Thơ Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX trên tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam - Pdf 35

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong diễn trình của văn học Việt Nam, văn học trào phúng có một truyền
thống phát triển gắn với lịch sử văn hóa, văn học dân tộc. Cảm hứng trào phúng đã
xuất hiện khá sớm trong môi trường sáng tác dân gian nhưng để trở thành dòng văn
học trào phúng với những đặc điểm hoàn bị thì phải đến hai giai đoạn hạ kì của văn
học trung đại, đặc biệt là giai đoạn nửa cuối thế kỷ XIX. Với những tác gia lớn như
Nguyễn Khuyến, Trần Tế Xương, Tú Quỳ, Học Lạc, Nhiêu Tâm..., những sáng tác
của họ đã đưa dòng văn học trào phúng phát triển mạnh mẽ.
Trong sự phát triển của văn hóa nói chung, văn học nghệ thuật nói riêng, thơ
ca trào phúng góp phần quan trọng làm phong phú thêm cho đời sống văn hóa tinh
thần. Một đặc điểm nổi bật là thơ ca trào phúng vừa là tiếng cười sảng khoái, vừa
như một mũi tên đâm thẳng vào những thói hư tật xấu ở đời, lên án những bất công,
những suy thoái của xã hội để từ đó thức tỉnh những nhân tố tích cực, đẩy lùi cái
xấu, ươm mầm cho cái tốt. Trong một xã hội mà sự xuống cấp đang là một nguy cơ
thì văn thơ trào phúng đả kích càng có tác dụng.
Trong dòng văn học viết trung đại, từ hơn chín thế kỷ trở về trước (từ thế kỷ X
đến nửa đầu thế kỷ XIX), thơ ca trào phúng đã xuất hiện và phát triển ở những mức
độ khác nhau, gắn liền với tên tuổi của nhiều tác giả, tiêu biểu như Nguyễn Trãi,
Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ… Bước sang giai đoạn
nửa cuối thế kỷ XIX, thơ ca trào phúng phát triển nở rộ, có sự vượt trội trên tất cả
các bình diện như số lượng tác giả, tác phẩm, đối tượng trào phúng. Với niềm say
mê những đặc sắc mà dòng thơ Nôm trào phúng cuối thế kỷ XIX mang lại, chúng
tôi tiếp tục đi sâu tìm hiểu thêm những giá trị văn học, văn hoá của dòng thơ ca đặc
biệt này. Ngoài ra, để nhận định đúng những đóng góp của thơ ca trào phúng đối
với tiến trình hiện đại hóa văn học, chúng tôi chọn đề tài: Thơ Nôm trào phúng
luật Đường cuối thế kỷ XIX trên tiến trình hiện đại hóa văn học Việt Nam để
thực hiện khoá luận tốt nghiệp của mình.

1


Bùi Quang Huy đã biên soạn và giới thiệu Tuyển tập Thơ ca trào phúng Việt Nam.
2


Với nhiều tác phẩm ca dao dân ca và vè trào phúng được lựa chọn từ kho tàng thơ
ca dân gian, cùng với hơn bốn trăm bài thơ trào phúng, đây cũng là một tư liệu tham
khảo rất có giá trị về văn học trào phúng, đặc biệt là thơ trào phúng Việt Nam.
Sau Thơ văn trào phúng Việt Nam, Vũ Ngọc Khánh đã công bố tiếp chuyên
luận Hành trình vào xứ sở cười (1996). Với mục đích giúp cho mọi người có cái
nhìn văn thơ trào phúng Việt Nam trên cả hai bình diện không gian và thời gian, tác
giả đã kết cấu cuốn sách thành hai phần. Khảo sát một cách khá cụ thể các dạng
thức trào phúng khác nhau. Đây là một trong những công trình chuyên sâu nghiên
cứu kĩ về tiếng cười trong văn hoá Việt Nam.
Có một số tác giả bắt đầu bằng việc đi vào nghiên cứu một hiện tượng văn học
trào phúng cụ thể, nhưng có quan tâm đến tình hình phát triển của thơ trào phúng
Việt Nam nói chung nhằm tạo ″diện″ cho việc đi vào ″điểm″. Tiêu biểu nhất cho
hướng nghiên cứu này là Ngô Gia Võ với luận án tiến sĩ Hồ Xuân Hương với dòng
thơ Nôm Đường luật trào phúng [98], công bố năm 2002. Với việc nghiên cứu có
tính hệ thống, tác giả luận án đã sơ bộ chỉ ra sự phát triển tiếp nối về thơ trào phúng
từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, xác định những đặc điểm riêng biệt và vị trí
của Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật tào phúng Việt Nam thời
trung đại. Phần cuối luận án, tác giả còn dành hơn 140 trang phụ lục để thống kê
các bài thơ Nôm Đường luật trào phúng trong Quốc âm thi tập, Hồng Đức quốc âm
thi tập và Bạch Vân quốc ngữ thi tập. Đây là một việc làm khá công phu, song theo
chúng tôi, có nhiều bài chưa hẳn là thơ trào phúng cũng đã được tác giả đưa vào.
Với việc nghiên cứu có tính hệ thống, tác giả Nguyễn Thị Mai trong Thơ Nôm
trào phúng Việt Nam thời trung đại (Quá trình phát triển và những đặc điểm thể
loại) (Luận văn Thạc sĩ Ngữ văn) đã sơ bộ chỉ ra sự phát triển tiếp nối về thơ trào
phúng từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân Hương, xác định những đặc điểm riêng biệt và
vị trí của Hồ Xuân Hương trong dòng thơ Nôm Đường luật trào phúng Việt Nam

ban đầu về những nét đặc sắc của thơ Nôm trào phúng thời kỳ này. Tuy nhiên, với
phạm vi của một khóa luận, chúng tôi không có tham vọng khảo sát toàn bộ hệ
thống văn bản thơ Nôm thời trung đại. Tác giả khoá luận chỉ tập trung tìm hiểu hệ
thống thơ Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX, một thể loại đặc sắc nhất
của thơ Nôm trào phúng trung đại.

4


Để thực hiện đề tài này, chúng tôi tập trung khảo sát các tác phẩm thơ Nôm
trào phúng luật Đường của một số tác gia văn học ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX như
Nguyễn Khuyến, Tú Xương, Học Lạc, Nhiêu Tâm, Tú Quỳ, Nguyễn Quý Tân...
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp thống kê, mô tả
Chúng tôi tiến hành liệt kê, thống kê, tổng hợp dẫn chứng, số liệu trong những
tác phẩm tiêu biểu và các tài liệu nghiên cứu có liên quan để dẫn chứng cho phù
hợp với nội dung của đề tài.
4.2. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Để vấn đề nghiên cứu có tính thuyết phục, so sánh là phương pháp không thể
thiếu trong quá trình nghiên cứu. Chúng tôi tiến hành so sánh thơ Nôm trào phúng
luật Đường cuối thế kỷ XIX với một số giai đoạn trước và sau nó. Qua đó, thấy
được những đóng góp mới mẻ của thơ Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX
trên tiến trình hiện đại hoá văn học Việt Nam.
4.3. Phương pháp phân tích, tổng hợp và khái quát hoá
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tôi sử dụng phương pháp để tìm
hiểu, đánh giá những đóng góp của thơ Nôm trào phúng luật Đường. Ngoài ra, từ
những cơ sở khoa học có được, chúng tôi sẽ tiến hành khái quát hoá thành các luận
điểm khoa học để minh chứng cho quan điểm nghiên cứu của mình.
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóa luận được

Đình Phùng, Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân, Nguyễn Thiện Thuật, Hoàng Hoa
Thám...
Phong trào chống Pháp tuy sôi nổi, đều khắp nhưng không có lực lượng hậu
thuẫn làm nòng cốt nên cuối cùng phong trào đấu tranh chống Pháp bị thất bại. Mặc
dù thất bại nhưng cũng chứng tỏ được tinh thần yêu nước nồng nàn, tinh thần dũng
cảm của nhân dân, khẳng định phong trào đấu tranh mang tính nhân dân sâu sắc. Có
thể nói đây là giai đoạn lịch sử đau thương mà hùng tráng của dân tộc, nhiều hy
sinh mất mát nhưng rất tự hào, giai đoạn khổ nhục nhưng vĩ đại.
1.2.2. Bối cảnh văn hóa
6


Hệ thống giáo dục cũ triều đình vẫn tôn sùng là Nho học, xem Nho giáo là
công cụ để thống trị xã hội. Khổng, Mạnh, Trình, Chu... được xem là những vị
thánh. Sách vở của họ là thiên kinh địa nghĩa. Học trò đi thi chỉ học thuộc lòng một
số câu, đoạn trong sách vở, vào trường thi thấy chỗ nào thích hợp thì chế biến lại.
Tình trạng bảo thủ, nệ cổ đến mức kỳ quặc không tưởng tượng được.
Tự Đức vẫn có tiếng là một ông vua hay chữ, thỉnh thoảng có ra những đầu đề
chế sách hoặc đối sách về các vấn đề trước mắt cho những người dự kỳ thi đình,
hoặc những nhà khoa bảng danh vọng để họ phát biểu ý kiến . Kết quả cũng chẳng
đi đến đâu. Những người đi thi và những người được hỏi ý kiến chỉ biết nói theo
sách cổ, dẫn lại tích xưa, hoặc tán tụng chiều theo ý vua. Cá biệt lắm mới có một
đôi người dám nói thẳng ít nhiều suy nghĩ của mình. Còn bản thân Tự Đức thì có
nêu ra vấn đề, nhưng cũng không biết giải quyết ra sao. Ngay việc cấp bách nhất lúc
bấy giờ là việc chống giặc cứu nước, đòi hỏi phải có những suy nghĩ sâu sắc, thực
tế, kịp thời, phải có tầm nhìn xa, trông rộng thì những bậc tai mắt trong triều như
Trương Đăng Quế, Phan Thanh Giản... cũng chỉ luẩn quẩn với mấy câu chuyện cũ
trong sử sách Trung Quốc để thuyết minh cho chủ trương của họ.
Trong các vùng bị chiếm ở Nam Bộ, thực dân Pháp mở trường thông ngôn để
mở trường tay sai, mở trường Pháp – Việt cho trẻ em, về sau mở thêm một trường

Nối gót Nguyễn Trượng Tộ, Nguyễn Lộ Trạch cũng gửi cho vua nhiều đề nghị
cải cách. Nguyễn Lộ Trạch chủ trương mở rộng giao thiệp với nước ngoài, trong
việc học kỹ nghệ: Việc học kỹ nghệ không phải khó như việc cắp nách núi Thái Sơn
để vượt qua biển Bắc như lời thầy Mạnh. Vả lại theo tình hình khẩn cấp, lúc khát
mới lo đào giếng thì đã chậm, nhưng chậm còn hơn là không biết mãi. Dù mất dê
mới lo làm chuồng cũng chưa phải là muộn. Nhưng rồi cũng như Nguyễn Trường
Tộ, những đề nghị cải cách của Nguyễn Lộ Trạch đều bị triều đình quên lãng, hoặc
thực hiện nhỏ giọt, không có tác dụng gì đối với xã hội. Về phương diện này có thể
kết luận triều đình nhà Nguyễn không những tiếp tay cho giặc ngoại xâm chiếm
nước ta mà còn ngăn cản việc phát triển văn hóa của nhân dân ta.
1.1.3. Bối cảnh xã hội
Trước những biến cố lớn lao của xã hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX đã để
lại một dấu ấn rõ nét trong sự sắp xếp lực lượng các giai cấp và trong trạng thái tâm
lý các giai cấp của xã hội. Trước kia, dưới chế độ phong kiến, mâu thuẫn cơ bản của
xã hội ta là mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ. Bây giờ trong cuộc kháng chiến
8


chống Pháp, mâu thuẫn ấy vẫn sâu sắc, nhưng nổi lên hàng đầu là mâu thuẫn giữa
nhân dân ta, bao gồm mọi tầng lớp yêu nước với bọn thực dân cướp nước và bè lũ
phong kiến tay sai bán nước.
Sự thay đổi mâu thuẫn trong xã hội đưa đến việc cơ cấu lại các lực lượng
trong xã hội. Vào những năm cuối thế kỷ XIX xã hội nước ta trải qua một cuộc
phân hóa sâu sắc trước kia chưa từng có. Đối với quảng đại quần chúng nhân dân,
trước kia dưới chế độ phong kiến họ đã từng bị áp bức bóc lột nặng nề. Đến giai
đoạn này, trước nguy cơ có thêm một đối tượng áp bức bóc lột mới, sức phản kháng
của họ càng mạnh, ý chí chiến đấu của họ càng được tăng cường. Sự phân hóa sâu
sắc nhất chính là trong hàng ngũ giai cấp phong kiến, giai cấp thống trị của của xã
hội. Trước tình hình đất nước bị ngoại xâm, do quyền lợi cụ thể của những người
trong giai cấp này có chỗ khác nhau, và do họ có tiếp thu được truyền thống yêu

định.
Thơ Đường luật có ba dạng chính: bát cú, tứ tuyệt, bài luật và một số dạng
đặc biệt. Ở đây, chúng tôi chỉ khảo sát thể thơ thất ngôn bát cú, là thể thơ đắc dụng
nhất trong văn học trung đại Việt Nam. Thể thơ thất ngôn bát cú được hình thành từ
thời nhà Đường. Thể thơ bát cú, mỗi bài thơ có tám câu, trong đó thất ngôn bát cú
có tám câu mỗi câu bảy chữ; ngũ ngôn bát cú có tám câu mỗi câu năm chữ. Về bố
cục, bát cú Đường luật thường chia làm bốn phần: đề, thực, luận, kết.
Luật bằng trắc: Xét ở hệ thống ngang trong các câu thơ, người ta thường căn
cứ vào chữ thứ hai trong câu thứ nhất. Nếu chữ thứ hai của câu đầu là trắc thì bài
thơ được làm theo bằng trắc và ngược lại chữ thứ hai của câu đầu là bằng thì bài thơ
được làm theo thể bằng.
Về niêm: Các câu thơ trong toàn bài dính với nhau theo một hệ thống dọc gọi
là niêm. Niêm nghĩa là câu trên dính với câu dưới: Bằng niêm với bằng, trắc niêm
với trắc theo quy tắc. Chữ thứ hai của câu 1 niêm với chữ thứ hai của câu 8: nhất
bát. Chữ thứ hai của câu 2 niêm với chữ thứ hai của câu 3:nhị tam. Chữ thứ hai của
câu 4 niêm với chữ thứ hai của câu 5:tứ ngũ. Chữ thứ hai của câu 6 niêm với chữ
thứ hai của câu 7:lục thất.
Về đối: Câu đối là những câu văn đi đôi với nhau thế nào cho ý, chữ và luật
bằng trắc cân xứng với nhau. Trong thơ Đường luật thất ngôn bát cú các câu 3-4 và
5-6 bắt buộc phải đối từng cặp một. Câu đối thì không hạn chế số chữ nhưng trong

10


thơ Đường luật câu đối phải giữ theo đúng luật của bài thơ về số chữ và luật bằng
trắc. Về đại thể, hai câu thơ đối nhau phải đối cả về ý, từ và thanh.
1.2.2. Định nghĩa thơ Nôm trào phúng luật Đường
1.2.2.1. Khái niệm trào phúng
Trào phúng là một từ gốc Hán. Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, trào phúng
là một từ gồm hai yếu tố là “trào”(chế nhạo), và “phúng”(răn bảo). “Trào phúng” là

Thơ Nôm trào phúng là một loại thơ trào phúng được viết bằng chữ Nôm.
Những sáng tác này chủ yếu xuất hiện ở văn học trung đại. Thơ Nôm trào phúng
luật Đường là một loại thơ Nôm trào phúng được viết theo các thể thơ luật Đường.
Loại này có khi còn được gọi là thơ Nôm Đường luật trào phúng.
Như vậy, văn học trào phúng là một khái niệm rộng, bao trùm lĩnh vực văn
học của tiếng cười với nhiều sắc thái, nhiều thể loại khác nhau, “từ truyện cười, tiếu
lâm, truyện trạng trong văn học dân gian đến tiểu thuyết hoạt kê, từ các vở hài kịch
cho đến những bài thơ hài hước châm biếm đủ loại từ cổ chí kim; trong đó các nhà
văn, nhà thơ đã sử dụng tiếng cười như một biện pháp nghệ thuật để xây dựng hình
tượng phủ định với mục đích châm biếm phê phán xã hội” [10;1963]. Những giới
thuyết xung quanh khái niệm thơ Nôm trào phúng luật Đường được trình bày hết
sức khái quát trên đây sẽ là cơ sở để chúng tôi đi vào khảo sát và nghiên cứu về thơ
Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX
1.3. Diện mạo thơ Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX
Quá trình phát triển của thơ Nôm trào phúng trung đại Việt Nam gắn bó chặt
chẽ với những đặc điểm và sự phát triển của lịch sử xã hội Việt Nam thời trung đại.
Đó là một “quá trình vận động, chuyển động theo quy luật nhất định, phù hợp với
quan niệm của Mác về sự bùng nổ của “văn học cười” khi tống tiễn một xã hội lỗi
thời” [98;102].
Từ thế kỷ X đến hết thế kỷ XIX, xã hội Việt Nam đã có sự biến đổi từ chỗ
tương đối ổn định đến chỗ ngày càng đi vào con đường khủng hoảng, thối nát trong
các giai đoạn sau. Đó chính là điều kiện thuận lợi để thơ Nôm trào phúng luật
Đường xuất hiện ngày một nhiều hơn. Trên cơ sở thống kê từ những tư liệu tham
khảo hiện có, chúng tôi nhận thấy, ở giai đoạn phát triển đầu tiên của văn học viết
trung đại Việt Nam, số lượng thơ Nôm trào phúng luật Đường là 44 bài.
Xét ở giai đoạn hình thành đầu tiên này, có thể thấy thơ Nôm trào phúng luật
Đường đã xuất hiện trong một thi tập của một số tác giả lớn như Nguyễn Trãi, Lê
12



13


có số lượng thơ Nôm trào phúng luật Đường lớn nhất của văn học trung đại Việt
Nam.
Nói đến thơ Nôm trào phúng luật Đường ở giai đoạn cuối thế kỷ XIX, ngoài
hai tác giả tiêu biểu trên, không thể không kể đến Kép Trà. Thơ trào phúng Kép Trà
chỉ có 3 bài tự do (tỉ lệ 0,8%). Bài Cảnh nhà là tiếng cười hài hước có phần chua
xót của nhà thơ về cảnh nghèo của mình, thông qua biện pháp cường điệu và đối
lặp. Ở bài Sướng nhất trần gian và Học vỡ lòng chữ quốc ngữ, tác giả lại sử dụng
biện pháp nói ngược và chơi chữ để chế giễu cảnh tù tội, chế giễu sự dốt nát của
mình trong việc đi học chữ Tây, qua đó mà mia mai chế độ nhà tù thực dân phong
kiến và cảnh nô lệ phụ thuộc của đất nước lúc bấy giờ.
Bên cạnh Nguyễn Khuyến, Tú Xương và Kép Trà, ở đất Quảng Nam còn có
một danh sĩ cũng có khá nhiều thơ Nôm trào phúng, đó là Tú Quỳ. Dựa vào công
trình của Thy Hảo [24], chúng tôi đã thống kê được 38 bài thơ Nôm làm theo các
thể luật Đường của Tú Quỳ. Trong số đó, có 18 bài thơ trào phúng (tỉ lệ 47,4%), tất
cả đều là những bài trào phúng hoàn chỉnh. Thơ trào phúng của Tú Quỳ chủ yếu có
sắc thái châm biếm (17/18 bài, tỉ lệ 94,4%), đa số có nội dung phê phán sự xấu xa,
hèn kém và tố cáo tội làm tay sai cho giặc, tội bòn rút đục khoét nhân dân của bọn
quan lại cường hào ác bá trong xã hội. Cách làm phổ biến của Tú Quỳ là triệt để sự
dụng phép nhân hóa và cách nói ẩn dụ, phúng dụ thông qua vệc vịnh những con vật
những sự vật thường gặp trong đời sống hàng ngày để gửi vào dụng ý mỉa mai, chế
giễu, kinh bỉ.
Cùng thời với Tú Quỳ, ở Nam Bộ cũng xuất hiện một số nhà thơ trào phúng
như Học Lạc, Nhiêu Tâm, Phan Văn Trị… . Dựa vào cuốn Học Lạc nhà thơ trào
phúng miền Nam [47], chúng tôi đã tìm được số thơ Nôm trào phúng luật Đường
của Học Lạc là 8/12 bài (tỉ lệ 66,7%) và của Nhiêu Tâm là 5/16 bài (tỉ lệ 31,3%), tất
cả đều là những bài trào phúng hoàn chỉnh. Thơ trào phúng của hai tác giả này chủ
yếu tập trung chế giễu, châm biếm những thói tệ của bọn cường hào, hương lý, quan

1.4.1. Hiện đại hóa văn học
Theo cách hiểu thông thường, hiện đại hóa là sự đổi mới, là làm thành mới.
Hiện đại hóa văn học là đổi mới văn học, phá vỡ những quy phạm đã thành cổ điển
để vươn tới cái hiện đại, đương thời nhằm đáp ứng nhu cầu của thời đại, nhằm đáp
ứng thị hiếu của công chúng trong thời điểm ấy. Tiến tŕnh phát triển của văn học
hiện đại Việt Nam chính là tiến trình hiện đại hóa văn học. Tiến trình đó không phải
15


là một sự đột biến bởi cái mới luôn hình thành trên nền tảng của cái cũ. Nó diễn ra
phức tạp, lâu dài và rõ ràng là tạo ra một sự thay đổi cơ bản, sâu sắc về chất, về
diện mạo.
Văn học hiện đại hóa là nền văn học thoát ra khỏi hệ thống thi pháp của văn
học trung đại. Nếu văn học trung đại có những đặc điểm tiêu biểu như: uyên bác,
cách điệu hóa, sùng cổ và phi ngã, rất coi trọng việc chở đạo, nói chí thì văn học
hiện đại thiên về trình bày cái đẹp, cái thẩm mỹ, cuộc sống muôn màu, muôn vẻ. Hệ
thống thể loại văn học trung đại với các đặc điểm như tính nguyên hợp, tính quy
phạm cao, tên thể loại được nêu ngay đầu đề tác phẩm và được gọi theo chức năng,
nội dung của nó cũng không còn hoặc không được thể hiện rõ trong văn học hiện đại.
Văn học hiện đại là phạm trù văn học có ý thức khẳng định văn học như một
lĩnh vực hoạt động đặc thù của con người, văn học có phương thức riêng trong việc
đồng hóa mọi hiện tượng của cuộc sống, văn học có bản chất, chức năng, quy luật
vận động riêng, nó là một ngành nghề có tính chuyên nghiệp. Văn học hiện đại chủ
trương tự do sáng tạo, đề cao vai trò của chủ thể sáng tạo, của cá tính sáng tạo, nó
coi nguyên tắc sáng tạo cao nhất là phát hiện cái mới, khẳng định cái mới, cái độc
đáo phù hợp với sự phong phú, phức tạp và tính chất không ngừng biến đổi của
cuộc sống và tinh thần con người. Do đó, văn học hiện đại không ngần ngại phá vỡ
các qui phạm, qui tắc đã có, “khinh rẻ khuôn mòn bỏ lối quen”, xông xáo, khẩn
trương đi tìm những nội dung mới, hình thức mới.
Vấn đề đặt ra ở đây là vì sao văn học Việt Nam ở những năm tháng cuối cùng

bị chia cắt làm hai miền với hai chế độ chính trị khác nhau, mặc dù không phải từ
năm 1975 mà có thể nói từ Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam đã đi theo con
đường xã hội chủ nghĩa với những đặc điểm, hệ lụy, thăng trầm phức tạp của nó.
Trong giai đoạn trước Cách mạng tháng 8 năm1945, tiến trình hiện đại hóa
của văn học Việt Nam bắt đầu khá đậm nét với trào lưu lãng mạn mà tiêu biểu là
nhóm “Thơ mới” với những thành tựu nổi bật mà Hoài Thanh cho là đã tạo nên
“một cuộc cách mệnh trong thi ca” và nhóm Tự lực văn đoàn hùng hậu. Sau đó
không lâu đã xuất hiện và ngày càng có ảnh hưởng mạnh mẽ trên văn đàn trào lưu
hiện thực và khuynh hướng văn học cách mạng. Với tiến trình hiện đại hóa, văn học
Việt Nam ngay trong giai đoạn trước cách mạng đã có những bước tiến lớn. Bên
cạnh thơ đã có truyền thống hàng nghìn năm, đã xuất hiện văn xuôi và kịch. Tiến

17


trình hiện đại hóa càng được củng cố với Đề cương văn hóa Việt Nam nêu bật ba
phương châm: dân tộc, khoa học, đại chúng do Đảng cộng sản đưa ra năm 1943.
Hiện đại hóa văn học là hiện đại hóa một cách toàn diện cả về nội dung và
hình thức, trên cả ba mặt cơ bản của văn học là tư tưởng, nghệ thuật và ngôn ngữ,
mặc dù từng người, từng lúc, tùy hoàn cảnh cụ thể, tùy sở trường, có thể nhấn
mạng, đi sâu, đổi mới chỉ một vài mặt nào đó.
Hiện đại hóa văn học và tiến trình hiện đại hóa nền văn học không chỉ dừng lại
ở đây mà trước mắt chúng ta còn cả một chặng đường dài. Điều đó, đặt ra vấn đề
cho những người cầm bút phải tiếp tục tìm tòi, đổi mới hơn nữa để đưa văn học vào
quỹ đạo chung của cuộc sống hiện tại. Chúng ta cần công nhận và xem xét thành
tựu của văn học đương đại với những yếu tố tích cực của nó.
Tiểu kết chương 1
Ở chương 1, chúng tôi đã tiến hành trình bày bối cảnh lịch sử - văn hóa – xã
hội Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX; khái quát về thơ luật Đường, khái niệm rào
phúng, văn học trào phúng, thơ trào phúng để đi đến khái niệm thơ Nôm trào

xuất hiện cái tôi bế tắc, không lối thoát.
Hình ảnh nhà Nho trong thơ Nôm trào phúng luật Đường cuối thế kỷ XIX là
những con người loay hoay đủ đường để vượt thoát nhưng đều rơi vào tuyệt vọng.
khởi nghĩa thì không có ánh sáng lý tưởng, hoặc đã thất bại, đi thi đỗ đạt làm quan
thì chữ Nho không còn được trọng dụng, làm quan chỉ là làm tay sai, học theo Pháp,
làm công chức cho Pháp thì bị người đời phỉ nhổ… Cuối cùng họ lẩn quẩn trong
những cái tầm thường hàng ngày. Nguyễn Khuyến thì suốt ngày thủi thủi nơi ruộng
vườn làm “lão nông thuần phát”, Tú Xương là một ông chồng bất lực, ăn lương vợ,
Học Lạc, Nhiêu Tâm đều là những nhà Nho của dân chúng, lấy việc dạy học, làm
thuốc làm kế sinh nhai…
Đứng trước cảnh đất nước bị thực dân Pháp xâm lược, hàng loạt sĩ phu yêu
nước đã không tỏ thái đồ làm ngơ mà họ sẵn sàng ứng nghĩa để đấu tranh giành độc
lập cho dân tộc. Không phải họ không có ý chí, không có sức mạnh nhưng cùng một
lúc họ phải đối mặt với thực dân Pháp với triều đình phong kiến đầu hàng nên
19


những cuộc khởi nghĩa của họ đều bị thất bại. Họ dường như đi vào ngõ cụt khi
khống có lực lượng hậu thuẫn làm nòng cốt. Chính vì lẽ đó, họ trở nên bế tắc,
không tìm thấy một lối thoát tốt đẹp nào khác cho mình và cho cả đất nước dân tộc.
Từ đó, sinh ra bất mãn, ngông nghênh với đời, đả phá trật tự xã hội cũ kỹ, công kích
những cái mới lai căng rởm đời… đó cũng là một cách để bày tỏ lòng yêu nước vậy.
Nhà nghiên cứu Trần Ngọc Vương đã góp phần lý giải về sự thay đổi ấy của
tầng lớp nhà nho như sau: “Chủ nghĩa thực dân phương Tây đã tạo ra một sự va
đập dữ dội vào bậc nhất trong giới trí thức - nhà nho. Những giá trị truyền thống
cổ truyền bị đặt lại đồng loạt, trong số đó, cả những giá trị làm nên phẩm chất của
người tài tử cũng bị “xét xử” (Danh nhân văn hoá Việt Nam, Lê Minh Quốc, NXB
Trẻ, tr 90). Quả thật như vậy, ngay trên sân khấu xã hội, một khi vai trò của chính
phủ Nam triều đã trở thành bù nhìn, hình thức thì cả bộ máy quan chức của nó cũng
chỉ tồn tại lay lắt, hay chỉ có vai trò thứ yếu. Những kẻ được xem là đại diện cho

được trọng vọng như trước nữa. Tầng lớp nho sĩ như những kẻ đã lỗi thời, mạt vận.
Họ không phải đã thoái hoá, biến chất mà nói một cách đau đớn như Tú Xương,
hình ảnh nhà nho của thời đại mà ông đang sống chẳng khác gì một gã “thị dân lưu
manh”.
Bên cạnh Tú Xương, Nguyễn Khuyến là nhà Nho đích thực, một danh Nho.
Vậy điều gì làm cho nhà Nho Yên Đổ băn khoăn, tự thẹn, trăn trở day dứt? Nguyễn
Khuyến đã băn khoăn trước ngã ba đường, cuối cùng, ông quyết không hợp tác với
giặc, nhưng cũng không đủ trí dũng để chiến đấu. Giải pháp của nhà nho này là từ
quan về với vườn Bùi, quê hương của ông. Là một nho sĩ từng bước qua cửa khổng
sân trình, cũng như bao Nho sĩ khác, ông mong muốn tin tưởng “vào sứ mệnh cao
cả và thiêng liêng cao cả mà một nhân cách đứng giữa trời đất như mình được tin
tưởng vào tính hữu ích của cái học vấn mà mình có được nhờ học tập sách thánh
hiền” (Trần Nho Thìn). Nhưng giờ đây “áo xiêm nghĩ lại thẹn thân già” nhà Nho
Nguyễn Khuyến luôn day dứt, mặc cảm về sự bất lực của bản thân trong tư cách
một nhà Nho. Tư cách một nhà văn hóa, một người tự ý thức rất rõ về sự bất lực của
loại hình nhân cách như mình, sự vô dụng của một trí thức trước cảnh nước mất,
nhà tan:
Cờ đang dở cuộc không còn nước,
Bạc chửa thâu canh đã chạy làng.
(Tự trào)
21


Như vậy, bối cảnh lịch sử xã hội lúc bấy giờ - sự đô hộ của giặc Pháp – là một
sự kiện tác động lớn đến ý thức của nhà Nho Việt Nam, khiến con người văn hóa
Nguyễn Khuyến không khỏi nhận thức lại vị trí của giai cấp mình. Chân thành tự
thẹn với chính mình, đó là một nhân cách đáng trọng. Tuy nhiên, Nguyễn Khuyến
không nghĩ thế. Càng tự ý thức về bản thân, thi nhân Nguyễn Khuyến càng cảm
thấy cái sự học của nhà Nho thật vô nghĩa, thấy bản thân mình thật đáng bị phủ
định. Thông thường, tư cách nhà nho khiến cho các nho sĩ trước đó diễn tả trong thơ

danh phú quý. Đối với họ, ý thức tu thân còn là ý thức học tập các vị tiền bối, coi họ
là tấm gương sáng để noi theo. Đó là tấm gương của các bậc trung thần nghĩa sĩ, các
bậc tài cao đức trọng, các văn nhân thi sĩ đã trở thành biểu tượng cho nhân cách
sáng ngời của các nhà nho.
Đến văn học trào phúng giai đoạn này dường như đã có sự đả phả đạo lí Nho
giáo, mong muốn thoát khỏi những ràng buộc mang tính chất Nho gia. Tu thân là
một khái niệm then chốt của Nho giáo, là hành xử quan trọng đối với bậc quân tử.
Đối với nho sĩ, một khi đã bước chân vào Khổng sân Trình thì đều thấm nhuần tinh
thần của nho giáo là con người phải ý thức vấn đề tu thân và coi trong việc giữ gìn
truyền thống đạo lý.
Tú Xương vẫn là một nhà nho chăm đèn sách, hòng mong tiến thân trên con
đường khoa cử, như dường như không thấy xuất hiện ý niệm tu, tề, trị, bình ở con
người ông. Với ông ta lại thấy xuất hiện một con người sống buông xả, để cảm xúc
và ứng xử chạy theo bản năng và sở thích. Ông không ngại ngần tự nhận mình rằng:
Bài bạc, kiệu cờ cao nhất xứ
Rượu chè, trai gái đủ tam khoanh
(Tự vịnh)
Lối sống tu thân khắc kỷ không còn là tiêu chuẩn đầu tiên để hành xử theo đối
với nhà nho thị dân Tú Xương. Ông thả mình ăn chơi và ngông ngược nói lên
những thú vui đấy một cách trâng tráo. Những thú vui đi ngược lại với truyền thống
của nho giáo và còn vượt ra ngoài tính quy phạm của giọng điệu ngôn chí nho gia.
Cái tôi Tú Xương được bộc lộ rõ đầy cá tính. Tuy vẫn dùi mài theo khoa cử, vẫn lều
chõng đi thi, nhưng không chú tâm nơi sách vở, mà “Mỗi năm ông học một vài
câu”, và chủ yếu chỉ học “Lạc nhạn Xuyên tâm đủ ngón chầu”. Ta thấy Tú Xương
không để chí nơi học hành mà mải mê với những cuộc chơi nằm ngoài truyền thống
23


nho giáo. Không những không tu thân lập chí theo gương thánh hiền, Tú Xương
cũng không tha thiết đạo thánh hiền. Đỗ tú tài, mở lớp dạy học, nhưng ông Tú chỉ


chừng mực và kín đáo. Nhưng Tú Xương lại mạnh bạo “đặc tả” chân dung, tính
cách qua những suy nghĩ bằng vệc tường thuật, miêu tả công việc:
Con gái nhà dòng, lấy chồng kẻ chợ
Tiếng có miếng không, gặp chăng hay chớ
Mặt nhẵn nhụi, chân tay trắng trẻo, ai dám chê rằng béo rằng lùn,
Người ung dung, tính hạnh khoan hòa, chỉ một bệnh hay gàn hay dở.
Đầu sông bãi bến, đua tài buôn chín bán mười,
Trong họ ngoài làng, vụng lẽ chào dơi nói thợ
(Văn tế sống vợ)
Một khía cạnh thấy rõ trong biểu hiện của cái tôi trong thơ Nôm trào phúng
luật Đường cuối thế kỷ XIX là sự bức phá ra khỏi những lề lối vốn có từ ngàn đời
của lễ giáo phong kiến. Họ tự do nói điều mình muốn, tự do làm điều mình thích, tự
do tự tại thong dong giữa cuộc đời. Ta thấy phong thái rất đỗi ung dung, đứng trên
mọi thể chế, mọi thế lực của nhà Nho trào phúng. Vì đứng trên nên họ đả kích
không kiêng dè, ý nhị cả bọn thực dân lẫn bè lũ phong kiến tay sai thối nát. Vì đứng
trên miệng lưỡi thế gian nên họ mặc nhin sống cuộc đời mình thích. Thơ ca của Tú
Xương, Nguyễn Khuyến, Từ Diễn Đồng, Học Lạc, Cử Trị … đều biểu biện cái tôi
như thế.
Nếu như ở các giai đoạn trước, cái tôi trong thơ ca còn kiềm tỏa bởi những lễ
giáo phong kiến thì cái tôi văn học trào phúng giai đoạn này đã có sự bung tỏa, phá
phách, khinh thế và ngạo vật… Tú Xương là một cái tôi như thế. Ông nhiều lần tự
khẳng định mình qua thơ văn:
Ta nghĩ như ta có dại gì?
Ai chơi chơi với chẳng cần chi!
Kìa thơ tri kỉ đàn anh nhất,
Nọ khách phong lưu bậc thứ nhì.
Ăn mặc vẫn ra người thiệp thế,
Giang hồ cho biết mặt tương tri…
(Tự đắc)


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status