Đánh Giá Hiệu Quả Thực Hiện Công Tác Quy Hoạch, Kế Hoạch Sử Dụng Đất Thành Phố Uông Bí, Tỉnh Quảng Ninh Giai Đoạn 2006 - 2010 - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

------------------------

NGUYỄN VĂN PHƯƠNG

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ THỰC HIỆN CÔNG TÁC QUY HOẠCH,
KẾ HOẠCH SỬ DỤNG ĐẤT THÀNH PHỐ UÔNG BÍ,
TỈNH QUẢNG NINH GIAI ĐOẠN 2006 - 2010

Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Mã số : 60 85 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Người hướng dẫn khoa học : PGS.TS. Nguyễn Ngọc Nông

Thái Nguyên, năm 2012


i

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Tôi xin cam đoan, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ
nguồn gốc./.
Tác giả luận văn


2. Mục tiêu nghiên cứu ................................................................................. 2
3. Yêu cầu của đề tài..................................................................................... 2
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU........................................................... 3
1.1. Khái niệm và đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất. ............................. 4
1.1.1. Khái niệm về quy hoạch sử dụng đất .............................................. 4
1.1.2. Đặc điểm của quy hoạch sử dụng đất đai........................................ 6
1.2. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai ........................................... 9
1.2.1. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai..................................... 9
1.2.2. Các loại hình quy hoạch sử dụng đất đai ...................................... 13
1.3. Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý .................................................. 14
1.3.1. Đất đai và chức năng của đất đai .................................................. 14
1.3.2. Những lợi ích khác nhau về sử dụng đất....................................... 15
1.3.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất ................................... 16
1.3.4. Sử dụng đất và các mục đích kinh tế, xã hội, môi trường............. 18
1.3.5. Quản lý bền vững tài nguyên đất .................................................. 19
1.4. tình hình quy hoạch và thực hiện quy hoạch ở nước ngoài................. 20
1.5. Tình hình quy hoạch sử dụng đất ở Việt nam ..................................... 23
1.5.1.Tình hình quy hoạch đất đai ở nước ta qua các thời kỳ ................. 23
1.5.2.Công tác lập quy hoạch trên phạm vi cả nước ............................... 25
1.6.Tình hình quy hoạch dụng đất và thực hiện quy hoạch tỉnh Quảng Ninh.. 27
1.6.1. Đối với cấp tỉnh............................................................................. 27
1.6.2. Đối với cấp huyện ......................................................................... 28
1.7. Tình hình quy hoạch sử dụng đất thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh........ 28


iv

1.7.1. Đối với cấp huyện ......................................................................... 28
1.7.2. Đối với cấp xã ............................................................................... 28
Chương 2 : NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .............. 30

dụng đất của thành phố Uông Bí giai đoạn 2006 – 2010........................ 62
3.2.4. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của thành phố Uông Bí đã được phê duyệt giai đoạn 2006 – 2010 ....... 65
3.2.5. Đánh giá kết quả thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
của thành phố Uông Bí đã được phê duyệt giai đoạn 2006 – 2010 theo
từng hạng mục công trình........................................................................ 68
3.3. Đánh giá chung công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất thành
phố Uông Bí................................................................................................ 79
3.3.1. Những kết quả đạt được ................................................................ 79
3.3.2 Những tồn tại.................................................................................. 80
3.3.3 Nguyên nhân chủ yếu..................................................................... 80
3.4. Các giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất thành phố Uông Bí....................................................................... 84
3.4.1. Định hướng sử dụng đất đến năm 2015, tầm nhìn đến năm 2020 84
3.4.2. Giải pháp về tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.......... 86
3.4.3. Giải pháp về tổ chức thực hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất. 86
3.4.4. Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước đối với công tác quy
hoạch kế hoạch sử dụng đất .................................................................... 88
3.4.5. Giải pháp cho từng nhóm đất ........................................................ 89
KẾT LUẬN ................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................................... 95


vi

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CN

: Công nghiệp


: Mặt nước chuyên dùng

QH

: Quy hoạch

QHSDĐ

: Quy hoạch sử dụng đất

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TTCN

: Trung tâm công nghiệp

UBND

: Uỷ ban nhân dân


vii

DANH MỤC CÁC BẢNG

Uông Bí năm 2010................................................................................ 56
Hình 3.2. Biểu đồ cơ cấu diện tích các loại đất phi nông nghiệpThành
phố Uông Bí năm 2010......................................................................... 59
Hình 3.3. Biểu đồ cơ cấu diện tích các loại đất chưa sử dụngThành phố
Uông Bí năm 2010................................................................................ 62


1

MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quy hoạch sử dụng đất là một trong mười ba nội dung quan trọng
trong công tác quản lý Nhà nước về đất đai. Hiến pháp nước Cộng hòa Xã
hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, tại Chương II, Điều 18 quy định: “Nhà
nước thống nhất quản lý đất đai theo quy hoạch và pháp luật, đảm bảo sử
dụng đất đúng mục đích và có hiệu quả”.
Luật Đất đai năm 2003 quy định rõ nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền
lập và xét duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất (Điều 25, 26); Căn cứ để
giao đất cho thuê đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất đều phải dựa vào
quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất hoặc quy hoạch đô thị, quy hoạch xây
dựng điểm dân cư nông thôn (Khoản 1 - Điều 31).
Như vậy quy hoạch sử dụng đất giúp quản lý bố trí sử dụng đất một
cách có hiệu quả nguồn tài nguyên đất, cải thiện môi trường sinh thái và
tránh lãng phí tài nguyên đất. Điều này ngày càng thiết thực khi môi trường
sinh thái của nhiều nơi đang chịu những tác động xấu của quá trình sản
xuất và sinh hoạt. Sự phát triển nhanh nhưng thiếu tính đồng bộ và thống
nhất trong xây dựng cơ sở hạ tầng dân sinh, kinh tế ở nhiều nơi đã gây ảnh
hưởng không nhỏ đến môi trường sống.
Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, công tác lập, thực hiện, quản lý và
giám sát quy hoạch sử dụng đất ở một số địa phương còn hạn chế, việc lập

used planning”; thuật ngữ đồ án “plan” cũng còn dùng là quy hoạch, cũng đã
quen dùng với những mức độ khác nhau như: đồ án quy hoạch tổng hợp
“Master plan”, đồ án quy hoạch tổng thể “Comprehensive plan”, đồ án quy
hoạch chung “General plan”, hoặc chính là đồ án quy hoạch “The plan” .
Về mặt thuật ngữ khoa học, “Quy hoạch” là việc xác định một trật tự
nhất định bằng những hoạt động như: phân bố, bố trí, sắp xếp, tổ chức... “Đất
đai” là một phần lãnh thổ nhất định (vùng đất, khoanh đất, vạt đất, mảnh đất,
miếng đất...) có vị trí, hình thể, diện tích với những tính chất tự nhiên hoặc
mới tạo thành (đặc tính thổ nhưỡng, địa hình, địa chất, thuỷ văn, chế độ nước,
nhiệt độ, ánh sáng, thảm thực vật...) tạo ra những điều kiện nhất định cho việc
sử dụng theo các mục đích khác nhau. Do vậy, để sử dụng đất hiệu quả cần
phải lập quy hoạch, đây là quá trình nghiên cứu, lao động sáng tạo nhằm xác
định ý nghĩa mục đích của từng thành phần lãnh thổ và đề xuất một trật tự sử
dụng đất nhất định.
Theo FAO [26] định nghĩa quy hoạch sử dụng đất như sau: "Quy hoạch
sử dụng đất là quá trình đánh giá tiềm năng đất và nước một cách có hệ thống
phục vụ việc sử dụng đất và kinh tế - xã hội nhằm lựa chọn ra phương án sử
dụng đất tốt nhất. Mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là lựa chọn và đưa
phương án đã lựa chọn vào thực tiễn để đáp ứng nhu cầu của con người một
cách tốt nhất nhưng vẫn bảo vệ được nguồn tài nguyên cho tương lai. Yêu cầu
cấp thiết phải làm quy hoạch là do nhu cầu của con người và điều kiện thực tế
sử dụng đất thay đổi nên phải nâng cao kỹ năng quản lý sử dụng đất".

Theo Viện Điều tra Quy hoạch Đất đai định nghĩa [16]: "Quy hoạch sử
dụng đất là một hệ thống các biện pháp quản lý, kỹ thuật và pháp chế của Nhà


5

nước về tổ chức sử dụng đất đầy đủ, hợp lý, có hiệu quả cao thông qua việc

7

yếu tố thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, vừa là yếu tố thúc đẩy các mối
quan hệ sản xuất, vì vậy nó luôn là một bộ phận của phương thức sản xuất của
xã hội [16].
Tuy nhiên, trong xã hội có phân chia giai cấp, quy hoạch sử dụng đất đai
mang tính tự phát, hướng tới mục tiêu vì lợi nhuận tối đa và nặng về mặt pháp
lý (là phương tiện mở rộng, củng cố, bảo vệ quyền tư hữu đất đai: phân chia,
tập trung đất đai để mua, bán, phát canh thu tô,...). Ở nước ta, quy hoạch sử
dụng đất đai phục vụ nhu cầu của người sử dụng đất và quyền lợi của toàn xã
hội; góp phần tích cực thay đổi quan hệ sản xuất ở nông thôn; nhằm sử dụng,
bảo vệ đất và nâng cao hiệu quả sản xuất xã hội. Đặc biệt, trong nền kinh tế
thị trường, quy hoạch sử dụng đất đai góp phần giải quyết các mâu thuẫn nội
tại của từng lợi ích kinh tế, xã hội và môi trường nẩy sinh trong quá trình sử
dụng đất, cũng như mâu thuẫn giữa các lợi ích trên với nhau.
* Tính tổng hợp
Tính tổng hợp của quy hoạch sử dụng đất đai biểu hiện chủ yếu ở hai
mặt: đối tượng của quy hoạch là khai thác, sử dụng, cải tạo, bảo vệ... toàn bộ
tài nguyên đất đai cho nhu cầu của toàn bộ nền kinh tế quốc dân; quy hoạch
sử dụng đất đai đề cập đến nhiều lĩnh vực về khoa học, kinh tế và xã hội như:
khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, dân số và đất đai, sản xuất nông, công
nghiệp, môi trường sinh thái...
Với đặc điểm này, quy hoạch lãnh trách nhiệm tổng hợp toàn bộ nhu cầu
sử dụng đất; điều hoà các mâu thuẫn về đất đai của các ngành, lĩnh vực; xác
định và điều phối phương hướng, phương thức phân bố sử dụng đất phù hợp
với mục tiêu kinh tế - xã hội, bảo đảm cho nền kinh tế quốc dân luôn phát
triển bền vững, đạt tốc độ cao và ổn định [16].
* Tính dài hạn
Căn cứ vào các dự báo xu thế biến động dài hạn của những yếu tố kinh
tế xã hội quan trọng (như sự thay đổi về nhân khẩu, tiến bộ kỹ thuật, đô thị

nhân tố kinh tế - xã hội khó xác định, nên chỉ tiêu quy hoạch càng khái lược
hoá, quy hoạch sẽ càng ổn định.
* Tính chính sách


9

Quy hoạch sử dụng đất đai thể hiện rất mạnh đặc tính chính trị và chính
sách xã hội. Khi xây dựng phương án phải quán triệt các chính sách và quy
định có liên quan đến đất đai của Đảng và Nhà nước, đảm bảo thực hiện cụ
thể trên mặt bằng đất đai các mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân, phát
triển ổn định kế hoạch kinh tế - xã hội; tuân thủ các quy định, các chỉ tiêu
khống chế về dân số, đất đai và môi trường sinh thái [16].
* Tính khả biến
Dưới sự tác động của nhiều nhân tố khó dự đoán trước, theo nhiều
phương diện khác nhau, quy hoạch sử dụng đất đai chỉ là một trong những
giải pháp biến đổi hiện trạng sử dụng đất sang trạng thái mới thích hợp hơn
cho việc phát triển kinh tế trong một thời kỳ nhất định. Khi xã hội phát triển,
khoa học kỹ thuật ngày càng tiến bộ, chính sách và tình hình kinh tế thay đổi,
các dự kiến của quy hoạch sử dụng đất đai không còn phù hợp. Việc chỉnh
sửa, bổ sung, hoàn thiện quy hoạch và điều chỉnh biện pháp thực hiện là cần
thiết. Điều này thể hiện tính khả biến của quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất
đai luôn là quy hoạch động, một quá trình lặp lại theo chiều xoắn ốc “quy
hoạch - thực hiện - quy hoạch lại hoặc chỉnh lý - tiếp tục thực hiện... ” với
chất lượng, mức độ hoàn thiện và tính phù hợp ngày càng cao.
1.2. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
1.2.1. Nguyên tắc của quy hoạch sử dụng đất đai
Các hoạt động của Nhà nước trong lĩnh vực phân phối và sử dụng tài
nguyên đất tuân theo quy luật phát triển kinh tế khách quan. Quyền sở hữu
Nhà nước về đất đai là cơ sở để bố trí các ngành, là một trong những yếu tố

với hoạt động của con người, của các tổ chức kinh tế, chính trị, xã hội của
Nhà nước, có vai trò quan trọng đối với con người và khác mọi tư liệu sản
xuất khác là nếu được sử dụng đúng và hợp lý thì chất lượng đất ngày càng
tốt lên. Mặt khác, chúng ta đều biết, đất đai có hạn về diện tích, trong khi đó,
dân số không ngừng tăng nhanh, gây áp lực lớn đối với đất đai. Điều này đòi
hỏi việc sử dụng đất phải tiết kiệm và hiệu quả. Sử dụng đất tiết kiệm tức là
phải bố trí hài hòa giữa nhu cầu sử dụng đất của các ngành, hạn chế tối đa
việc sử dụng đất canh tác có hiệu quả sang các mục đích phi nông nghiệp,
đảm bảo an ninh lương thực quốc gia, thỏa mãn nhu cầu nông sản phẩm cho
toàn xã hội và nguyên liệu cho công nghiệp, đồng thời cân đối quỹ đất thích
hợp với nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, nâng cao chất


11

lượng đất và mở rộng diện tích. Điều này khẳng định tầm quan trọng của quy
hoạch sử dụng đất, ngoài ra rất cần có quy hoạch tổng thể, quy hoạch chi tiết
có giá trị thực tiễn cao đến cấp xã, cần gắn liền quy hoạch sử dụng đất với
quy hoạch các ngành công nghiệp và dịch vụ như du lịch, chế biến nông sản,
phát triển ngành nghề thủ công mà thị trường đòi hỏi, đồng thời có những
biện pháp bảo vệ đất, đảm bảo cho sử dụng đất bền vững. Chống suy thoái và
ô nhiễm đất là một trong những biện pháp bảo vệ đất.
Việt Nam, với đặc điểm là đất đồi núi chiếm 3/4 lãnh thổ toàn quốc, lại
nằm ở vùng nhiệt đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các
quá trình khoáng hóa diễn ra mạnh trong đất nên dễ bị rửa trôi, xói mòn,
nghèo chất hữu cơ và chất dinh dưỡng dẫn đến thoái hóa. Quan trọng hơn nữa
là do hậu quả của việc chặt phá, đốt rừng bừa bãi, sử dụng đất không bền
vững qua nhiều thế hệ nên đất bị thoái hóa ngày càng nghiêm trọng, nhiều nơi
mất khả năng sản xuất và xu hướng hoang mạc hóa ngày càng tăng. Do đó,
mục tiêu của quy hoạch sử dụng đất là phải coi trọng diện tích phủ xanh bằng

xấu của nó. Dựa trên thực trạng, vấn đề bức xúc mà ngành đang vấp phải và
xu thế phát triển của từng ngành kinh tế để xây dựng quy hoạch sử dụng đất
đai trên cơ sở hợp thành của các quy hoạch ngành. Có như vậy, quy hoạch sử
dụng đất mới đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Bốn là, tạo ra những điều kiện tổ chức lãnh thổ hợp lý.
Quy hoạch sử dụng đất được tiến hành theo kế hoạch chung của Nhà
nước, của ngành và của từng đơn vị sử dụng đất cụ thể. Việc bố trí giữa các
ngành đòi hỏi phải có sự phân bố hợp lý, tạo điều kiện cho sự phát triển tổng
hợp. Các đơn vị sản xuất nông nghiệp căn cứ vào nghĩa vụ giao nộp cho Nhà
nước và các nhu cầu tiêu dùng nội bộ mà xác định quy mô diện tích trồng
từng loại cây, số đầu gia súc từng loại. Bên cạnh đó, việc sử dụng đất có ảnh
hưởng đến việc phát triển và bố trí các ngành nghề, việc tổ chức lao động và
năng suất lao động, đến tư liệu sản xuất.
Quy hoạch sử dụng đất phải có sự kết hợp hài hòa nhu cầu sử dụng đất
của các ngành, tổ chức lãnh thổ hợp lý mới giúp cho việc phát triển các ngành
cân đối theo chỉ tiêu và nhu cầu sử dụng đất đã định.
Năm là, phải phù hợp với các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
Mỗi vùng khác nhau có các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác
nhau nên phương án quy hoạch xây dựng phù hợp cho từng vùng cũng khác
nhau. Thực tế cho thấy, các cơ sở sản xuất nông nghiệp thường đầu tư lớn cho
các công trình liên quan: nhà ở, thủy lợi, giao thông... và những công trình


13

này khai thác hết công suất nếu vị trí xây dựng của chúng là hợp lý. Bên cạnh
đó, để tăng năng suất cây trồng phải xác định cơ cấu sử dụng đất thích hợp và
cơ cấu luân canh hợp lý trên địa bàn lãnh thổ đó. Vì vậy, khi quy hoạch sử
dụng đất cần phải tính toán sao cho chúng sử dụng có hiệu quả nhất cả hiện
tại và tương lai lâu dài. Qua những lý luận trên cho thấy, khi xây dựng

và được thực hiện theo nguyên tắc: từ trên xuống, từ dưới lên, từ toàn cục đến
bộ phận, từ cái chung đến cái riêng, từ vĩ mô đến vi mô và bước sau chỉnh lý
bước trước. [14]
Khác với Luật Đất đai năm 1993, Luật Đất đai năm 2003 không quy
định cụ thể quy hoạch sử dụng đất theo các ngành (nông nghiệp, lâm nghiệp,
khu dân cư nông thôn, đô thị, chuyên dùng). Quy hoạch sử dụng đất của các
ngành này đều nằm trong quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ hành chính.
Đối với quy hoạch sử dụng đất vào mục đích quốc phòng, an ninh được quy
định riêng tại Điều 30 [21].
Mục đích chung của quy hoạch sử dụng đất theo các cấp lãnh thổ hành
chính, đó là: đáp ứng nhu cầu đất đai (tiết kiệm, khoa học, hợp lý và có hiệu
quả) cho hiện tại và tương lai để phát triển các ngành kinh tế quốc dân; cụ
thể hoá một bước quy hoạch sử dụng đất đai của các ngành và đơn vị hành
chính cấp cao hơn; làm căn cứ, cơ sở để các ngành (cùng cấp) và các đơn vị
hành chính cấp dưới triển khai quy hoạch sử dụng đất đai của ngành và địa
phương mình; làm cơ sở để lập kế hoạch sử dụng đất 5 năm (căn cứ để thu
hồi, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất theo thẩm quyền
được quy định trong Luật Đất đai); phục vụ cho công tác thống nhất quản lý
Nhà nước về đất đai [22].
Có thể hiểu mối quan hệ giữa quy hoạch sử dụng đất theo lãnh thổ và
quy hoạch sử dụng đất theo ngành, như sau: trước tiên, Nhà nước căn cứ vào
chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của cả nước và hệ thống thông tin tư liệu
về điều kiện đất đai hiện có để xây dựng quy hoạch tổng thể sử dụng các loại
đất. Các ngành chức năng căn cứ vào quy hoạch tổng thể sử dụng các loại đất
để xây dựng quy hoạch sử dụng đất cụ thể cho từng ngành phù hợp với yêu
cầu và nội dung sử dụng đất của ngành. Như vậy, để đảm bảo sự thống nhất,
tránh hiện tượng trồng chéo thì quy hoạch tổng thể đất đai phải đi trước và có
tính định hướng cho quy hoạch sử dụng đất theo ngành.
1.3. Một số lý luận về sử dụng đất hợp lý
1.3.1. Đất đai và chức năng của đất đai

nghiệp nào có thể bắt đầu công việc và hoạt động được. Nói khác đi - không
có đất sẽ không có sản xuất (đối với mọi ngành) cũng như không có sự tồn tại
của chính con người [19].
Đất đai giữ vai trò tích cực trong quá trình sản xuất, là điều kiện vật chất,
cơ sở không gian, đồng thời là đối tượng lao động (luôn chịu tác động trong


16

quá trình sản xuất như cày bừa, xới xáo...) và công cụ hay phương tiện lao
động (sử dụng để trồng trọt, chăn nuôi...). Quá trình sản xuất nông nghiệp
liên quan chặt chẽ với độ phì nhiêu và quá trình sinh học tự nhiên của đất.
Lợi ích của việc sử dụng đất rất đa dạng, song có thể chia thành 3 nhóm
lợi ích cơ bản sau:
- Sử dụng đất làm tư liệu sản xuất và tư liệu sinh hoạt để thoả mãn nhu
cầu sinh tồn và phát triển của con người;
- Dùng đất làm cơ sở sản xuất và môi trường hoạt động;
- Đất cung cấp không gian môi trường cảnh quan mỹ học cho việc hưởng
thụ tinh thần.
Trong các ngành phi nông nghiệp, đất đai giữ vai trò thụ động với chức
năng là cơ sở không gian và vị trí để hoàn thiện quá trình lao động, là kho
tàng dự trữ trong lòng đất (các ngành khai thác khoáng sản). Quá trình sản
xuất và sản phẩm được tạo ra không phụ thuộc vào đặc điểm, độ phì nhiêu
của đất, chất lượng thảm thực vật và các tính chất tự nhiên có sẵn trong đất.
1.3.3.Những nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất
Phạm vi, cơ cấu và phương thức sử dụng đất vừa bị chi phối bởi các điều kiện
và quy luật sinh thái tự nhiên vừa bị chi phối bởi các điều kiện, quy luật kinh tế - xã
hội và các yếu tố kỹ thuật. Theo nghiên cứu của Viện Điều tra Quy hoạch đất đai
Tổng cục Địa chính có 3 nhóm nhân tố ảnh hưởng đến sử dụng đất, bao gồm: điều
kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế xã hội và nhân tố không gian [16].


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status