HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUỲNH MAI
QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH
MTV
ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP – 2016
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ QUỲNH MAI
QUẢN LÝ AN TOÀN LAO ĐỘNG TẠI CÔNG TY TNHH
MTV
ĐIỆN LỰC HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60.34.04.10
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Quyền Đình Hà
HÀ NỘI - 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả
Hà Nội, ngày 17 tháng 4 năm 2015
Học viên
Lê Quỳnh Mai
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN
ii
LỜI CẢM ƠN
iii
MỤC LỤC
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
vii
DANH MỤC BẢNG
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3
1.2.1 Mục tiêu chung
3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
4
1.3
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
4
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
4
1.3.2 Phạm vị nghiên cứu của đề tài
4
PHẦN II CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
5
2.1.7 Nội dung quản lý an toàn lao động
16
2.1.8 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý an toàn lao động
22
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iv
2.2
Cơ sở thực tiễn
23
2.2.1 Kinh nghiệm quản lý an toàn bảo hộ lao động của Nhật Bản
23
2.2.2 Kinh nghiệm của một số doanh nghiệp trong nước về quản lý an toàn
lao động
28
2.2.3 Quản lý an toàn lao động ở Việt Nam
3.2.1 Phương pháp tiếp cận
44
3.2.2 Phương pháp chọn điểm điều tra
45
3.2.3 Phương pháp thu thập thông tin
46
3.2.4 Phương pháp tính toán xử lý số liệu
48
3.2.5 Phương pháp phân tích
48
3.2.6 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu
49
PHẦN IV KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
51
4.1
Giải pháp tăng cường quản lý ATLĐ tại Công ty TNHH MTV Điện
lực Hải Dương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
100
Page v
4.3.1. Về phía Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
100
4.3.2. Về phía các nhà quản lý an toàn lao động
103
4.3.3. Đối với người lao động
104
PHẦN V KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
107
5.1
Kết luận
107
An toàn vệ sinh lao động
ATVSV
:
An toàn vệ sinh viên
BHLĐ
:
Bảo hộ lao động
BHTN
:
Bảo hiểm thất nghiệp
BHXH
:
Bảo hiểm xã hội
BHYT
:
Người lao động
NSDLĐ
:
Người sử dụng lao động
PCCC
:
Phòng cháy chữa cháy
PCCN
:
Phòng chống cháy nổ
PCLB
:
Phòng chống lụt bão
PGĐ
:
DANH MỤC BẢNG
Số bảng
Tên bảng
Trang
4.1
So sánh tình hình tai nạn năm 2014 và năm 2013
51
4.2
Tổng hợp tình hình TNLĐ trong ngành điện
54
4.3
Tổng hợp nguyên nhân xảy ra TNLĐ năm 2013
54
4.4
Tình hình nguồn nhân lực tại Cty TNHH MTV Điện lực Hải Dương 55
4.10
Đánh giá công tác kiểm tra ATĐ, ATVSLĐ
68
4.11
Đánh giá công tác PCCC
68
4.12
Đánh giá công tác khám sức khỏe
71
4.13
Đánh giá mức độ sử dụng BHLĐ
72
4.14
Nội dung huấn luyện ATLĐ tại điện lực chi nhánh
76
92
4.20
Tỷ lệ mắc bệnh nghề nghiệp do tác động môi trường của cán bộ
công nhân viên Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
100
Page viii
DANH MỤC ĐỒ THỊ
Số đồ thị
Tên đồ thị
Trang
3.1
Sản lượng điện thương phẩm
43
4.1
Cơ cấu nguồn nhân lực theo bậc an toàn điện năm 2013
Mức độ hài lòng về các chế độ trợ cấp, phúc lợi
88
DANH MỤC SƠ ĐỒ
Số sơ đồ
Tên Sơ đồ
Trang
2.1
Quy trình quản lý an toàn bảo hộ lao động
3.1
Quá trình hình thành và phát triển công ty TNHH MTV Điện lực
17
Hải Dương
34
3.2
Bộ máy tổ chức công ty TNHH MTV Điên Lực Hải Dương
40
về an toàn lao động (ATLĐ) được quy định trong rất nhiều văn bản luật như: Bộ
luật Lao động, Luật Hóa chất, Luật Khoáng sản, Luật Công đoàn, Luật Hợp tác
xã… và một số chỉ thị, hướng dẫn do Chính phủ ban hành nhằm bảo vệ sức khỏe,
cải thiện điều kiện lao động, phòng chống tai nạn và bệnh nghề nghiệp đối với người
lao động. Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã chỉ rõ: “phải chăm lo
cải thiện điều kiện làm việc, đảm bảo ATLĐ”. Trong chiến lược kinh tế xã hội 2010
- 2015 cũng nhấn mạnh: phải chú trọng đảm bảo an toàn chất lượng lao động trên
công cuộc xây dựng nước ta thành nước công nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, muốn duy trì và phát triển sản xuất, muốn
cạnh tranh thì phải đảm bảo ATLĐ, bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất,
chất lượng, hiệu quả. Thực tế cho thấy, khi tai nạn lao động (TNLĐ) xảy ra
người lao động và thân nhân của họ không những bị mất mát về con người, suy
giảm sức khỏe mà khả năng làm việc, thu nhập cũng bị giảm sút, dẫn đến đói
nghèo và những đau đớn về thể xác, tinh thần. Đối với doanh nghiệp, khi TNLĐ
xảy ra sẽ gây thiệt hại về chi phí sửa chữa máy móc, thiết bị, nhà xưởng; chi phí
về y tế, giám định thương tật và bồi thường, trợ cấp cho người bị TNLĐ cũng
như thân nhân của họ; Uy tín của doanh nghiệp bị ảnh hưởng; Hoạt động sản
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
xuất bị gián đoạn do phải ngừng việc để khắc phục hậu quả, điều tra nguyên nhân
gây tai nạn, gây tâm lý lo lắng, căng thẳng cho cả người sử dụng lao động và người
lao động, ảnh hưởng lớn đến năng suất lao động, doanh thu của doanh nghiệp bị
giảm sút, thậm chí có thể bị phá sản (Vũ Trần Thanh, 2014).
Tuy nhiên hiện nay vẫn còn nhiều đơn vị, doanh nghiệp, …xem nhẹ công
tác đảm bảo ATLĐ. Họ chưa thực sự thấy rõ ích lợi, thấy rõ được tầm quan trọng
để đảm bảo công tác ATLĐ. Có một thực tế đáng buồn là nhiều đơn vị thực hiện
công tác an toàn lao động (ATLĐ) kiểu đối phó, tuy có trang thiết bị nhưng
SXKD điện năng. Do vậy, việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy trình kỹ thuật an
toàn về SXKD điện năng luôn được đặt lên hàng đầu. Nhận thức được tầm quan
trọng của công tác kiểm tra việc thực hiện đúng quy trình, quy phạm sẽ làm giảm
thiểu được tối đa sự cố và TNLĐ, nhiều năm nay, công tác BHLĐ của ngành
điện đã được duy trì nền nếp 1 tháng 1 lần kiểm tra đối với từng tổ đội (Hoàng
Quang, Minh Hạnh, 2010).
Tuy nhiên tai nạn lao động trong ngành điện vẫn xảy ra. Theo thống kê
của Tập đoàn Điện lực Việt Nam, trong 10 tháng đầu năm 2014 đã xảy ra 19 vụ
tai nạn lao động làm chết 6 người, bị thương nặng 10 người và 4 người bị thương
nhẹ, trong đó yếu tố gây tai nạn do điện chiếm 42%, ngã cao 42%, nguyên nhân
khác 16% . Các vụ TNLĐ chủ yếu liên quan đến điện cao – hạ áp và ngã cao,
trong đó nguyên nhân chủ yếu là do ý thức kỷ luật chấp hành quy trình, quy
phạm của người lao động kém, dẫn đến các vi phạm gây mất an toàn cho bản
thân và đồng nghiệp. Nhưng cũng không thể phủ nhận rằng việc để xảy ra TNLĐ
không chỉ do bản thân nạn nhân sai phạm mà còn liên quan đến người chỉ huy
trực tiếp, người làm công tác quản lý, hiện trường lưới điện…(Hằng Nga, 2014).
Nhận thức được tầm quan trọng của ATLĐ và quản lý ATLĐ trong hoạt
động sản xuất kinh doanh nói chung và đối với ngành điện nói riêng, tôi tiến
hành tìm hiểu và nghên cứu đề tài: “Quản lý an toàn lao động tại công ty
TNHH MTV Điện Lực Hải Dương” nhằm đưa ra giải pháp nâng cao công tác
quản lý ATLĐ tại Công ty TNHH MTV Điện lực Hải Dương.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
Trên cơ sở kết quả phân tích công tác quản lý ANLĐ tại Công ty TNHH MTV
Page 4
PHẦN II
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khải niệm
2.1.1.1 Một số khái niệm chung
- An toàn lao động:
An toàn lao động là chỉ việc ngăn ngừa sự cố tai nạn xảy ra trong quá trình
lao động, gây thương tích đối với cơ thể hoặc gây tử vong cho người lao động.
Vệ sinh lao động là chỉ việc ngăn ngừa bệnh tật do những chất độc hại tiếp
xúc trong quá trình lao động gây ra đối với nội tạng hoặc gây tử vong cho người
lao động.
An toàn lao động là những chế định của luật lao động bao gồm những quy
phạm pháp luật quy định việc đảm bảo an toàn lao động nhằm bảo vệ tính mạng,
sức khỏe của người lao động, đồng thời duy trì tốt khả năng làm việc lâu dài của
người lao động.
An toàn lao động không tốt thì gây ra tai nạn lao động.
Trước đây, an toàn lao động là bộ phận nằm trong chế định bảo hộ lao
động. Còn bảo hộ lao động được hiểu là những quy định của Nhà nước liên quan
đến việc bảo đảm an toàn lao động, vệ sinh lao động và các chế độ, thể lệ bảo hộ
lao động khác. Như vậy, nếu hiểu theo nghĩa này thì bảo hộ lao động có ý nghĩa
quá rộng và khó phân biệt với nhiều vấn đề khác của luật lao động, có chức năng
chung là bảo vệ người lao động. Khi đó, tiền lương, thời giờ làm việc, thời giờ
nghỉ ngơi, bảo hiểm lao động... đều thuộc phạm trù "bảo hộ lao động". Nếu dùng
khái niệm "bảo hộ lao động" với nghĩa hẹp, chỉ bao gồm những quy định an toàn
lao động và vệ sinh lao động thì không tương xứng với khái niệm này. Chính vì
vậy, trong Bộ Luật Lao động, tại chương IX dùng tiêu đề an toàn lao động và vệ
sinh lao động. Như vậy, các quy định tại chương IX của Bộ luật Lao động sẽ chủ
Theo quan điểm của tổ chức lao động quốc tế : “Quản lý an toàn - bảo hộ
lao động là tạo ra một hệ công cụ cũng như các biện pháp thiết thực nhằm giúp
các tổ chức, các cơ quan có thẩm quyền hoàn thiện việc thực hiện công tác an toàn bảo hộ lao động từ đó xây dựng một hệ thống khuyến nghị mang tính mục tiêu tác
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 6
động tích cực trong việc giảm thiểu nguy cơ tai nạn, bệnh nghề nghiệp cũng như hợp
lý hoá quá trình và tăng năng suất lao động” (Nguyễn Đức Chính, 2013).
Theo bộ luật lao động Việt Nam có quy định: “Quản lý an toàn - bảo hộ
lao động là quản lý việc lập và chấp hành pháp luật về đảm bảo an toàn - bảo hộ
lao động, đưa ra các biện pháp nhằm cải thiện làm việc, chăm sóc sức khoẻ người
lao động, ngăn chặn và giảm tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp và ô nhiểm môi
trường. Nâng cao nhận thức và tuân thủ pháp luật về ATLĐ, BHLĐ, VSLĐ đảm
bảo an toàn tính mạng người lao động và tài sản của nhà nước, hạnh phúc của
nhân dân góp phần đảm bảo sự phát triển bền vững của quốc gia” (Bộ Luật lao
động, 2012)
Ngoài ra, trong Bộ luật lao động cũng xác định rõ trách nhiệm từng cơ
quan, ban ngành, bộ phận, cá nhân chịu trách nhiệm quản lý an toàn - bảo hộ lao
động, bao gồm các cơ quan có trách nhiệm quản lý chính như: Bộ lao động –
thương binh và xã hội (nay là Bộ lao động và xã hội), Bộ y tế, Bộ khoa học công
nghệ và môi trường (nay là Bộ khoa học và công nghệ và Bộ tài nguyên môi
trượng), Bộ giáo dục, UBND các cấp...
Nói tóm lại, bản chất của quản lý an toàn là quản lý rủi ro vì các tai nạn
luôn xẩy ra, không có bất cứ trường hợp ngoại lệ nào cả. Hạn chế rủi ro tức là
hạn chế được tai nạn.
2.1.1.2 Một số thuật ngữ trong ngành điện
- Quy trình an toàn điện: Quy trình an toàn điện trong tập đoàn Điện lực
Tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp tuỳ theo mức độ có ảnh hưởng trực
tiếp tới các hoạt động của doanh nghiệp. Để xẩy ra tại nạn lao động và mắc bệnh
nghề nghiệp không những làm giảm chất lượng nguồn nhân lực gây tổn thất rất
lớn về người và của cho bản thân, gia đình đối tượng, cho doanh nghiệp và cho
xã hội mà còn gây tâm lý bất ổn làm giảm nhuệ khí làm việc.
Ngoài ra chi phí cho việc phòng ngừa tai nạn lao động và bệnh nghề
nghiệp chiếm một tỷ lệ không nhỏ của một doanh nghiệp,nhất là đối với các
doanh nghiệp sản xuất trong lĩnh vức có nguy cơ tai nạn nghề nghiệp cao như
ngành điện. Nếu quản lý không tốt khâu này sẽ ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt
động kinh doanh của doanh nghiệp.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 8
Một quá trình lao động có thể tồn tại một hoặc nhiều yếu tố nguy hiểm, có
hại. Nếu không được phòng ngừa, ngăn chặn, chúng có thể tác động vào con
người gây chấn thương, gây bệnh nghề nghiệp, làm giảm sút, làm mất khả năng
lao động hoặc gây tử vong. Cho nên quản lý ATLĐ là một trong những nhiệm vụ
trọng yếu để phát triển sản xuất, tăng năng suất lao động. Quản lý ATLĐ tốt sẽ
góp phần:
- Đảm bảo an toàn thân thể người lao động, hạn chế đến mức thấp nhất,
hoặc không để xảy ra tai nạn trong lao động.
- Đảm bảo cho người lao động mạnh khỏe, không bị mắc bệnh nghề
nghiệp hoặc các bệnh tật khác do điều kiện lao động không tốt gây nên.
- Bồi dưỡng phục hồi kịp thời và duy trì sức khỏe, khả năng lao động cho
người lao động.
- Ngoài ra, quản lý ATLĐ tốt còn giúp doanh nghiệp giảm thiểu tổn thất
về người và tài sản, nâng cao uy tín.
được những tổn thất trong việc khắc phục hậu quả và tập trung đầu tư cho các
công trình phúc lợi xã hội.
- Ý nghĩa kinh tế
Thực hiện tốt công tác ATLĐ sẽ đem lại lợi ích kinh tế rõ rệt. Trong lao
động sản xuất nếu người lao động được bảo vệ tốt, điều kiện lao động thoải mái,
thì sẽ an tâm, phấn khởi sản xuất, phấn đấu để có ngày công, giờ công cao, phấn
đấu tăng năng suất lao động và nâng cao chất lượng sản phẩm, góp phần hoàn
thành tốt kế hoạch sản xuất. Do vậy phúc lợi tập thể được tăng lên, có thêm điều
kiện cải thiện đời sống vật chất và tinh thần của cá nhân người lao động và tập
thể lao động.
Chi phí bồi thường tai nạn là rất lớn đồng thời kéo theo chi phí lớn cho
sửa chữa máy móc, nhà xưởng, nguyên vật liệu...
Tóm lại an toàn là để sản xuất, an toàn là hạnh phúc của người lao động, là
điều kiện đảm bảo cho sản xuất phát triển và đem lại hiệu quả kinh tế cao.
2.1.4 Tính chất của quản lý an toàn lao động
Tính chất của quản lý an toàn lao động được thể hiện ở 3 khía cạnh sau:
- Tính pháp luật
Tất cả những chế độ, chính sách, quy phạm, tiêu chuẩn của nhà nước về
an toàn lao động - bảo hộ lao động đã ban hành đều mang tính pháp luật. Pháp
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 10
luật về an toàn lao động được nghiên cứu, xây dựng nhằm bảo vệ con người
trong sản xuất, nó là cơ sở pháp lý bắt buộc các tổ chức nhà nước, các tổ chức xã
hội, các tổ chức kinh tế và mọi người tham gia lao động phải có tránh nhiệm
nghiêm chỉnh thực hiện.
- Tính khoa học - kỹ thuật
Mọi hoạt động trong công tác an toàn lao động từ điều tra, khảo sát điều
quả mong muốn.
2.1.5 Nguyên tắc quản lý an toàn lao động
An toàn lao động (ATLĐ) là một lĩnh vực đa ngành nghề, thường xuyên
tiếp cận với những vấn đề liên quan đến các lĩnh vực khoa học như y tế (bao
gồm tâm lý và độc chất học), vật lý và hóa học, cũng như công nghệ, kinh tế học,
luật pháp và các lĩnh vực đặc thù của nhiều ngành nghề và hoạt động khác nhau.
Với đặc điểm đa dạng và liên quan đến nhiều lĩnh vực như vậy, các nguyên tắc
cơ bản của công tác ATLĐ có thể được xác định cụ thể như sau:
- Tất cả người lao đông (NLĐ) đều có quyền:
NLĐ cũng như người sử dụng lao đông (NSDLĐ) và chính phủ phải bảo
đảm rằng những quyền này được bảo vệ và phải nỗ lực thiết lập cũng như duy trì
môi trường và điều kiện làm việc lành mạnh. Cụ thể như sau:
+ Công việc cần được diễn ra trong môi trường làm việc an toàn và lành mạnh;
+ Các điều kiện lao động phải gắn liền với chất lượng cuộc sống và nhân phẩm;
+ Công việc phải đem lại những triển vọng thực sự đối với thành tựu cá
nhân, giúp hoàn thành tâm nguyện và phục vụ cho xã hội.
- Xây dựng các chính sách về ATLĐ:
Những chính sách này phải được triển khai ở cả cấp quốc gia (Chính phủ)
và cấp doanh nghiệp, đồng thời phải được kết nối cũng như truyền đạt một cách
có hiệu quả với tất cả các bên liên quan.
- Hệ thống quốc gia về ATLĐ phải được thiết lập:
Hệ thống này phải bao gồm tất cả các cơ chế và nội hàm cần thiết để xây
dựng và duy trì một nền văn hóa phòng ngừa an toàn và sức khỏe. Hệ thống quốc gia
phải được duy trì, từng bước phát triển và định kỳ kiểm tra rà soát.
- Chương trình quốc gia về ATLĐ phải được xây dựng chi tiết:
Khi đã xây dựng xong, chương trình này phải được triển khai, kiểm tra,
đánh giá và định kỳ rà soát.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 12
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
- Công tác bồi thường, phục hồi và các dịch vụ chữa bệnh phải sẵn sàng
phục vụ NLĐ gặp chấn thương, tai nạn hay bệnh tật liên quan đến nghề nghiệp.
Nên có những hành động cụ thể để giảm thiểu những hậu quả của các nguy cơ
nghề nghiệp.
- Đào tạo, tập huấn về những nội dung cơ bản của môi trường làm việc an
toàn và lành mạnh. NLĐ và NSDLĐ phải nhận thức được tầm quan trọng của
việc xây dựng quy trình làm việc an toàn và phương thức thực hiện. Cán bộ tập
huấn phải được đào tạo về các lĩnh vực liên quan đối với từng ngành sản xuất
riêng biệt, do đó họ có thể giải quyết được các vấn đề đặc thù về ATLĐ.
- NLĐ, NSDLĐ và cơ quan có thẩm quyền có trách nhiệm, bổn phận và
nghĩa vụ cụ thể. Ví dụ, NLĐ phải tuân thủ các quy trình an toàn đã đề ra;
NSDLĐ phải cung cấp nơi làm việc an toàn và đảm bảo tốt công tác sơ cứu khi
xảy ra sự cố; các cơ quan có thẩm quyền phải lập kế hoạch, trao đổi thông tin và
định kỳ rà soát cũng như cập nhật các chính sách về ATLĐ.
- Các chính sách phải được thực thi. Một hệ thống thanh tra phải được tổ chức
nhằm đảm bảo việc tuân thủ các biện pháp ATLĐ và pháp lệnh về lao động.
Có thể thấy rõ vẫn tồn tại một vài sự chồng chéo giữa các nguyên tắc
chung kể trên. Ví dụ như hoạt động thu thập và tuyên truyền thông tin về các mặt
của công tác ATLĐ nhấn mạnh tất cả các hoạt động được mô tả. Thông tin là hết
sức cần thiết trong công tác phòng ngừa cũng như điều trị các trấn thương và
bệnh nghề nghiệp. Thông tin cũng đóng vai trò quan trọng trong việc thiết lập các
chính sách có hiệu quả và bảo đảm các chính sách này được thực thi. Lĩnh vực
đào tạo và tập huấn cũng rất cần thông tin.
Trong khi các nguyên tắc chủ đạo hình thành nên các chương trình và
+ Quản lý quy trình kỹ thuật
Một trong những hình thức quan trọng của công cụ hành chính để quản lý
an toàn là kỷ luật lao động, đây được coi là biện pháp hành chính mạnh mẽ nhất.
Hầu hết các cơ quan đều có một vài hình thức kỷ luật chính thức hay không
chính thức để có thể thực hiện thành công những hình phạt cứng rắn đối với hành
vi vi phạm lặp lại hoặc mang tính nghiêm trọng hơn. Một thủ tục kỷ luật chính
thức thường bắt đầu bằng một lời cảnh cáo miệng, rồi tiến đến là cảnh cáo bằng
văn bản, rồi đình chỉ và cuối cùng là đuổi việc. Mục đích của kỷ luật nên hướng
tới sự chỉnh sửa hơn là hướng tới sự trừng phạt, phải coi công việc kỷ luật như là
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 15