón 60 kg P2O5 và 30 kg K2O thì khi bón N đã
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 10
làm tăng năng suất lúa từ 15 - 48,5% trong vụ đông xuân và 8,8 - 35,6% trong
vụ hè thu. Hướng chung của cả hai vụ đều bón đến công thức 90 kgN/ha có hiệu
quả cao hơn cả, bón trên công thức N này thì năng suất lúa tăng không đáng kể.
Theo Nguyễn Thị Lẫm, 1994 khi nghiên cứu về bón đạm cho các giống lúa cạn đã
kết luận: Liều lượng đạm bón thích hợp cho các giống lúa địa phương là 60 kg
N/ha, giống lúa thâm canh là 90 - 120 kgN/ha.
Theo Nguyễn Ích Tân và Nguyễn Thị Thu (2012), năng suất lúa Japonica J02 tại
Các giống lúa khác nhau yêu cầu lượng đạm bón khác nhau. Thông thường
giống có tiềm năng cho năng suất cao bao giờ cũng cần lượng đạm cao (Phạm Văn
Cường và cs., 2005). Giống lúa lai yêu cầu lượng đạm bón cao hơn giống lúa thuần.
Lượng đạm sử dụng cho giống lúa lai là 120 – 150 kgN/ha, giống lúa thuần là 80 –
100 kgN/ha (Nguyễn Văn Hoan, 2006).
Liều lượng N bón cho lúa không chỉ phụ thuộc vào giống mà còn phụ thuộc
vào điều kiện đất đai. Trên đất phù sa sông Hồng phân đạm có hiệu lực cao nhưng
với trình độ kỹ thuật canh tác hiện nay cũng chỉ nên bón tới 120 kgN/ha, là công
thức đạm bón có thể đạt năng suất 5,0 – 5,5 tấn/ha/vụ. Với công thức bón 80
kgN/ha/vụ có thể đạt năng suất 5 tấn/ha/vụ nhưng không ổn định được độ phì của
đất (Nguyễn Như Hà và cs., 2000).
Trên đất phù sa sông Bồ, tỉnh Thừa Thiên – Huế, số hạt chắc/bông và khối
lượng 1000 hạt tăng theo lượng đạm bón, còn số bông/m2 và năng suất thực thu đạt
cao nhất ở công thức 100 kgN/ha. Theo phương trình tuyến tính hồi quy năng suất lúa
bắt đầu giảm ở công thức bón 120 kgN/ha (Trần Danh Đức, 2003). Trên đất bạc màu,
năng suất đạm cao nhất khi bón 120 kgN/ha trên nền 90 – 135 kg P2O5/ha + 80 kg
K2O/ha, khi bón lượng đạm cao hơn thì năng suất giảm (Trần Thúc Sơn, 1996).
Kết quả nghiên cứu tại viện nghiên cứu lúa đồng bằng sông Cửu Long cho
thấy, mỗi mùa vụ lúa yêu cầu một lượng đạm bón khác nhau. Chiều cao cây và thời
gian sinh trưởng tương quan thuận với lượng đạm đầu tư, trong đó vụ hè thu tăng
thấp hơn vụ đông xuân. Số bông/m2 đạt cao nhất ở công thức phân bón 60 kgN/ha
trong vụ hè thu và 120 kgN/ha trong vụ đông xuân. Số hạt chắc/bông đạt cao nhất ở
công thức 60 kgN/ha trong vụ hè thu và 80 kgN/ha trong vụ đông xuân.
Phạm Văn Cường và Trần Thị Vân Anh (2006) khẳng định khi tăng lượng
đạm bón thì năng suất hạt của các giống lúa thuộc cả nhóm lúa lai, lúa cải tiến và
lúa địa phương đều tăng, đặc biệt tăng mạnh ở các giống lúa lai do tăng chủ yếu số
bông/khóm, số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc.
Như vậy, phân bón đặc biệt là phân đạm rất quan trọng trong nâng cao năng
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
xu hướng mất dưới dạng khí rất cao, đặc biệt là khí NH3. Bón urea phối hợp với
một số loại phân khác nhau có thể làm giảm quá trình này. Thực tế cho thấy trộn
NH4PO4 với H4F, (NH4)2SO4 hoặc (NH4)2CO3 làm giảm cường độ bốc hơi NH3.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp
Page 13
Vị trí bón cũng ảnh hưởng đến sự bốc hơi NH3, bón amon trên bề mặt thì sự
bốc hơi NH3 là rất lớn, có thể hạn chế quá trình này bằng cách bón phân amon
sâu vào lòng đất.
Để nâng cao hiệu suất sử dụng phân đạm cho lúa, nhiều nghiên cứu về cách
bón phân cũng đã được tiến hành. Theo Bùi Huy Đáp (1985), Nguyễn Như Hà
(2006): Khi đạm được bón sâu 5 – 10 cm vào tầng khử của đất thì hiệu quả sử
dụng đạm cao hơn. Bón đạm vào tầng khử, đạm được các keo đất giữ dưới dạng
NH4+, cung cấp dần cho lúa, ngăn chặn việc hình thành NO3-, hiệu lực của đạm có
thể tăng lên gấp đôi.
Các nghiên cứu của Trần Thúc Sơn (1996) cho kết quả là: Các phương pháp
vùi urea không ảnh hưởng đến năng suất lúa, tuy nhiên làm tăng lượng đạm lúa tích
lũy một cách chắc chắn. Bón phân viên nén và chất hữu cơ khi tưới tiết kiệm đã làm
tăng 35,4% năng suất so với bón phân vãi và tưới theo phương pháp truyền thống,
tiết kiệm được 33% lượng đạm bón (Nguyễn Tất Cảnh, 2006).
Trộn phân đạm với đất bột rồi vo viên dúi vào gốc lúa làm tăng hệ số sử
dụng đạm từ 50 -100%. Bọc phân đạm vào đất thịt và bón vào giữa 4 khóm lúa
cũng cho hiệu quả như bón phân viên nén. Bón phân viên với lượng 40 kgN/ha cho
số bông nhiều hơn so với bón vãi với lượng 40 – 80 kgN/ha. Cùng bón 40 kgN/ha,
bón vãi cho năng suất tăng 4 tạ/ha, bón phân viên tăng 8,5 – 15,5 tạ/ha so với công
thức không bón. Khi bón 80 kgN/ha thì bón vãi tăng tương ứng là 13,5 tạ/ha, bón
phân viên tăng 20,5 – 25,5 tạ/ha. Bón phân sâu và tập trung làm cho hiệu quả của
phân hóa học tăng 2 lần (Bùi Huy Đáp, 1985). Tuy nhiên phương pháp này tốn