đặc điểm ngoại hình, khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà đông tảo nuôi trong nông hộ tại khoái châu hưng yên - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGÔ VĂN QUỐC

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA GÀ ĐÔNG TẢO NUÔI
TRONG NÔNG HỘ TẠI KHOÁI CHÂU - HƯNG YÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
-----

-----

NGÔ VĂN QUỐC

ĐẶC ĐIỂM NGOẠI HÌNH, KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG
VÀ CHẤT LƯỢNG THỊT CỦA GÀ ĐÔNG TẢO NUÔI
TRONG NÔNG HỘ TẠI KHOÁI CHÂU - HƯNG YÊN

Chuyên ngành

: Chăn nuôi

Mã số

: 60.62.01.05

và biết ơn sâu sắc PGS.TS Vũ Đình Tôn đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công
sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề
tài.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý Đào
tạo, Bộ môn Chăn nuôi Chuyên khoa, Khoa Chăn nuôi - Học viện Nông nghiệp Việt
Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành
luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo và các hộ gia đình tại xã Đông
Tảo, huyện Khoái châu, tỉnh Hưng Yên đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong
suốt quá trình thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè và đồng nghiệp đã tạo mọi
điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn
thành luận văn./.

Hà Nội, ngày ... tháng ... năm 2015
Học viên

Ngô Văn Quốc

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC

Lời cam đoan

i


1

1.1

Đặt vấn đề

1

1.2

Mục tiêu của đề tài

2

1.3

Ý nghĩa của đề tài

2

Phần 2. Tổng quan tài liệu

3

2.1

Cơ sở khoa học của đề tài

3


2.2.3

Các chỉ tiêu đánh giá sự sinh trưởng

15

2.2.4

Hiệu quả sử dụng thức ăn

19

2.2.5

Chất lượng thịt

20

2.3

Tình hình nghiên cứu chăn nuôi gia cầm trong nước và trên thế giới

22

2.3.1

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

22



26

3.2.2

Đặc điểm ngoại hình của gà Đông Tảo

26

3.2.3

Năng suất sinh trưởng của gà Đông Tảo

26

3.2.4

Năng suất và chất lượng thịt gà Đông Tảo

27

3.3

Phương pháp nghiên cứu

27

3.3.1

Khảo sát số lượng và sự phân bố của gà Đông Tảo


4.1

Cơ cấu đàn gà đông tảo

34

4.2

Đặc điểm ngoại hình của gà đông tảo

36

4.2.1

Đặc điểm ngoại hình của gà con 1 tuần tuổi

36

4.2.2

Đặc điểm ngoại hình của gà Đông Tảo ở 8 tuần tuổi

38

4.2.3

Đặc điểm ngoại hình của gà Đông Tảo trưởng thành

38


4.4.5

Hiệu quả sử dụng thức ăn

69

4.4

Năng suất và chất lượng thịt gà Đông Tảo

71

4.4.1

Năng suất thịt của gà Đông Tảo

72

4.4.2

Chất lượng thịt gà Đông Tảo

73

Phần 5. Kết luận và đề nghị

75

5.1

DVT

Đơn vị tính

FAO

Food and Agriculture Organization of the United Nations

HQSDTA

Hiệu quả sử dụng thức ăn

KL

Khối lượng



Thức ăn

TKL

Tăng khối lượng

TTTA

Tiêu tốn thức ăn

UBND


Bảng 4.5a. Kích thước chiều dài lưng của gà Đông Tảo

46

Bảng 4.5b. Chiều dài lườn của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

48

Bảng 4.5c. Chiều dài đùi của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

50

Bảng 4.5d. Chiều dài bàn chân của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

52

Bảng 4.5e. Kích thước vòng ngực của gà Đông Tảo

54

Bảng 4.5f. Kích thước vòng chân to của gà Đông Tảo

56

Bảng 4.5g. Kích thước vòng chân nhỏ của gà Đông Tảo

58

Bảng 4.6. Tỷ lệ nuôi sống của gà Đông Tảo từ 1 - 24 tuần tuổi


Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page vi


DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1

Gà Đông Tảo 1 tuần tuổi

37

Hình 4.2

Chân gà Đông Tảo 1 tuần tuổi

37

Hình 4.3

Gà Đông Tảo 8 tuần tuổi

38

Hình 4.4

Màu lông gà trống Đông Tảo trưởng thành

40


Hình 4.7d

Chiều dài chân của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

53

Hình 4.7e

Kích thước vòng ngực của gà Đông Tảo

55

Hình 4.7f

Kích thước vòng chân to của gà Đông Tảo

57

Hình 4.7g

Kích thước vòng chân nhỏ của gà Đông Tảo

59

Hình 4.8

Sinh trưởng tích lũy của gà Đông Tảo qua các tuần tuổi

64

chất lượng bình thường với giá trị pH24 nằm trong khoảng cho phép (từ 5,5 đến
6,2). Màu sắc của thịt lườn và thịt đùi của gà Đông Tảo đều có chất lượng tốt và
màu sắc thịt đạt tiêu chuẩn (46 < L* < 53). Mặt khác, độ dai của thịt đùi (31,06kg)
là cao hơn thịt lườn (28,44kg).
Từ khóa: Chất lượng thịt, gà Đông Tảo, khả năng sinh trưởng, tỉnh Hưng Yên.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page viii


THESIS ABTRACTS

This study was conducted at Dong Tao commune, Khoai Chau district,
Hung Yen province from 2014 to 2015 to evaluate the appearance characteristics,
growth performance and meat quality of Dong Tao chickens under the household
raising conditions. The study results showed that the one-day-old Dong Tao
chicks are characterized by two main feather colors be opalescent (82.33%) and
light-brown (17.67%). The mature Dong Tao cocks have two main feather colors
are ripe-plum (87.14%) and dark (12.86%). Meanwhile, the mature hens have
three feather colors are sparrow (6.87%), clay (22.50%) and longan-cover
(70.63%). The Dong Tao chicken legs are characterized by two types of scales
are meat scales (70.71% and 96.87% of the total studyed cocks and hens,
respectively) and normal one (29.29% and 3.13% of the total studyed cocks and
hens respectively). Dong Tao chicken meat contains a high nutrition value with
the crude protein percentages reaching 23.17% and 19.81% in the cocks and hens
respectively. Besides that, the Dong Tao chicken meat has a normal quality with
the pH value attaining the allowed standard range (from 5.5 to 6.2). The colors of
breast and thigh meats of Dong Tao chicken are met the standards (46
trưởng thành đạt 3,8-4,0 kg, gà mái đạt 3,0-3,5 kg (theo Nguyễn Hữu Lương và
Trần Thị Loan, 2009).
Hiện nay, gà Đông Tảo không chỉ được nuôi tại xã Đông Tảo, huyện
Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên mà đã được phát triển ra nhiều khu vực khác trong
cả nước như: Hà Nội, Thái Bình, Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai,
Khánh Hòa, Long An… Nhằm cung cấp thông tin khoa học về khả năng sinh
trưởng, phát triển và chất lượng thịt của gà Đông Tảo nuôi trong điều kiện nông
hộ hiện nay, chúng tôi đã thực hiện đề tài nghiên cứu: “Đặc điểm ngoại hình,
khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của gà Đông Tảo nuôi trong nông hộ
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 1


tại Khoái Châu, Hưng Yên”.
1.2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Đánh giá được thực trạng chăn nuôi gà Đông Tảo.
- Mô tả được đặc điểm ngoại hình và xác định được kích thước các
chiều đo cơ thể gà Đông Tảo.
- Đánh giá được khả năng sinh trưởng của gà Đông Tảo
- Đánh giá được chất lượng thịt của gà Đông Tảo.
1.3. Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu đánh giá một cách hệ thống về khả năng sinh trưởng và
chất lượng thịt của gà Đông Tảo nuôi trong điều kiện nông hộ, đồng thời cung
cấp tài liệu khoa học về chăn nuôi gà Đông Tảo.
- Cung cấp thêm thông tin khoa học giúp các nhà quản lý của tỉnh Hưng
Yên trong việc xây dựng, định hướng phát triển chăn nuôi gà Đông Tảo.

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp


nhỏ xương, thịt thơm ngon. Đầu gà Ri thanh, hầu hết có mào đơn, đôi khi có con
mào nụ, da và chân màu vàng, chân có 2 hàng vẩy, vẩy chân có khi màu đen gọi
là chân chì. Gà Ri mọc lông sớm, chỉ hơn một tháng gà con đã đủ lông như gà
trưởng thành.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 3


Khối lượng cơ thể lúc mới nở là 28g, lúc 4 tháng tuổi gà trống trung bình
đạt 1,7g; gà mái 1,2kg; khối lượng cơ thể lúc 1 năm tuổi, con trống nặng 1,82,5kg; con mái nặng 1,3-1,8kg (theo Sử An Ninh và cs., 2011).
Theo kết quả nghiên cứu của Viện Chăn nuôi (1999), gà Ri là giống phát
dục sớm: 4-4,5 tháng đã bắt đầu đẻ. Sản lượng trứng đạt 120-150 quả/mái/năm.
Nếu nuôi tốt, thực hiện chế độ cai ấp khi có con có thể cho sản lượng 164-182
quả/mái/năm. Theo Sử An Ninh và cs. (2011), khối lượng trứng của gà Ri 4045g, tỷ lệ trứng có phôi đạt 89-90%, tỷ lệ nở trứng ấp: 94%, tỷ lệ nuôi con đến 2
tuần tuổi là 98%.
Ưu điểm nổi bật nhất của gà Ri là mọc lông, phát dục sớm, thịt trứng thơm
ngon, thích nghi với khí hậu và điều kiện chăn nuôi quảng canh ở nước ta theo cả
hướng thịt và hướng trứng. Hiện nay, khi ngành gà nuôi các giống cao sản, nuôi
thâm canh thì gà Ri được coi là một đặc sản.
2.1.1.2. Gà Đông Tảo
Gà Đông Tảo là giống gà địa phương có nguồn gốc từ thôn Đông Tảo, xã
Đông Tảo, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên. Hiện nay nó được phát triển nhiều
ở một số địa phương trong tỉnh Hưng Yên, ngoài ra còn được nuôi ở tỉnh Hải
Dương, Hà Nam, Thái Bình, Hà Nam và một số tỉnh khác trong cả nước.
Gà Đông Tảo có tầm vóc thô: đầu to, mào nụ, mắt sâu, chân to xù xì có
nhiều hàng vảy, xương to, nhiều thịt nhưng thịt không mịn, da đỏ ở bụng và cổ
(gà trống); da màu trắng đục (gà mái). Lông của gà trống có màu mận chín (màu
mã lĩnh) chiếm đa số, con mái có hai màu lông điển hình: lông màu nâu chiếm đa
số và lông màu vàng nhạt, lông cổ có màu nâu sẫm hơn. Nói chung, màu lông gà

truyền, với nền văn hiến vùng quê Kinh Bắc cổ kính. Nơi sản xuất ra tranh Đông
Hồ, đã đi vào lịch sử và được lưu truyền cho đến nay. Gà Hồ cũng được nuôi phổ
biến ở một số huyện thuộc tỉnh Bắc Ninh và một số vùng khác ở miền Bắc (theo
Lê Hồng Mận và Hoàng Hoa Cương, 2009).
Gà Hồ có tầm vóc khá to so với các giống gà địa phương khác, đi lại chậm
chạp. Đặc điểm của con trống theo thành ngữ chọn giống của dân địa phương là:
đầu Công, mình Ốc, cánh võ trai, đuôi nơm, da bụng, cổ màu đỏ, mào xuýt (mào
kép), diều cân ở giữa. Gà trống có 2 màu lông là mã mận và mã lĩnh, con mái có
3 màu lông: mã nhãn, mã sẻ, mã thó. Ngoại hình gà có đầu gộc, mào xuýt, mỏ có
màu vàng nhạt, chân có màu đỗ nành. Da thường có màu vàng, gà con ít lông,
khi lớn mới phủ kín thân. Nhìn chung gà Hồ có ngoại hình tương đối giống gà
Đông Tảo, nhất là về màu lông nhưng thân hình cân đối, chắc chắn, đặc biệt là
chân to vừa phải và rất tròn, vảy chân mượt, không xù xì.
Khối lượng mới nở 45g/con, ở tuổi trưởng thành, con trống nặng 4,5 – 5,5
kg; con mái nặng 3,5 – 4,0kg. Tuổi đẻ của gà Hồ muộn 7,5-8 tháng. Sản lượng
trứng 55-57 quả/mái/năm, khối lượng trứng 55-58 g/quả (theo Hội Chăn nuôi
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 5


Việt Nam, 2002). Theo Sử An Ninh và cs. (2011), tỷ lệ trứng có phôi 80%, tỷ lệ
ấp nở 70%, tỷ lệ nuôi sống đến 2 tuần tuổi 80%. Tác giả Bùi Đức Lũng và Lê
Hồng Mận (2003) cũng cho biết, gà Hồ có sản lượng trứng đạt 60 quả/mái/năm,
tỷ lệ trứng ấp 70-80%.
Gà Hồ có tính đòi ấp nhưng khả năng ấp rất kém, gà mái nuôi con không
khéo, khả năng tự kiếm mồi không cao và chúng chậm chạp hơn so với gà Ri
(Nguyễn Thị Mai và cs., 2009). Tuy nhiên gà Hồ có thân hình vạm vỡ và là
giống gà địa phương có từ lâu đời nên cũng có những ưu điểm của gà địa
phương. Thịt, trứng thơm ngon, sức chống chịu với ngoại cảnh tốt, do đó gà Hồ

những chấm xanh, màu hoa mơ. Lông màu hoa mơ hoặc nâu thẫm. Con trống
trưởng thành mào đơn rất phát triển, thân dài, ngực rộng và sâu, lông đuôi cong
dài. Gà Mán có nhiều màu sắc: xám, vàng, nâu đất. Đặc biệt, hầu hết các con mái
trưởng thành (80%) các “bộ râu” rất phát triển đó là một chùm lông vũ mọc dưới
cằm của gà. Chùm lông này phát triển trở thành một đặc điểm ngoại hình đặc
trưng của gà Mán để phân biệt với các giống gà khác.
Gà Mán có tầm vóc tương đối lớn so với các giống gà nội khác. Khối
lượng cơ thể lúc 1 ngày tuổi là 34g, khi 24 tháng tuổi gà trống có thể đạt 4,5 –
5kg, gà mái 3 – 3,5kg (theo Bùi Hữu Đoàn, 2003).
Gà Mán thành thục sinh dục muộn, 200 ngày mới bắt đầu đẻ quả trứng đầu
tiên. Sản lượng trứng 48 – 50 quả/mái/năm. Khối lượng trứng 50,34g/quả. Khối
lượng trứn 50,34 g/quả, trứng có phôi đạt tỷ lệ 95,35%, tỷ lệ nở chiếm 85,66%
(theo Bùi Hữu Đoàn, 2003). Gà Mán có bản năng ấp rất cao và khéo, nuôi con khéo
và kéo dài, tầm vóc lớn nhưng đẻ ít, khả năng tăng đàn chậm. Vì vậy mà gà Mán
được nuôi để lấy thịt.
2.1.1.6. Gà H’Mông
Gà H’Mông là vật nuôi truyền đời của đồng bào H’Mông, Dao, Tày,
Nùng… ở các tỉnh miền núi phía Tây Bắc Bắc Bộ.
Đặc điểm nổi bật là bộ lông pha tạp như nâu, hoa mơ, vàng sẫm nhưng
chủ yếu là màu đen. Chân, da (và nhiều con có cả mào) màu đen. Tầm vóc gà
vừa phải, thanh gọn. Khối lượng gà trưởng thành: trống là 1,8 – 2,2kg, mái là
1,4-1,7kg. Sản lượng trứng 80-100 quả/mái/năm, trứng có màu trắng. Gà
H’Mông có sức kháng bệnh rất tốt, rất thích nghi với điều kiện chăn thả tại nông
hộ nhờ khả năng tự kiếm mồi rất cao. Chất lượng thịt đặc biệt thơm ngon và cũng
có màu đặc biệt, màu đen nên rất được thị trường ưa chuộng.
2.1.1.7. Gà Ác
Gà Ác được thuần dưỡng phát triển đầu tiên ở các tỉnh Trà Vinh, Long
An, Kiên Giang. Đặc điểm ngoại hình: thân hình nhỏ, nhẹ, thịt xương màu đen,
lông trắng tuyền xù như bông, mỏ, chân cũng màu đen, mào cờ phát triển, màu
đỏ tím, khác với các giống gà khác là chân có 5 ngón nên còn gọi là gà “Ngũ

2.1.1.9. Gà Tre
Gà Tre được nuôi ở các tỉnh Nam Bộ, vóc dáng nhỏ, thịt thơm ngon. Sáu
tháng tuổi trống nặng 800-850 g, mái nặng 600-620 g. Đầu nhỏ, mào hạt đậu, con
trống thường có màu vàng ở cổ và đuôi, phần còn lại màu đen, lông dài, lông con
mái thường màu xám xen lẫn màu trắng. Sản lượng trứng 50-60 quả/mái/năm,
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


khối lượng trứng là 21-22 g. Gà Tre được dùng làm cảnh và thi chọi ở nhiều nơi
trong nước ta (theo Hội Chăn nuôi Việt Nam, 2002).
2.1.2. Cơ sở nghiên cứu các tính trạng ngoại hình ở gia cầm
Ngoại hình của gia cầm có dạng điển hình của lớp chim (aves), một động
vật có xương sống bậc cao đã thích ứng với điều kiện sống bay nhảy. Toàn thân
được bao phủ bằng bộ lông. Bộ lông của gia cầm có tác dụng ngăn cản những tác
động bất lợi của môi trường đối với cơ thể, giúp cơ thể duy trì thân nhiệt và là cơ
quan cảm giác nhờ tận cùng của các thần kinh ngoại biên. Vì vậy trong công tác
quản lý gia cầm hiện nay, người ta coi màu sắc lông, da là một chỉ tiêu cho chọn
lọc: vì thông thường màu sắc đồng nhất là giống thuần, cơ sở đồng nhất đó mà
loang là không thuần, đã bị pha tạp (theo Đặng Hữu Lanh và cs., 1999).
Ở gia cầm màu sắc lông rất đa dạng. Màu lông phụ thuộc vào sự biểu hiện
dưới dạng hạt hay phân bố đều của sắc tố Melanine và dạng dịch của sắc tố
lipocrom. Sắc tố Melanine quy định từ màu cafe-vàng đến màu đen; còn
lipocrom quy định màu vàng, đỏ, xanh hoặc xanh thẫm. Màu sắc lông ở gia cầm
có thể chia làm hai nhóm lớn là lông màu và lông trắng. Do vậy đặc điểm ngoại
hình là chỉ tiêu đánh giá phẩm giống, nếu màu lông của đàn gà có sự đồng nhất
cao cho thấy giống gà đó thuần, theo đánh giá của Johansson (1972), sắc tố da,
lông ở gia cầm được xác định bởi 2 yếu tố Melanine và Xantophyl. Xantophyl là
sắc tố ở dạng tinh thể màu vàng, nằm ở da, mỏ và chân. Melanine tồn tại ở dạng

đơn (mào cờ), tích tai chảy. Cùng với đó là những nghiên cứu chỉ ra đặc điểm
mào của các giống gà địa phương khác. Đối với gà Hồ nếu là gà trống thì có mào
nụ (mào sít), gà mái có mào trái dâu (theo Bùi Hữu Đoàn và Nguyễn Văn Lưu,
2006). Đối với gà Lông Cằm tại Lục Ngạn Bắc Giang có các kiểu mào như mào
cờ, mào hoa hồng, mào hồ đào, mào hạt đậu (theo Nguyễn Bá Mùi và cs., 2012).
Chân gia cầm có 4 ngón, rất ít 5 ngón. Cổ, bàn và ngón chân thường có
vẩy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có móng và cựa.
Cựa có vai trò cạnh tranh và đấu tranh sinh tồn của loài (theo Trần Kiên và cs.,
1998) và có sự khác nhau về màu sắc. Chân vàng là do sự có mặt của lipocrom
đồng thời thiếu vắng Melanine. Màu đen của chân là do sự xuất hiện của
Melanine. Khi màu đen có mặt ở thể trội và màu vàng có mặt ở thể lặn thì chân
sẽ xuất hiện màu lục (xanh lá cây). Khi đồng thời cả hai màu đều không xuất
hiện thì chân có màu trắng. Về độ đậm nhạt của màu vàng tùy thuộc vào hàm
lượng xantophyl trong khẩu phần thức ăn.
Các giống gà khác nhau có kiểu chân và màu sắc da chân khác nhau. Gà
Lông Cằm có hai màu da chân cơ bản là màu vàng và vàng nhạt (theo Nguyễn Bá
Mùi và cs., 2012). Chân gà có 4 ngón, rất ít khi có 5 ngón, cổ, bàn và ngón chân
thường có vảy sừng bao kín, cơ tiêu giảm chỉ còn gân và da. Chân thường có móng
và cựa. Cựa có vai trò trong việc đấu tranh sinh tồn của loài (theo Trần Kiên và Trần
Hồng Việt, 1998). Chân gà Đông Tảo rất to và xù xì, có vảy thịt màu vàng viền đỏ,
trong khi đó gà Hồ có chân nhỏ hơn, bề mặt trơn nhẵn, không xù xì như gà Đông
Tảo (theo Nguyễn Chí Thành và cs., 2009).
2.2. CƠ SỞ NGHIÊN CỨU CÁC TÍNH TRẠNG SINH TRƯỞNG
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 10


2.2.1. Khái niệm về sinh trưởng và phát triển
Sinh trưởng là sự tăng lên về khối lượng, kích thước của cơ thể do kết quả

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


trưởng diễn ra rất nhanh, một số cơ quan nội tạng chưa phát triển hoàn chỉnh như
các men tiêu hóa chưa đầy đủ, khả năng điều tiết thân nhiệt kém, gà con dễ bị
ảnh hưởng bởi thức ăn và nuôi dưỡng. Vì vậy thức ăn và nuôi dưỡng trong thời
kỳ này ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng của gia cầm. Thời kỳ này còn
diễn ra quá trình thay lông, đây là quá trình sinh lý quan trọng của gia cầm, nó
làm tăng trao đổi chất. Cho nên cần chú ý vấn đề nuôi dưỡng đặc biệt là các chất
dinh dưỡng có trong thức ăn, trong đó quan trọng nhất là các axit amin hạn chế
như lysine, methionine, tryptophan…
- Thời kỳ gà trưởng thành: thời kỳ này các cơ quan trong cơ thể gia cầm gần
như đã phát triển hoàn thiện. Số lượng tế bào tăng chậm, chủ yếu là quá trình phát
dục. Quá trình tích lũy chất dinh dưỡng của gia cầm một phần là để duy trì sự sống,
một phần để tích lũy mỡ, tốc độ sinh trưởng chậm hơn thời kỳ gà con. Vì vậy giai
đoạn này cần xác định tuổi giết mổ thích hợp để cho hiệu quả kinh tế cao.
Trong chăn nuôi gia cầm, việc nghiên cứu sinh trưởng đầu tiên là phải xác
định khối lượng cơ thể qua các tuần tuổi. Đây là một chỉ tiêu quan trọng đánh giá
sinh trưởng.
2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng
2.2.2.1. Tốc độ mọc lông
Theo Brandch H. and Bichel H. (1978), tốc độ mọc lông là một tính trạng
di truyền có liên quan đến trao đổi chất, sinh trưởng và phát triển của gia cầm.
Tốc độ mọc lông có liên quan chặt chẽ đến quá trình sinh trưởng của gia cầm, nó
phát triển song song với sự sinh trưởng của gia cầm. Theo các nghiên cứu trong
cùng một giống, một dòng, một tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh sẽ có
tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn gà có tốc độ mọc lông chậm.
Theo tác giả Hayer et al. (1970), trong một dòng gà thì gà mái có tốc độ

thể. Kích thước cơ thể còn liên quan đến các chỉ tiêu sinh sản như tuổi thành thục về
thể trọng, chế độ dinh dưỡng, thời gian giết thịt thích hợp trong chăn nuôi gà.
Theo Jonhanson (1972), khối lượng cơ thể là một tính trạng số lượng và
được quy định bởi yếu tố di truyền. Khối lượng gà con khi nở phụ thuộc vào khối
lượng quả trứng và khối lượng của gà mẹ vào thời điểm đẻ trứng. Tuy nhiên khối
lượng gà khi nở ít ảnh hưởng đến sự sinh trưởng tiếp theo.
Đối với gà hướng thịt, điều quan trọng nhất là khối lượng gà khi giết mổ.
Khối lượng cơ thể không những liên quan đến hiệu quả sử dụng thức ăn mà còn
cần thiết để quyết định thời gian nuôi thích hợp. Khối lượng cơ thể được minh
họa bằng đồ thị sinh trưởng tích lũy. Đồ thị này thay đổi theo dòng, giống, điều
kiện nuôi dưỡng chăm sóc.
2.2.2.3. Sinh trưởng tích lũy
Sinh trưởng tích lũy là sự tăng lên về khối lượng, kích thước và thể tích của
cơ thể gia cầm tích lũy được trong một thời gian nhất định. Khối lượng cơ thể ở
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 13


tại một thời điểm nào đó là chỉ tiêu được sử dụng quen thuộc nhất để chỉ khả
năng sinh trưởng. Xác định được khối lượng cơ thể sau các khoảng thời gian
khác nhau như: 1 tuần tuổi, 2 tuần tuổi .... sẽ cho ta những số liệu về sinh trưởng
tích luỹ. Đối với gà thịt, sinh trưởng tích luỹ là chỉ số năng suất quan trọng nhất
làm căn cứ để so sánh các cá thể, các dòng hoặc giống với nhau.
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs. (1998), khối lượng cơ thể khác nhau theo
tuổi và có sự chênh lệch giữa các cá thể lớn. Với gia cầm ở 1 – 3 tháng tuổi, sự
khác nhau tới 50 – 60%, sau đó giảm xuống 10 – 15% ở các tháng tuổi tiếp theo.
Khối lượng một ngày tuổi có liên quan đến khối lượng quả trứng và khối
lượng gà mẹ nhưng ít ảnh hưởng đến sự tăng trưởng tiếp theo (Đặng Hữu Lanh
và cs., 1999). Theo Phan Cự Nhân (2001): lúc gà mới nở thì gà trống nặng hơn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status