Văn du ký nửa đầu thế kỷ XX và tiến trình hiện đại hóa văn học - Pdf 37

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

VĂN DU KÝ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
----------------------------

NGUYỄN THỊ THÚY HẰNG

VĂN DU KÝ NỬA ĐẦU THẾ KỶ XX
VÀ TIẾN TRÌNH HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC
Chuyên ngành:
Mã số:

VĂN HỌC VIỆT NAM
62223401

LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. TRẦN NHO THÌN
XÁC NHẬN NCS ĐÃ CHỈNH SỬA THEO QUYẾT NGHỊ

kiện trong quá trình nghiên cứu. Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành và
sâu sắc tới các nhà khoa học, các cán bộ quản lý, các giảng viên của Trung
tâm Nghiên cứu và Ứng dụng Văn hóa Nghệ thuật, Khoa Du lịch học và Khoa
Văn học, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, đã góp ý, tư vấn,
giúp đỡ cho tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình nghiên cứu và
thực hiện Luận án.
Tôi xin tri ân sự động viên, khích lệ và ủng hộ của gia đình, người thân,
bạn bè và đồng nghiệp đã giúp tôi yên tâm và có thêm động lực để hoàn thành
Luận án.
Tác giả

Nguyễn Thị Thúy Hằng


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU .................................................................................................................... 1
1. Lý do chọn đề tài ................................................................................................ 1
2. Mục tiêu nghiên cứu ........................................................................................... 3
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu ...................................................................... 3
4. Phương pháp nghiên cứu .................................................................................... 4
5. Đóng góp mới của luận án .................................................................................. 5
6. Cấu trúc của luận án ........................................................................................... 5
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU .................................. 6
1.1. Một số khái niệm cần xác định ........................................................................ 6
1.1.1. Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại .................................................. 6
1.1.2. “Văn du ký” ............................................................................................. 8
1.1.3. Một số định nghĩa về văn du ký .............................................................. 10
1.1.4. Khái niệm “hiện đại”và “hiện đại hóa văn học” .................................. 15
1.2. Điểm qua lịch sử của văn du ký .................................................................... 19
1.2.1. Văn du ký ở Việt Nam trung đại ............................................................. 19

chất hoài cổ ...................................................................................................... 95
3.3. Văn du ký về phụ nữ và phụ nữ viết văn du ký ........................................... 100
3.3.1. Văn du ký viết về phụ nữ ...................................................................... 100
3.3.2. Văn du ký của phụ nữ ........................................................................... 106
Tiểu kết ............................................................................................................... 112
CHƢƠNG 4. NGHỆ THUẬT VĂN DU KÝ VIỆT NAM NỬA ĐẦU
THẾ KỶ XX VÀ HIỆN ĐẠI HÓA VĂN HỌC .................................................. 113
4.1. Thi pháp tả thực trong văn du ký nửa đầu thế kỷ XX ................................. 115
4.1.1. Hiện thực nhiều chiều, đa dạng, phong phú ........................................ 117
4.1.2. Hiện thực hiện ra qua các chi tiết ........................................................ 124
4.2. Hình thức thể hiện cái tôi ............................................................................ 126
4.2.1. Các hình thức kể chuyện trong văn du ký ............................................ 127
4.2.2. Các trải nghiệm và khám phá cá nhân................................................. 130
4.3. Ngôn ngữ văn du ký .................................................................................... 143
Tiểu kết ............................................................................................................... 146
KẾT LUẬN ............................................................................................................ 147
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ LIÊN QUAN
ĐẾN LUẬN ÁN ..................................................................................................... 151
TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................................... 152


MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Văn du ký nửa đầu thế kỷ XX như một thể loại của văn học hiện đại
Chúng ta đều biết, trong khoảng thời gian nửa đầu thế kỷ XX, văn học Việt
Nam chứng kiến sự xuất hiện của không ít các tác phẩm thuộc nhóm thể loại văn du
ký1. Qua một thời gian dài ít được chú ý, trong thập niên gần đây, thể văn du ký nói
chung trong đó có văn du ký nửa đầu thế kỷ XX ở Việt Nam đã bắt đầu thu hút sự
quan tâm của giới nghiên cứu. Thực tế trên cho thấy rằng, càng ngày, giới nghiên
cứu càng quan tâm đến một kiểu thể loại vốn bị xem là cận văn học, một thể loại

đặc điểm mà chưa quan tâm đến những đóng góp của văn du ký cho quá trình hiện
đại hóa văn học dân tộc. Thực ra cũng có một số nghiên cứu gần đây nêu vấn đề về
mối quan hệ giữa thể văn du ký và quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam. Chẳng
hạn, Vương Trí Nhàn đã nhắc đến thể ký nói chung trong quá trình hiện đại hóa văn
học. Trong luận án của Dương Thu Hằng về Trương Vĩnh Ký [55] cũng có nêu vấn
đề về mối quan hệ giữa du ký với công cuộc hiện đại hóa văn học qua phân tích
Chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi, một áng du ký quốc ngữ đầu tiên. Đoàn Lê Giang nói
rõ trong những biểu hiện của hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX có vị trí của
du ký [43]. Tuy nhiên, các trường hợp vừa nói trên, do mục đích và nhiệm vụ
nghiên cứu đặt ra, đều chỉ mới dừng lại mức độ nhận xét ban đầu chứ chưa đi sâu
nghiên cứu. Vấn đề về đóng góp của văn du ký cho quá trình hiện đại hóa văn học
dân tộc ở đầu thế kỷ XX hầu như chưa được chú ý nghiên cứu. Nghiên cứu văn du
ký từ góc nhìn của quá trình hiện đại hóa văn học Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX vì
thế vẫn đang là một công việc mời gọi hấp dẫn mà cũng là thách thức.
1.3. Cần ứng dụng nhiều thành tựu nghiên cứu văn du ký của thế giới
Theo sự khảo sát sơ bộ của chúng tôi, có thể nói, giới nghiên cứu quốc tế đã
có nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu du ký, nhất là du ký của các nhà văn
Phương Tây xuất hiện suốt từ quãng thế kỷ XVIII trở lại đây. Những thành tựu
nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn của văn học du ký của Phương Tây hầu
như ít được phản ánh trong nghiên cứu du ký ở Việt Nam. Công trình khoa học của
Phạm Thị Ngọc Lan [87] đã vận dụng một số luận điểm lý luận quan trọng của giới
nghiên cứu Trung Quốc để nghiên cứu du ký trung đại Việt Nam. Bài viết của
Nguyễn Hữu Lễ trình bày du ký hiện đại dưới hình thức phân loại du ký và sơ bộ
nêu một vài đặc điểm chứ không nêu vấn đề hiện đại hóa văn học qua thể du ký
[103]. Như vậy, có một vấn đề khác cũng khá cấp thiết là vận dụng những kết quả

2


nghiên cứu thực tiễn và lý thuyết về văn du ký của nước ngoài để tiếp cận văn du ký

3


3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Các vấn đề lý thuyết của văn du ký, từ vấn đề định nghĩa đến các đặc trưng
thể loại. Một số lý thuyết về văn du ký của Phương Tây, khái quát từ đặc trưng văn
học Phương Tây cũng là một phạm vi quan tâm.
3.2.2. Những tiền đề văn hóa, xã hội của văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX.
3.2.3. Quá trình hình thành cũng như sự vận động của du ký trong văn học Việt
Nam. So sánh du ký trung đại và du ký hiện đại, những đặc điểm tương đồng và
khác biệt của hai kiểu du ký.
3.2.4. Những vấn đề của hiện đại hóa văn học nửa đầu thế kỷ XX và vị trí của văn
du ký trong dòng chảy hiện đại hóa đó.
3.2.5. Tính hiện đại của văn du ký nửa đầu thế kỷ XX về nội dung và nghệ thuật.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra, trong luận án chúng tôi vận
dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
4.1. Phương pháp lịch sử: phân tích, đánh giá văn du ký như là một đối tượng có
lịch sử ra đời, vận động trong thời gian.
4.2. Phương pháp hệ thống: nhìn nhận văn du ký như là một chỉnh thể riêng có cấu
trúc nội tại, có những mầm mống riêng từ văn học trung đại nhưng nằm trong một
hệ thống lớn hơn là cả tiến trình hiện đại hóa của văn học dân tộc. Đến lượt mình,
văn học Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa lại được xem xét trong bối cảnh
chung của công cuộc tiếp xúc văn hóa và văn học Phương Đông -Phương Tây.
4.3. Phương pháp tiếp cận văn hóa học: cho phép nhìn nhận văn du ký như là sản
phẩm văn hóa tinh thần của tác giả Việt Nam, tuy trong bối cảnh hội nhập, giao lưu,
tiếp biến văn hóa với Phương Tây để thay đổi nhưng vẫn ít nhiều chịu sự chi phối
của văn hóa Việt Nam, của những quan niệm về con người và thế giới.
4.4. Thi pháp học: các vấn đề chủ yếu về thi pháp và nghệ thuật nói chung của văn
du ký nửa đầu thế kỷ XX như vấn đề người kể chuyện ngôi thứ nhất và thứ ba, vấn

Chương 2. Cơ sở văn hóa xã hội và diễn biến của văn du ký Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX
Chương 3. Nội dung văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa
văn học
Chương 4. Nghệ thuật văn du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX và hiện đại hóa
văn học

5


CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Văn du ký cả ở Việt Nam cũng như ở nước ngoài có lịch sử khá lâu đời và
trong bối cảnh văn hóa xã hội từ đầu thế kỷ XX phát triển rất mạnh, hiện vẫn đang
được tiếp tục, thậm chí còn làm nên một mảng văn học hấp dẫn. Hiện tượng Huyền
Chíp với Xách balô lên và đi gần đây [25] đã gây nên những phản ứng khác nhau
của công chúng văn học cho thấy thế mạnh và những đặc điểm của thể loại này cần
được chú ý hơn nữa.
Phần tổng quan này được dành cho việc giới thuyết khái niệm văn du ký và
các lý thuyết nghiên cứu văn du ký ở nước ngoài cũng như trong nước, trình bày
khái quát lịch sử nghiên cứu với những gì giới nghiên cứu đã giải quyết và xác định
nội dung cụ thể mà luận án cần giải quyết.
1.1. Một số khái niệm cần xác định
1.1.1. Khái niệm “du lịch” và du lịch hiện đại
Du ký hay văn du ký do những người du lịch viết. Vì vậy chúng ta cần trước
tiên bàn về các dạng du lịch khác nhau và những người đi du lịch.
Theo Từ điển tiếng Việt, du lịch “đi xa cho biết xứ lạ khác với nơi mình ở”
[232, 272]. Từ định nghĩa này, cuốn từ điển xác định du ký là “thể ký ghi lại những
điều người viết chứng kiến trong chuyến đi chơi xa” [232, 272]. Tất nhiên đây là
định nghĩa chung nhất của một cuốn từ điển phổ thông chứ chưa phải là định nghĩa

đại thể du lịch như một hiện tượng văn hóa của nhân loại.
Trong các sách nghiên cứu về du lịch của nước ngoài, có phân biệt tourism
(du lịch) với travel (du hành). Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of
Tourism), travel chỉ sự di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác-một khía cạnh
cơ bản, không thể thiếu của du lịch. Khái niệm du hành có gợi ý về hình thức,
phương tiện đi lại: đi bộ, đi ngựa, đi tàu hỏa, đi máy bay, trượt tuyết, tự lái xe
v.v…Từ khái niệm travel có từ traveller-người du hành, du lữ mà có thể không hẳn
là nhà du lịch- tourist, ví dụ như người nhập cư, người di tản, sinh viên diện trao đổi
văn hóa thì không thể gọi là khách du lịch. Lại có trường hợp mà người đi xa tìm
thấy ở việc đi xa một phương cách thể hiện quan điểm sống của mình. Nguyễn Tuân
thậm chí có lúc cao hứng còn gọi mình là “đổi khách”: “Là một đổi khách chỉ muốn
sống với cảnh đẹp luôn đổi thay, tôi chỉ muốn lòng tôi sớm chiều đều rung lên một
điệu nhẹ nhõm, vui vẻ” [236, 284]. Thậm chí việc đi xa với ông không phải là để

7


xem sự khác lạ so với nơi ở của mình mà chính là một cách để thay đổi cảm giác,
thể hiện chủ nghĩa lãng mạn sâu đậm của mình. “Tôi chỉ là một du khách đi qua,
thấy hay tôi ở lâu, thấy dở tôi lên đường đi ngay”.
Phân biệt một cách tinh tế các trường hợp cụ thể, vốn rất đa dạng phong phú
của những người di chuyển từ địa điểm này sang địa điểm khác không phải là
nhiệm vụ của luận án. Chúng tôi quan tâm nghiên cứu tất cả các dạng văn bản do
những người lữ hành, du lịch hay du lữ.
Để hiểu được tầm quan trọng của văn du ký, chúng ta cần chú ý đến sự phát
triển bùng nổ của du lịch hiện đại. Việc đi từ điểm này đến điểm khác đã diễn ra
từ thời cổ đại nhưng hiện nay, việc đi tăng mạnh hơn bao giờ hết do những nhân tố
khác nhau. Tổ chức du lịch thế giới ghi nhận sự tăng trưởng ngoạn mục của du
lịch trên toàn cầu: từ năm 1950 mới có 25 triệu người đi du lịch đến năm có 277
triệu người, qua năm 1990, con số này đạt đến 438 triệu, năm 2000 lên tới 919

Về tinh thần chung, khái niệm “văn du ký” của chúng tôi thống nhất với khái
niệm “du ký” mà giới nghiên cứu hiện đang sử dụng, chỉ có điều cách gọi này có
khả năng làm rõ hơn nội dung và đặc điểm của đối tượng.
Nhân đây cũng cần lưu ý rằng trong lịch sử du ký Việt Nam nửa đầu thế kỷ
XX, có trường hợp tác giả đặt tên tác phẩm của mình dưới một tiêu mục là “lữ ký”
mặc dù về hình thức và nội dung về cơ bản tương đồng với văn du ký. Đó là trường
hợp Biệt Lam Trần Huy Bá trên tạp chí Tri tân với bài ký xuất bản năm 1942 Ban
Mê Thuột [8] và bài ký xuất bản năm 1944 Hai tháng ở gò Óc eo hay là câu chuyện
đi đào vàng [9]. Đây là áng văn du ký của một nhà khảo cổ học, không phải là một
khách du lịch theo nghĩa người du lịch hiện đại. Vì vậy, lại cần phải có phân biệt
kiểu tác giả viết du ký và hình thức đi. Trần Huy Bá dùng khái niệm “lữ ký” theo
chúng tôi là rất chính xác. Theo Từ điển Hán Việt của Đào Duy Anh, du là “đi chơi”,
còn lữ là “đi ra xa nhà”. Cả hai hình thức đi đều là đi xa nhà, song một bên là đi
chơi, chủ động, tự nguyện; còn một bên là xa nhà có thể bất đắc dĩ, do công việc đòi
hỏi hay những lý do khác. Sắc thái phân biệt rõ ràng là có. Có thể phải xét sự khác
biệt giữa một bên là chủ động đi và một bên là bị động, đi ra khỏi nhà mà không
phải đi chơi.
Cũng có trường hợp nhà nghiên cứu đồng nhất du ký với phóng sự. Đức
Dũng viết: “Ngay từ những thập niên đầu thế kỉ XX, một loạt phóng sự đã xuất hiện
trên báo chí ở nước ta …Tiêu biểu cho loại này là một số phóng sự như: Mười ngày
ở Huế, Pháp du hành trình nhật kí, Hạn mạn du kí v.v” [34, 65-66]. Nhưng việc

9


đồng nhất này theo chúng tôi không có căn cứ khoa học. Mục đích, tính chất, chức
năng của phóng sự khác du ký mặc dù có thể giữa chúng có sự giao thoa nào đó.
Phóng sự thường đòi hỏi tính nhanh nhạy của tin tức cần cung cấp, còn du ký có thể
là viết lại hành trình qua sự hồi tưởng dựa trên trí nhớ hay sổ ghi chép.
1.1.3. Một số định nghĩa về văn du ký

đồng đại và lịch đại của văn du ký trong lịch sử văn học Việt Nam và thế giới. Định
nghĩa lưu ý cả điều tai nghe mắt thấy cũng như điều tưởng tượng trong các tác phẩm
du ký. Tuy nhiên, có những vấn đề của lịch sử văn du ký chưa được bao quát trong
định nghĩa này. Ví dụ như cái nhìn thực dân của các tác giả du ký châu Âu khi đi
sang các nước Phương Đông, coi Phương Đông như là thế giới man ri, mọi rợ cần
được khai hóa. Cái nhìn của các sứ thần Trung Quốc khi đến Việt Nam thời trung
đại cũng mang một sắc thái thực dân tương tự. Trong khi đó, người Việt đi sang
Phương Tây lại có tâm thế học hỏi. Nghĩa là văn du ký viết khi ra nước ngoài
thường bao hàm một cái nhìn về “người khác”.
Trần Kim Anh, Hoàng Hồng Cẩm dựa trên mảng văn học chữ Hán, lại định
nghĩa “văn du ký là loại văn được viết ra trong những chuyến đi, vừa để ghi lại hành
trình, vừa để bày tỏ cảm xúc về những điều mắt thấy tai nghe. Đặc điểm của du ký
là chuyên lấy việc mô tả thắng cảnh núi sông, phong vật làm đề tài, cách viết đa
dạng, có thể miêu tả, có thể trữ tình, có thể nghị luận, và phải là chính tác giả ghi
chép, về chính chuyến đi của mình, miêu tả lại cảm thụ của bản thân trước non sông
cảnh vật” [4,113]. Định nghĩa này chủ yếu áp dụng cho văn du ký chữ Hán thời
trung đại mà chưa bao quát hết thực tế du ký thế kỷ XX bằng quốc ngữ, chưa nói
đến một trong những yếu tố quan trọng nhất của du ký là kể về các cuộc tiếp xúc
với “người khác”, “xứ khác” tức nền văn hóa khác.
-

Định nghĩa của giới nghiên cứu quốc tế:

Định nghĩa của từ điển Từ Hải: “Du ký là một trong những thể tài văn học, là
một loại của tản văn, dựa vào ngòi bút nhanh nhạy, miêu tả một cách đầy đủ và sinh
động tất cả những điều tác giả tai nghe mắt thấy trên đường du lịch, như đời sống xã
hội, phong tục tập quán, núi sông cảnh vật, danh thắng cổ tích, cùng với việc biểu
đạt tư tưởng, tình cảm của tác giả” [dẫn theo Phạm Thị Ngọc Lan, 86, 6]. Nhà
nghiên cứu Phạm Thị Ngọc Lan cũng dẫn ý kiến của nhà nghiên cứu Trung Quốc là
Vương Lập Quần: “dấu tích du lịch, cảnh quan và cảm xúc cá nhân là ba yêu cầu

không có thực. Tóm lại, rất khó xác định liều lượng giữa sự thực và hư cấu trong
du ký. Trong khi chủ yếu là ghi chép lại điều tai nghe mắt thấy, tác giả văn du ký
có thể hư cấu bằng những cách khác nhau ví dụ như dựa vào du ký của người khác,
thậm chí có thể là sách nghiên cứu hay tiểu thuyết để độn cho áng văn đầy lên.
Hiện tượng này giới nghiên cứu gọi là kể chuyện ở ngôi thứ ba chứ không phải
ngôi thứ nhất.

12


Theo Bách khoa thư về du lịch (Encyclopedia of Tourism), khái niệm travel
literature -“văn học du lịch” bao gồm nhiều loại, từ các sách hướng dẫn du lịch
thuần túy cung cấp các thông tin cho du khách - khi đó không thể gọi là thể loại văn
học -đến các sáng tác tưởng tượng, hư cấu cũng không thuần túy là văn du ký nữa
[265, 602]. Điều nói đây có thể giúp phân biệt những tác phẩm tuy có tên là du ký
nhưng không thuộc đối tượng nghiên cứu của luận án. Ví dụ như tác phẩm nổi tiếng
Tây du ký của Ngô Thừa Ân tuy rất hấp dẫn song bên cạnh những quan sát, ghi
chép về các xứ khác, người khác, lại tồn tại chất tiểu thuyết đậm nét, xây dựng
thành công những kiểu nhân vật tiểu thuyết. Nằm ở khoảng giữa chúng là các ghi
chép về một chuyến đi và các ghi chép này thực hiện một chức năng kép, vừa có thể
cung cấp thông tin xác thực về các địa điểm du khách cần đến vừa thỏa mãn nhu
cầu thẩm mỹ, hiểu biết về các miền đất lạ, các nền văn hóa và con người đa dạng
trên thế giới. Tức là trong văn du ký, có sự tổng hợp các chức năng thông tin cộng
với chức năng dân tộc học, nhân loại học, chức năng thẩm mỹ. Bách khoa thư về du
lịch quan niệm văn du ký là thể loại phi hư cấu.
Theo Wikipedia (tiếng Anh), khái niệm văn học du lịch (travel literature)
được giới thuyết như sau: “thể loại văn học du lịch bao gồm văn học du lữ (outdoor
literature), văn học thám hiểm (exploration literature), văn học phiêu lưu (adventure
literature), văn học viết về thiên nhiên (nature writing), và sách hướng dẫn du lịch
(guide book), cũng như các ghi chép từ các chuyến đi ra hải ngoại”. Đây không hẳn

khác và một thế kết hợp khác các đặc điểm này”. Tiêu chí trung tâm cho thể loại
văn du ký phải là “tự sự phi hư cấu ở ngôi thứ nhất” (chúng tôi nhấn mạnh). Tự sự
ngôi thứ nhất hàm nghĩa rằng đây là sự ghi chép chân thực các trải nghiệm của
chính tác giả - người kể chuyện. Nhưng nhà văn viết du ký lại phải đóng hai vai trò
xung đột nhau: là người viết phóng sự thì phải ghi lại đúng những gì đã trải nghiệm,
nhưng là người kể chuyện thì anh ta phải gây được hứng thú cho người đọc, trình
bày để người đọc thưởng thức. Ranh giới giữa hư cấu và phi hư cấu không dễ gì
vạch ra được. Tính hư cấu là không tránh khỏi trong tất cả các tác phẩm văn du ký.
Có thể lấy dải quang phổ để hình dung chất hư cấu trong văn du ký: ở một cực của
dải quang phổ là những nhà văn muốn ghi lại trung thực các trải nghiệm của mình
nhưng thấy cần biên tập lại, cấu trúc lại các trải nghiệm nên làm cho chúng biến
dạng. Ở cực bên kia có những nhà văn có chủ ý sáng tạo các chi tiết và tạo truyền
thuyết [261, 29]. Trước một đối tượng phức tạp, đa diện như văn du ký, phương
pháp của Carl Thompson là mô tả, giải thích mà tránh đưa ra một định nghĩa cụ thể.
Cách làm này rất có lý.

14


Nhìn chung, trên đây chỉ là một số trong vô số các định nghĩa về du ký trong
nước và quốc tế. Mỗi định nghĩa được đưa ra từ góc nhìn riêng của nhà khoa học,
được khái quát từ thực tiễn văn học mà nhà nghiên cứu đó quan tâm nghiên cứu,
nên khó có thể lấy một tiêu chí nào để phê phán, đánh giá đúng sai. Người chú trọng
đến tính chất cá nhân, tính chất biểu hiện chủ thể của du ký, người đề cao tính chân
thực, mắt thấy tai nghe của du ký nhưng lại có thể nhấn mạnh tính hư cấu tưởng
tượng; người chú ý tính chất hấp dẫn của du ký. Theo chúng tôi, một định nghĩa
càng dài, càng cụ thể thì lại càng có nguy cơ thiếu hụt. Vì thế nên trong luận án này,
chúng tôi chủ trương xem khái niệm văn du ký có những nội dung chính sau:
- Là thể loại tự sự phi cốt truyện, viết bằng văn xuôi, thường có dạng hồi ức,
và dạng nhật ký, dành cho hoạt động di chuyển giữa các địa điểm có khoảng cách

Nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Hạnh cho rằng “Thời kỳ hiện đại trong văn
học, cũng như trong nghệ thuật, tư tưởng, lịch sử nói chung, bắt nguồn từ những
phát kiến mới về thế giới, từ trình độ phát triển mạnh mẽ của công nghiệp và
thương mại, từ sự hình thành nền sản xuất tư bản chủ nghĩa và giai cấp tư sản ở các
nước trong một giai đoạn lịch sử nhất định. Khi nói về các nền văn học hiện đại
Phương Đông, có lúc người ta nhấn mạnh nguyên nhân tư sản hóa, Âu hóa. Thật ra,
tư sản hóa, Âu hóa chỉ là những biểu hiện có tính chất cục hạn, còn ngọn nguồn sâu
xa, phổ biến của hiện đại hóa là công nghiệp hóa, quốc tế hóa, cách thức tư duy mới
và ý thức về giá trị cá nhân” [53]. Nội hàm hiện đại theo Nguyễn Văn Hạnh gắn liền
với phát kiến về thế giới (điều này có quan hệ với văn du ký), với chủ nghĩa tư bản,
với công nghiệp hóa, quốc tế hóa, tư duy mới, ý thức về cá nhân. Trong quá trình
hiện đại hóa văn học Việt Nam, theo Nguyễn Văn Hạnh, tính hiện đại của văn học
đi liền với tính dân tộc; hệ thống thể loại thơ, văn xuôi, kịch tương đồng thể loại
Phương Tây; con người cá nhân vẫn gắn với ý thức cộng đồng.
Nhà nghiên cứu Trần Đình Sử viết: “Tính hiện đại của xã hội như là trạng
thái chuyển biến về hình thái, từ xã hội trung đại sang hiện đại, từ tôn giáo sang thế
tục, từ quân quyền sang dân chủ, tự do; từ cát cứ sang quốc gia dân tộc, từ dân tộc
biệt lập sang giao lưu quốc tế. Tính hiện đại có tính chất toàn cầu hoá. Tính hiện đại
như một phạm trù văn hoá bao gồm các thuộc tính như sùng thượng lí tính, khoa
học, giải phóng cái tôi, đề cao tính chủ thể”. Trong văn học, tính hiện đại được ông
quan niệm: “Tính hiện đại của văn học nóí chung bao gồm sự đề cao tính thẩm mĩ,
phân biệt với tính giáo huấn, tính cộng cụ; đề cao tính tự chủ phân biệt với tính phụ
thuộc; giải phóng cá nhân với cái tôi chủ thể; đề cao nhận thức, sáng tạo, phân biệt

16


với việc sử dụng các hình thức có sẵn” [183]. Tương tự như Vương Trí Nhàn, Trần
Đình Sử cũng lưu ý cần phân biệt tính hiện đại với chủ nghĩa hiện đại vốn là một
khái niệm khác.


17


-

Cách hiểu của giới nghiên cứu Phương Tây:

Chúng tôi xin điểm qua một vài tài liệu tiếng Anh bàn về khái niệm hiện đại.
Mục từ modernity (tính hiện đại) trong Từ điển các lý thuyết văn hóa và phê
bình có đoạn viết “Là một khái niệm xã hội học, tính hiện đại chủ yếu liên hệ với
công nghiệp hóa, thế tục hóa, bộ máy công chức và ĐÔ THỊ” [255, 456]. Các nhà
xã hội học có cách hiểu khác nhau về tính hiện đại. Durkheim nhấn mạnh chìa khóa
của cuộc sống hiện đại là phân công lao động ngày một sâu sắc. Tonnies hiểu hiện
đại hóa là đi từ các mối quan hệ tương tác cộng đồng chuyển sang xã hội đề cao cá
nhân. Max Weber khái quát đó là sự duy lý hóa.
Theo Bách khoa thư Blackwell về triết học Phương Tây, mục từ modernity
(tính hiện đại) viết: “Nói chung, tính hiện đại liên hệ với tính tối thượng của cái duy
lý thuần túy và quyền tự trị của cái tôi hiện đại. Được vũ trang bởi cái duy lý, con
người hiện đại tìm kiếm sự đồng thuận trên khuôn khổ siêu hình thống nhất trong
cách nhìn thế giới. Họ tìm kiếm sự tự trị chủ quan của mình và coi thường sự câu
thúc của lịch sử, truyền thống và văn hóa. Họ có thái độ hung hăng trong việc tổ
chức và kiểm soát môi trường tự nhiên, với khoa học là môn học hàng đầu của mình.
Các đối tượng thẩm mỹ được đo đạc bằng thước đo của lợi ích kinh tế. Tính hiện
đại mang lại hiệu quả cho chủ nghĩa tư bản công nghiệp” [279, 439].
Nhìn chung, trong sự đa dạng của các cách hiểu khái niệm hiện đại cả trong
nước và trên thế giới, có thể tóm lại mấy nội dung nổi bật của “hiện đại”:
- Hiện đại gắn với tư duy duy lý, với thế tục hóa. Từ đó mới có sự phát triển
khoa học, kỹ thuật, công nghiệp hóa.
- Hiện đại gắn với con người cá nhân, từ đây mới có chủ nghĩa tư bản, có sự

Số lượng sáng tác văn du ký còn giữ được không nhiều, chủ yếu tập trung
trong khoảng thời gian từ thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX. Xét mục đích chuyến đi,
địa điểm di chuyển đến, và hình thức chữ viết, có thể tạm thời chia văn du ký trung
đại thành ba loại: loại văn du ký của các sứ thần Việt Nam đi Trung Quốc và đến
giữa thế kỷ XIX có văn du ký của sứ thần nhà Nguyễn sang Đông Nam Á và Pháp;
văn du ký của các nhà nho đi lại giữa các vùng trong nước; một loại thứ ba là văn
du ký viết bằng chữ cái latinh mà ngày nay ta gọi là chữ quốc ngữ của Philiphê
Bỉnh và Trương Vĩnh Ký, tuy xuất hiện ở thời trung đại nhưng có những nét của du
ký hiện đại. Thơ sáng tác trong các chuyến đi sứ và du lãm trong nước của nhà nho
rất nhiều nhưng chúng tôi chỉ liên hệ khi thấy cần thiết.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status