Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
Luận Văn
Ảnh hưởng của các
loại thức ăn đến khả
năng sinh trưởng và
phát triển của tôm
chân trắng
(Litopenaeus
vannamei) nuôi tại
huyện Phong Điền
tỉnh Thừa Thiên Huế
1
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
Trong giai đoạn hiện nay, song song với việc phát triển các ngành kinh tế
khác, nghề nuôi trồng thủy sản ở Việt Nam nói chung và tỉnh Thừa Thiên Huế
nói riêng đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần nâng
cao đời sống và tạo việc làm cho người dân lao động. Trong đó tôm là mặt
hàng xuất khẩu quan trọng, được ưa chuộng trên thế giới.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) là đối tượng nhập nội, có nguồn
gốc từ châu Mỹ. Tôm chân trắng là đối tượng mới có triển vọng phát triển rộng
rãi ở nhiều nước châu Á. Ưu điểm của nó là thịt thơm ngon, giàu dinh dưỡng,
mau lớn, thích nghi được với biên độ nhiệt độ nước và độ mặn rộng.[4]. Trong
thời gian qua, Viện nghiên cứu nuôi trồng thuỷ sản III đã nghiên cứu sản xuất
giống và nuôi khảo nghiệm tôm chân trắng, nhìn chung quản lý và phát triển
đúng hướng, cơ bản đảm bảo an toàn sinh học, trình độ kỹ thuật nhiều nơi được
người nuôi loại thức ăn tôm chân trắng mang lại hiệu quả kinh tế cao trong
nuôi tôm thâm canh
3
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
PHẦN 2
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1 Đặc điểm sinh học tôm chân trắng
2.1.1 Hệ thống phân loại
Tôm chân trắng (Tên tiếng Anh: White Leg shrimp) được định loại là:
Ngành:
Arthropoda
Lớp:
Crustacea
Bộ:
Decapoda
Họ: Penaeidea
Giống: Litopenaeus
Loài: Litopenaeus vannamei, Boone 1931.
2.1.2 Đặc điểm phân bố và nguồn gốc.
Tôm chân trắng (Litopenaeus vannamei) có nguồn gốc từ vùng biển xích
đạo Ðông Thái Bình Dương (biển phía Tây Mỹ La tinh), phân bố chủ yếu ở
ven biển Tây Thái Bình Dương, châu Mỹ, từ ven biển Mexico đến miền trung
Pêru, nhiều nhất ở biển gần Ecuador . Hiện nay tôm thẻ chân trắng đã có mặt
hầu hết ở các khu vực ôn và nhiệt đới bao gồm Đài Loan, Trung Quốc và các
nước ven biển thuộc khu vực Đông Nam Á[4].
2.1.3 Đặc điểm sinh trưởng
pH 7,7 - 8,3
Tôm trưởng thành phần lớn sống ở ven biển gần bờ, tôm con ưa sống ở
các khu vực cửa sông giàu sinh vật thức ăn. Ban ngày tôm vùi mình trong
bùn, ban đêm mới bò đi kiếm ăn. Tôm chân trắng có sự thích nghi rất mạnh
đối với sự thay đổi đột ngột của môi truờng sống. [4]
2.1.5 Đặc điểm dinh dưỡng
Tôm chân trắng là loài tôm ăn tạp. Giống như các loài tôm he khác, thức
ăn của nó cũng cần thành phần: protid, lipid, vitamin và muối khoáng...thiếu
hay không cân đối đều ảnh hưởng đến sức khỏe và tốc độ lớn của tôm. Khả
năng tiêu tốn thức ăn của tôm chân trắng rất cao, trong điều kiện nuôi lớn
bình thường, lượng cho ăn chỉ cần bằng 5% thể trọng tôm (thức ăn uớt).
Trong thời kỳ tôm sinh sản đặc biệt là giữa và cuối giai đoạn phát dục của
buồng trứng thì nhu cầu về lượng thức ăn hằng ngày tăng lên gấp 3 - 5 lần.
Thức ăn cần hàm lượng protein 35% là thích hợp, (tôm sú cần 40%, tôm
he Nhật Bản cần 60% protein). [4]
2.1.6 Đặc điểm sinh sản
Trong thiên nhiên, tôm trưởng thành, giao hợp, sinh đẻ trong những vùng
biển có độ sâu 70 mét với nhiệt độ 26-28 oC, độ mặn khá cao (35‰). Trứng nở
ra ấu trùng và vẫn sinh sống ở khu vực sâu này. Tới giai đoạn Postlarvae,
5
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
chúng bơi vào gần bờ và sinh sống ở đáy những vùng cửa sông cạn. Nơi đây
điều kiện môi trường rất khác biệt: thức ăn nhiều hơn, độ mặn thấp hơn, nhiệt
độ cao hơn ... Sau một vài tháng, tôm con trưởng thành, chúng bơi ngược ra
biển và tiếp diễn cuộc sống giao hợp, sinh sản làm trọn chu kỳ.
* Cơ quan sinh dục.
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
nước thấp hơn 15oC, cao hơn 33oC trong 24 giờ hoặc lâu hơn nữa, tôm sẽ ngạt
nếu nhiệt độ khoảng 15 – 22oC và 30 – 33oC. Với tôm chân trắng nhiệt độ
chấp nhận được là 23 – 30oC, trong khoảng nhiệt độ này độ lớn của tôm cũng
tuỳ giai đoạn tăng trưởng của tôm. Thí nghiệm cho biết, lúc còn nhỏ (1gr) tôm
lớn nhanh hơn ở 30oC, khi tôm lớn hơn(12 – 18gr) tôm lại lớn nhanh nhất ở
nhiệt độ 27oC thay vì 30oC như lúc còn nhỏ. Khi tôm lớn hơn nữa mà nhiệt độ
lại cao hơn 27oC thì môi trưòng nước này hoàn toàn bất lợi cho sự tăng
trưởng[14][13].
2.2.2. Độ mặn
Đây là yếu tố mà chúng ta có thể điều chỉnh được nếu có nguồn nước
ngọt và nước mặn dự trữ. Độ mặn có thể nuôi tôm chân trắng từ 10 – 30 ppt,
tuy nhiên nếu độ mặn cao quá hoặc thấp quá cũng không tốt, nếu độ mặn cao
(>30ppt) thì tôm rất chậm lớn, vì độ mặn cao hàm lượng các khoáng cũng rất
cao, do đó sẽ làm cho quá trình lột xác của tôm gặp nhiều khó khăn, nếu tôm
đã tới chu kỳ lột xác mà không lột được thì sẽ không phát triển và chậm lớn.
Hơn nữa nước mặn là môi trường thuận lợi cho sự phát triển của các bệnh do
vi khuẩn vibrio gây ra, đặc biệt là bệnh phát sáng. Độ mặn tốt nhất cho sự
phát triển của tôm chân trắng từ 10 – 25 ppt
Nếu độ mặn thấp (< 10 ppt) cũng không tốt, dễ phát sinh bệnh, vì trong
nước ngọt thiếu các khoáng (Na, Ca, Cl, Fe, Cu, P, Mn…). Đây là những
khoáng chất cần thiết cho sự tạo vỏ của tôm, nếu thiếu chúng tôm sẽ không
tạo được vỏ.[7]
2.2.3. pH
pH của nước ao rất quan trọng, nó ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến
tôm nuôi và phiêu sinh vật. pH là một trong những chỉ tiêu quan trọng để
đánh giá chất lượng nuớc ao nuôi. Khi pH biến động thì sẽ ảnh hưởng tới các
quá trình sinh lý, sinh hoá trong cơ thể tôm, làm ảnh hưởng các yếu tố khác
thống nuôi năng suất thấp và cao. Tác hại do hàm lượng oxy thấp tuỳ thuộc
vào hàm lượng oxy có trong ao, thời gian và số lần tôm phải chịu đựng tình
trạng đó. Ở nồng độ oxy nhỏ hơn 4mg/l tôm vẫn bắt mồi bình thường nhưng
chúng tiêu hóa thức ăn không hiệu quả. Hàm lượng oxy thấp như thế có thể
ảnh hưởng đến tôm và dẫn đến tăng tính cảm nhiễm bệnh. Tỷ lệ chuyển hoá
thức ăn giảm và khả năng cảm nhiễm bệnh tăng sẽ làm giảm lợi nhuận. Nếu
hàm lượng oxy giảm thấp hơn nữa (2 – 3 mg/l) thì tôm sẽ ngừng bắt mồi và
yếu đi nhiều. Hàm lượng oxy thích hợp cho tôm sinh trưởng và phát triển là
lớn hơn 5mg/l. [5], [14]
2.2.6. Độ trong
Độ trong của nước ở các ao nuôi chủ yếu phụ thuộc vào số lượng và đặc
tính khối chất cái bao gồm các sinh vật sống trong tầng nước và thể vẩn lơ
8
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
lửng. Giới hạn cho phép về độ trong từ 25 – 50 cm, nó thay đổi theo tuổi tôm,
khi mới thả tôm vào thì yêu cầu độ trong cao 40 – 50 cm, nhưng khi tôm lớn
độ trong sẽ thấp 25 – 30 cm. Độ trong quá lớn sẽ lập tức ảnh hưởng tới tôm,
khi đó tôm rất dễ bị sốc, tôm chậm lớn, phân đàn, ít ăn và dễ nhiễm bệnh,
đồng thời đáy ao dễ sinh lab lab. Nếu độ trong quá thấp (nước có màu đậm)
thì rất dễ ảnh hưởng đến hoạt động hô hấp của tôm nhất là vào ban đêm,
nguyên nhân chính là do tảo về ban ngày sẽ quang hợp nhưng về ban đêm
chúng sẽ hô hấp và làm giảm oxy trong nước. Độ trong thấp thì mang tôm rất
dễ bị tổn thương (đen mang, vàng mang) hay nhớt thân. Màu tảo đậm là
nguyên nhân làm dao động pH giữa ngày và đêm rất lớn. [7]
2.2.7. Các khí hoà tan
2.2.7.1. CO2
Hydro sulfide là một chất khí, được tạo thành dưới điều kiện kỵ khí
(anaerobic condition). Cũng tương tự như amoni, hydro sulfide chia làm 2
nhóm: nhóm H2S (khí) và HS- (ion). Chỉ có dạng H2S là chất độc. pH rất có
ảnh hưởng tới độ độc của H2S, ví dụ: Với ao hồ có pH = 5 và ở 24 0C người ta
thấy 99,1% Hydro sulfide dưới dạng H2S, trong khi đó ở độ pH=8 với cùng
nhiệt độ 240C lại chỉ có 8% lượng Hydro sulfide dưới dạng chất độc. [14]
2.3. Những nghiên cứu về dinh dưỡng tôm chân trắng
2.3.1. Protein
Protein là vật chất hữu cơ quan trọng, là nguyên liệu tạo các mô và các
sản phẩm khác trong cơ thể. Protein là chất xúc tác, thực hiện chức năng vận
chuyển, bảo vệ.
Trong tình trạng suy dinh dưỡng protein đóng vai trò quyết định, nếu cơ
thể tôm thiếu sẽ kéo theo thiếu các chất dinh dưỡng khác, thiếu protein kéo
dài sẽ ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của tôm. Để thoả mãn nhu cầu
protein ở tôm, ta có thể sử dụng các acid amin tổng hợp để cân đối nhu cầu
acid amin hoặc phối hợp các nguyên liệu.
Tôm chân trắng không cần khẩu phần ăn có lượng protein cao như tôm sú.
Theo nghiên cứu của Colvin and Brand (1977) là 30%, Kureshy and Davis
(2002) là 32%. Trong đó, thức ăn có lượng protein 35% được coi như là thích
hợp hơn cả, trong đó khẩu phần ăn có thêm mực tươi rất được tôm ưa chuộng.
Men tiêu hoá protein của tôm chủ yếu ở dạng trypsine, không có pepsine
(Vonk, 1970). Ngoài ra trong dạ dày tôm có 85% số vi khuẩn tạo thành
chitinase. Ngoài việc cung cấp dinh dưỡng, quan trọng nhất là giúp tôm có
khả năng tiêu hoá chitinase một phức hợp của protein. [2]
2.3.2 Lipid
Trong thành phần thức ăn của tôm thì lipid chứa năng lượng cao nhất, nó
không chỉ là chất dự trữ mà còn là thành phần thiết yếu của các tổ chức trong
cơ thể. Nếu năng lượng của thức ăn quá thấp thì tôm sẽ sử dụng nguồn năng
10
vitamin dùng cho tôm luôn có vitamin A và K. [2]
2.3.5. Khoáng.
Khoáng là những nguyên tố hoá học cần thiết để xây dựng nên cơ thể và
tham gia vào quá trình trao đổi chất của động vật. Tôm có khả năng hấp thụ
muối khoáng từ môi trường nước nên nhu cầu muối khoáng của tôm thấp và
khác với động vật trên cạn. Shewbartetal (1973) cho rằng nhu cầu Ca, K, Na
11
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
và Cl của tôm có thể thoả mãn do áp suất thẩm thấu. Photpho trong nước biển
thấp nhưng trong thịt tôm lại có nhiều, nên cần thêm photpho vào trong khẩu
phần thức ăn tôm hỗn hợp khoáng từ 2-5%. [2]
2.4. Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới và Việt Nam
2.4.1. Tình hình nuôi tôm chân trắng trên thế giới
Trên thế giới, sản lượng tôm chân trắng đứng hàng thứ hai sau tôm sú
nhưng ở châu Mỹ sản lượng tôm chân trắng đứng hàng đầu, đạt 86.000 tấn
(1990), 132.000 tấn (1992), 191.000 tấn (1998) và đạt gần 200.000 tấn năm
1999.[4]
Ecuador coi nuôi tôm chân trắng là ngành sản xuất lớn, sản lượng tôm
nuôi chiếm 95% tổng sản lượng của khu vực châu Mỹ, năm 1991 là 103.000
tấn. Năm 1993, do gặp dịch bệnh hội chứng Taura (Taura Symdrome Virus)
sản lượng giảm còn 1/3, sau 2-3 năm khôi phục lại đạt 120.000 tấn (1998),
130.000 tấn (1999) rồi lại gặp đại dịch bệnh đốm trắng còn 35.000 tấn (2000).
[4]
Một số nước như Mexico, Panama, Eelize, Peru, Colombia… cũng có
tình hình phát triển tương tự Ecuador. Sau khi được nhiều nước Châu Mỹ
nuôi nhân tạo thành công và có hiệu quả cao, tôm chân trắng được di giống
nuôi tôm chân trắng ở nước này sau những nghiên cứu kỹ lưỡng cho thấy việc
nuôi tôm chân trắng hiệu quả cao, lại không đe dọa môi trường, góp phần đa
dạng sinh học. Tôm chân trắng được thế giới công nhận là một trong ba loài
tôm he nuôi có nhiều ưu điểm và sản lượng cao nhất với nhiệt độ và độ mặn rất
rộng, có thể nuôi theo nhiều hình thức bán thâm canh, thâm canh và nuôi công
nghiệp trong các ao đầm nước mặn lợ. [18].
2.4.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng ở Việt Nam
Tại Việt Nam, tháng 9/2001 đơn vị đầu tiên được Bộ Thủy sản cho phép
đưa tôm chân trắng vào sinh sản nhân tạo để bán ra thị trường là công ty
Duyên Hải ở tỉnh Bạc Liêu. Tiếp đến tôm chân trắng được nuôi thử nghiệm ở
một số tỉnh miền Bắc và miền Trung. Nguồn tôm giống nhập ngoại chủ yếu từ
Trung Quốc, Đài Loan, Mỹ, trong đó nhiều nhất là Trung Quốc, chủ yếu nhập
qua đường tiểu ngạch, rất khó kiểm soát.
Tôm chân trắng được nuôi phổ biến trên cả nước tập trung tại các tỉnh
Ninh Thuận, Quảng Ngãi, Bình Thuận, Thừa Thiên - Huế, Quảng Bình, Quảng
Trị, Hà Tĩnh… Nuôi tôm trên cát phát triển mạnh đến mức các Bộ, ngành và
chính quyền các cấp không thể kiểm soát được. Nếu như năm 2002, cả nước có
593,8 ha nuôi tôm trên cát thì đến năm 2003 tăng lên 1131 ha; đến hết năm
2005 diện tích nuôi tôm trên cát được các tỉnh miền trung đưa vào quy hoạch
hơn 20.000 ha.Theo thống kê của ngành Thủy sản, năm 2008 cả nước đạt sản
lượng 50.000 tấn tôm chân trắng. Năm 2009 sản lượng tăng lên gấp 10 lần.
Miền trung là khu vực có các điều kiện thích hợp cho tôm chân trắng phát triển.
13
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
Vùng sản xuất tôm giống lớn nhất ở miền Trung và cũng lớn nhất cả nước là
Tuy Phong tỉnh Bình Thuận, Cà Ná, Cam Ranh, Phan Rang, Ninh Tịnh, Ninh
14
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
hoạch đã phá hủy một diện tích lớn rừng phòng hộ tại các vùng ven biển tỉnh
Thừa Thiên Huế, đây là điều đáng lo ngại vì nó dẫn đến những hậu quả xấu
cho chính những người dân nuôi tôm, ảnh hưởng đến môi trường sinh thái.
[16].
2.4.3.2 Tình hình nuôi tôm chân trắng ở công ty Trường Sơn
Công ty cổ phần Trường Sơn là một trong những doanh nghiệp đầu tiên
nuôi tôm chân trắng trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế. Năm 2003, công ty
tiến hành đầu tư xây dựng khu nuôi tôm công nghiệp trên cát với 9 ha diện
tích mặt nước tại xã Điền Lộc, huyện Phong Điền. Đến năm 2009, diện tích
nuôi của công ty đã tăng lên 33 ha. Năm 2010 công ty triển khai xây dựng
khu nuôi tôm Điền Môn , nâng tổng diện tích nuôi lên tới 72 ha. Hiện nay,
công ty sử dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 9001:2000 và đang triển
khai xây dựng phiên bản mới ISO 9001: 2008. Trong năm 2008, công ty được
Tổng cục Tiêu chuẩn chất lượng chọn là một trong số 20 doanh nghiệp trên
toàn quốc áp dụng thí điểm mô hình Quản lý chất lượng toàn diện (TQM). Tất
cả diện tích ao hồ đều được nuôi tôm chân trắng theo phương thức nuôi công
nghiệp, mật độ nuôi có thể lên tới 180con/m 2, sử dụng thức ăn công nghiệp
100%. Tuy nhiên trong những vụ nuôi gần đây sản lượng nuôi có phần giảm
do thời tiết không ổn định, môi trường ngày càng xấu đi, dịch bệnh xuất hiện
trên một số ao nuôi. Hiện nay công ty đã xây dựng quy trình kiểm soát quá
trình nuôi tôm mới được quản lý chặt chẽ. Lựa chon con giống sạch bệnh, cải
thiện môi trường nước và lựa chọn loại thức ăn phù hợp là những việc cần
làm nhằm cải thiện năng suất, nâng cao lợi nhuận cho công ty. Trên địa bàn
tỉnh Thừa Thiên Huế nói chung và huyện Phong Điền nói riêng người dân
Xí nghiệp nuôi trồng thủy sản, công ty cổ phần Trường Sơn nằm trên 4
xã Điền Hương, Điền Môn, Điền Lộc và Điền Hòa huyện Phong Điền tỉnh
Thừa Thiên Huế. Đây là các xã ven biển có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận
lợi để phát triển nuôi tôm chân trắng
3.4. Nội dung nghiên cứu và chỉ tiêu theo dõi
3.4.1. Các yếu tố môi trường ao nuôi
Các chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm :
- Nhiệt độ
- Độ mặn
- Độ kiềm
- pH
- Oxy
- Độ trong
3.4.2. So sánh khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm chân trắng
nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau
Các chỉ tiêu theo dõi :
- Tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về chiều dài
- Tăng trưởng tương đối và tuyệt đối về khối lượng
- Tỷ lệ sống
17
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
3.4.3. Hệ số tiêu tốn thức ăn ( FCR )
- Tổng khối lượng tôm
- Lượng thức ăn sử dụng
- So sánh FCR giữa 3 công thức thí nghiệm
3.4.4 Hiệu quả kinh tế
A5
A1
- Diện tích mỗi ao là 5000 m2, mật độ 100 con/m2
- Nguồn giống CP, khối lượng khoảng 0,01gr/con, chiều dài khoảng 1cm
Thức ăn CP sử dụng các loại:
18
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
• HI-PO 7701: dùng cho tôm từ 0,01 – 1gr/con
• HI-PO 7702: dùng cho tôm từ 1- 5gr/con
• HI-PO 7703: dùng cho tôm từ 5 - 7gr/con
• HI-PO 7703P: dùng cho tôm từ 7 - 10gr/con
• HI-PO 7704S: dùng cho tôm từ 10 – 20gr/con
Thành phần dinh dưỡng như bảng sau:
Bảng 1: Thành phần dinh dưỡng thức ăn Hipo
Mã thức ăn
HI-PO
HI-PO
HI-PO
HI-PO
HI-PO
7701
7702
7703
không lớn hơn
Tro (%), không
14
14
14
15
15
lớn hơn
Bao gói ( kg )
10
25
25
25
25
Thức ăn Nuri của công ty TNHH Uni – President, hướng dẫn
sử dụng và thành phần dinh dưỡng như sau:
- Hướng dẫn sử dụng:
N310: dùng cho tôm 1 - 4 ngày tuổi, P10 - P15
N311: dùng cho tôm 5 - 14 ngày tuổi, P15 - P25
N312, N312A: dùng cho tôm 15 - 20 ngày tuổi, P25 - 1g
N313: dùng cho tôm 21 - 40 ngày tuổi, khối lượng 1 - 3g
N314: dùng cho tôm 41 - 60 ngày tuổi, khối lượng 3 - 7g
11
11
11
11
11
11
11
Protein thô
≥(%),
42
40
40
40
40
37
37
3
4
4
4
13
13
13
13
13
13
13
13
Hình dạng
Hạt
Hạt
≤(%)
18-40# 14-18# Ф1.2L2-4 Ф1.4L2-4 Ф1.7L2-4 Ф2.0L3-5
10
10
20
20
20
20
Ф2.3L4-6
20
Thức ăn Winner của công ty Grobest & I-Mei Industrial các mã số
No.1, No.2, No.2L, No.3, No.4, No.5, No.6. Hướng dẫn sử dụng và thành
phần dinh dưỡng như sau:
- Hướng dẫn sử dụng:
No.1: dùng cho tôm 1- 4 ngày tuổi
No.2: dùng cho tôm 5 - 22 ngày tuổi
No.2L: dùng cho tôm 23 - 31 ngày tuổi
No.3: dùng cho tôm 32 - 60 ngày tuổi
No.4: dùng cho tôm 61 - 80 ngày tuổi
No.5: dùng cho tôm 80 - 90 ngày tuổi
No.6: dùng cho tôm trên 90 ngày tuổi
≤(%) ≤(%) ≤(%)
Ca
P≥
Ca/P
≤(%) (%)
Bio
Pro
Organic
Se
ăn
No.1
40
6,0
3,0
14
11
2,3
No.2L
38
5,0
4,0
15
11
2,3
1,0
1 - 1,5
+
+
No.3
37
5,0
4,0
1 - 1,5
+
+
No.5
35
4,5
5,0
16
11
2,3
1,0
1 - 1,5
+
+
No.6
tôm (xem chi tiết về quy trình nuôi tôm chân trắng ở phần phụ lục)
3.5.2. Phương pháp xác định các yếu tố môi trường
- Nhiệt độ : đo bằng nhiệt kế thủy ngân
- Độ mặn: đo bằng khúc xạ kế
21
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
- Độ kiềm: đo bằng Ankality test kit
- Độ trong: đo bằng đĩa secchi
- pH: đo bằng pH test kit
- Oxy đo bằng DO test kit
Các thông số cần đo hằng ngày là nhiệt độ, pH, oxy. Ngày đo 2 lần, lần 1
khoảng 6-7 giờ sáng, lần 2 khoảng 15-16 giờ chiều.
Độ kiềm, độ mặn, độ trong 3 ngày đo một lần
- Các chỉ tiêu cần đo ở đáy ao nơi cho tôm ăn, đo 3 điểm khác nhau sau
đó lấy kết quả trung bình, các mẫu được phân tích ngay tại chỗ đảm bảo độ
chính xác cao. Số liệu được tập hợp và xử lý theo từng đợt, mỗi đợt 15 ngày.
3.5.3. Phương pháp theo dõi khả năng sinh trưởng và phát triển của tôm
chân trắng nuôi bằng các loại thức ăn khác nhau
Sau 20 ngày kể từ khi thả giống, dùng sàng ăn, sau 30 ngày kết hợp giữa
sàng ăn và chài tôm để xác định tỷ lế sống và lấy mẫu để xác định khối lượng
và chiều dài. Định kỳ 10 ngày lấy mẫu kiểm tra tăng trưởng một lần
3.5.3.1. Theo dõi khối lượng
- Chài tôm, đếm số tôm trong chài, cân tổng khối lượng tôm chài được từ
đó xác định khối lượng trung bình của tôm, chài 3 điểm bất kỳ trong ao rồi
lấy kết quả trung bình
- Khối lượng được cân bằng cân bàn (g)
3.5.3.3 Tỷ lệ sống.
Xác định tỷ lệ sống dựa vào sàng ăn và số tôm thu được trong mỗi lần
chài tôm. Công thức tính tỷ lệ sống theo số tôm chài được như sau:
Số tôm trong chài x diện tích ao
TLS (%) =
x 100
Diện tích chài x số tôm ban đầu
3.5.4. Phương pháp tính toán và so sánh hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
- Theo dõi, tính toán lượng thức ăn sử dụng và khối lượng tôm theo từng
thời gian nuôi khác nhau từ đó so sánh FCR giữa 3 công thức thí nghiệm theo
từng tháng và cả vụ nuôi
3.5.4.1. Khối lượng tôm
Công thức tính khối lượng tôm trong ao như sau:
Khối lượng đàn tôm (g) = Tỷ lệ sống x Số lượng tôm giống thả ban đầu
x Khối lượng trung bình (g/con)
3.5.1.2 Lượng thức ăn sử dụng:
Lượng thức ăn sử dụng(kg/ngày) =
% cho ăn x khối lượng đàn tôm (g)
1000
3.5..1.3. Hệ số tiêu tốn thức ăn
- Công thức tính hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR) như sau:
FCR tháng 1 =
Lượng thức ăn sử dụng tháng 1
Tổng khối lượng tôm sau tháng đầu tiên
FCR tháng 2 =
- Stdev (n1:ni): tính độ lệch chuẩn (δ) của các chỉ tiêu theo dõi về yếu tố
môi trường, tăng trọng, chiều dài.
- Min (n1:ni) : tính giá trị nhỏ nhất của các yếu tố môi trường
- Max (n1:ni) : tính giá trị lớn nhất của các yếu tố môi trường
- Phân tích ANOVA một yếu tố để so sánh mức độ sai khác giữa các
công thức thí nghiệm đối với các chỉ tiêu nghiên cứu về tăng trọng, tăng
trưởng chiều dài và hệ số tiêu tốn thức ăn (FCR)
24
Ketnooi.com kết nối công dân điện tử
PHẦN 4
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
4.1. Kết quả theo dõi các yếu tố môi trường
Kiểm soát các yếu tố môi trường là một trong những việc quan trọng
không thể thiếu trong quá trình nuôi tôm. Điều kiện cần thiết cho một ao nuôi
có thể đạt năng suất cao đó là môi trường nước phải phù hợp với sự phát triển
của tôm nuôi. Sự thay đổi đột ngột của một yếu tố môi trường có thể làm thay
đổi các yếu tố khác. Môi trường xấu tôm sinh trưởng chậm và nếu vượt quá
sức chịu đựng thì sẽ gây sốc, đây là một trong những nguyên nhân làm giảm
năng suất tôm nuôi. Trong thời gian thí nghiệm, chúng tôi cố gắng điều chỉnh
môi trường ao nuôi ở mức phù hợp nhất. Các ao trong các nghiệm thức được
chuẩn bị giống nhau về mọi khía cạnh như diện tích, độ sâu, chất đất, nguồn
nước…cùng với việc áp dụng các biện pháp kỹ thuật, chế độ chăm sóc quản
lý như nhau đối với tất cả các ao nuôi. Điều này rất quan trọng và cần thiết để
điều chỉnh môi trường ao nuôi ở các nghiệm thức đến mức đồng đều nhất có
thể nhằm đảm bảo mức độ chính xác của thí nghiệm khi so sánh các loại thức
ăn với nhau. Lịch trình theo dõi, kiểm soát môi trường phụ thuộc vào từng