BIẾN ĐỘNG đất ĐAI và NHỮNG GIẢI PHÁP QUẢN lý sử DỤNG đất ĐAI HIỆU QUẢ TRÊN địa bàn HUYỆN BÌNH tân TỈNH VĨNH LONG - Pdf 35

Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN KHOA HỌC
1.1. Tình hình quản lý, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai ở Việt Nam
 Thời kỳ trước khi Luật đất đai 1993:
Do bị chi phối bởi quá trình phát triển của lịch sử, đối với huyện Bình Tân
nói riêng và tỉnh Vĩnh Long nói chung, các mối quan hệ về sở hữu ruộng đất cũng
diễn ra hết sức phức tạp. Trước năm 1975 phần lớn đất đai của huyện tập trung vào
một số người quản lý như địa chủ, các nhà tư sản – tiểu tư sản và một số ít thuộc
quyền sở hữu cá nhân.
Sau năm 1975, với chính sách cải tạo nông nghiệp, xóa bỏ tính tư hữu về tư
liệu sản xuất để đưa nền sản xuất nông nghiệp theo hướng sở hữu tập thể các dạng
hợp tác xã nông nghiệp, tập đoàn sản xuất hoặc tổ hợp tác…Việc phân chia lại
quyền sử dụng đất trong giai đoạn này được thực hiện trên cơ sở phân chia theo
định suất và bình quân dân số, mọi hoạt động sản xuất có liên quan đến đất đai đều
phần lớn bị chi phối bởi hợp tác xã và tập đoàn xản xuất nông nghiệp. Vì vậy giai
đoạn 1975-1980 tình hình sản xuất nông nghiệp đối với huyện Bình Tân cũng như
tỉnh Vĩnh Long thường kém hiệu quả và đã tạo ra sự bất ổn làm ảnh hưởng đến vấn
đề an ninh lương thực của tỉnh. Hiệu quả sản xuất không cao, tình trạng sử dụng đất
kém hiệu quả, chưa khai thác được hết tiềm năng đất đai sẳn có do người dân chưa
thật sự an tâm để đầu tư, việc quản lý và sử dụng đất đối với các đối tượng sử dụng
đất trong giai đoạn này chưa được bảo vệ bởi hành lang pháp lý của Nhà nước.
Đến những năm đầu của thập niên 1980, với việc thay đổi cơ chế quản lý
trong sản xuất nông nghiệp bằng hình thức khoán sản phẩm theo chỉ thị 100/CT.TW
của Ban Bí thư Trung ương Đảng, Chỉ thị số 35/CT.TW về khuyến khích và phát
triển kinh tế gia đình, nền sản xuất nông nghiệp của huyện đã có sự chuyển biến
mạnh mẽ nhưng trong quá trình chuyển biến này vẫn chưa tạo ra sự được sự thay
đổi trong đời sống người dân và chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế xã
hội của địa phương. Đến tháng 7/1988, Luật Đất đai được ban hành, với dự Luật
này các mối quan hệ về quản lý và sử dụng đất đã được xác lập, thể hiện được
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất. Tuy nhiên trong quá trình triển khai thực

dụng đất được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình, đây là cơ sở làm cho đất
đai biến động mạnh. Vấn đề cập nhật biến động những thông tin địa chính đã được
đề cập nhưng chưa thực hiện đồng bộ.
 Giai đoạn từ năm 2003 đến nay
Luật đất đai năm 2003 ra đời đánh dấu những chuyển biến mới trong
công tác quản lý Nhà nước về đất đai với việc thành lập Văn phòng đăng ký đất đai
nhằm quản lý hồ sơ địa chính gốc, chỉnh lý thống nhất hồ sơ địa chính, phục vụ
người sử dụng đất thực hiện các quyền và nghĩa vụ.
Ngoài ra, điểm mới của Luật Đất đai 2003 là quy định cấp có thẩm
quyền cấp CNQSDĐ, quy định này nhằm đẩy nhanh tiến độ cấp GCNQSDĐ, khắc
2


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

phục tình trạng hiện nay là việc cấp GCNQSDĐ thực hiện còn rất chậm. Bên cạnh
đó, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng ban hành nhiều văn bản pháp quy
khác để cụ thể hóa và hướng dẫn thi hành Luật Đất đai:
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004, của Chính phủ về thi hành
luật đất đai.
- Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài
Nguyên và Môi Trường ban hành quy định về GCNQSDĐ.
- Thông tư 28/2004/TT-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và
xây dựng bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Thông tư 29/2004/TT-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.
Đây là các căn cứ pháp lý quy định trình tự thủ tục đăng ký biến động mới
nhằm rút ngắn thời gian thực hiện và tránh cho người dân đi lại nhiều lần. Có thể
nói Luật Đất đai 2003 đã có những điều chỉnh hợp lý hơn so với Luật Đất đai năm

- Sổ theo dõi biến động đất đai.
- Sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (bản gốc lưu).
- Biểu thống kê diện tích đất đai.
 Các tài liệu lưu trữ, tra cứu khi cần thiết:
- Các tài liệu hình thành trong quá trình đo đạc lập bản đồ địa chính.
- Các tài liệu hình thành trong quá trình đăng ký ban đầu, đăng ký biến động đất
đai và đăng ký cấp GCNQSDĐ.
1.3. Các vấn đề về cập nhật chỉnh lý biến động đất đai
1.3.1. Khái niệm biến động đất đai
Biến động đất đai là sự thay đổi thông tin, không gian và thuộc tính của thửa
đất sau khi xét duyệt cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lập hồ sơ địa chính
ban đầu.
Căn cứ vào đặc trưng biến động đất đai ở Việt Nam, người ta phân chia thành
ba nhóm biến động chính gồm: biến động hợp pháp, biến động không hợp pháp,
biến động chưa hợp pháp.
I.3.2. Các hình thức biến động đất đai ở Việt Nam
Sự thay đổi bất kỳ thông tin nào so với thông tin trên GCNQSDĐ đã cấp và
thông tin trên hồ sơ địa chính đã được lập lúc ban đầu (những thông tin: tự nhiên,
kinh tế, xã hội, pháp lý) thì đều phải có sự xác nhận của cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền. Chúng ta có thể phân ra các hình thức biến động sau:
- Biến động về quyền sử dụng đất: chuyển nhượng, chuyển đổi, hợp thức hóa,
thừa kế, tặng cho quyền sử dụng đất, thay đổi do tách, hợp thửa đất.
4


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

- Biến động do thay đổi mục đích sử dụng đất.
- Biến động do quy hoạch.

5


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

- Có giấy chứng minh thửa đất đúng chủ sở hữu hoặc tờ khai các bên giáp giới
công nhận.
Từ năm 1929-1932 ở Sở địa chính Bắc Kỳ thì tài liệu gồm có sổ địa chính, sổ
điền bộ và bản đồ, tất cả phải có dấu của Sở địa chính và được lập thành hai bộ: một
bộ để ở làng do chưởng bạ phụ trách, một bộ ở Sở địa chính để làm quản thủ chứ
không phải để lưu trữ. Việc đăng ký, cập nhật là việc đăng ký các thửa đất có biến
đổi. Sau khi ở làng có tài liệu thì chưởng bạ phải có một quyển khai báo để ghi
những việc dịch chuyển như mua, bán chuyển nhượng, cầm… gọi chung là công
chính chứng thư.
Các chuyển dịch phải được Lý trưởng chứng thực, chưởng bạ cũng ghi chứng
thực đã đăng ký vào sổ địa chính trên giấy khai báo chuyển dịch, ký tên và đóng
dấu. Việc đăng ký vào sổ địa chính phải sang tên cho chủ mới và gạch tên cũ.
Trong vòng hai tháng phái viên của Sở địa chính phải về kiểm tra duyệt sổ, ký
tên vào sổ, thu chứng thư, tờ trích sao sổ khai báo của làng, tất cả đều nộp về Sở địa
chính. Phòng địa chính có trách nhiệm sửa chửa đăng ký vào tài liệu địa chính của
tỉnh. Công việc làm giống như của chưởng bạ các làng.
1.3.4.2. Đăng ký đất đai, cấp GCNQSDĐ trong trường hợp có biến động ở
giai đoạn hiện nay
* Người có nhu cầu đăng ký biến động đất đai
Người được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, xin chuyển mục đích sử
dụng đất, thay đổi thời hạn sử dụng đất hoặc các bên xin chuyển đổi, chuyển
nhượng, cho thuê, thừa kế QSDĐ,… đều phải đến trụ sở UBND xã, phường, thị trấn
(nơi có đất) để nộp hồ sơ đăng ký đất đai. Hồ sơ gồm:
- Bản sao Quyết định giao đất, cho thuê, thu hồi, chuyển mục đích sử dụng đất,
thay đổi thời hạn sử dụng, hình thể thửa đất, hợp đồng chuyển đổi hoặc chuyển

UBND xã, cán bộ thôn (xóm, ấp, bản) có biên bản xác minh cụ thể.
- Trường hợp phát hiện thấy việc biến động trái pháp luật, UBND xã phải thực
hiện xử lý vi phạm theo pháp luật. Diện tích bị vi phạm phải kiên quyết xử lý buộc
trả lại hiện trạng trước khi biến động.
- Kết thúc thẩm tra, UBND xã lập tờ trình về việc thẩm tra hồ sơ đăng ký biến
động lên cơ quan có thẩm quyền.
Riêng đối với văn bản thừa kế và các hợp đồng chuyển đổi đất nông thôn, hợp
đồng thuê đất nông nghiệp, UBND xã thực hiện xác nhận vào tờ khai hoặc hợp
đồng lưu 01 bộ, phần còn lại gởi trả lại cho các bên ký hợp đồng giữ và thực hiện
nghĩa vụ tài chính (nếu có), hồ sơ còn lại gởi về phòng TNMT cùng với giấy chứng
nhận để chúng nhận biến động.
- Thời gian hoàn thành thẩm tra kể từ ngày tiếp nhận hồ sơ đến ngày gởi lại hồ sơ
lên cấp trên không quá 5 ngày làm việc.
* Xét duyệt cấp GCNQSDĐ của cơ quan có thẩm quyền
7


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

- Sở TNMT, phòng TNMT cấp huyện có trách nhiệm thẩm tra hồ sơ đăng ký biến
động cho các đối tượng thuộc thẩm quyền của UBND cùng cấp.
Kết thúc thẩm tra, cơ quan quản lý đất đai các cấp trình hồ sơ cho UBND cùng
cấp quyết định cho hay không cho phép biến động (đối với trường hợp chuyển mục
đích, thay đổi thời hạn và hình thể sử dụng) hoặc nhận các hợp đồng thuộc thẩm
quyền của cấp mình.
- Căn cứ vào kết quả xét duyệt của UBND cùng cấp có thẩm quyền, cơ quan quản
lý đất đai cùng cấp chịu trách nhiệm thông báo cho người sử dụng đất thực hiện các
nghĩa vụ tài chính theo quy định (nếu có), in giấy chứng nhận để trình UBND cùng
cấp ký hoặc chứng nhận biến động vào giấy đã cấp theo thẩm quyền phân cấp sau
khi nhận được thông báo người sử dụng đất sẽ thực hiện xong nghĩa vụ tài chính

những tồn động trước đây.
- Thông tư 1990/2001/NĐ-TCĐC ngày 30/11/ 2001 của TCĐC về việc hướng
dẫn đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
- Luật đất đai năm 2003 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 26/11/2003 và
có hiệu lực thi hành ngày 01/07/2004.
- Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004 của Chính phủ về thi hành luật
đất đai.
- Quyết định 24/2004/QĐ-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài
nguyên và Môi trường ban hành quy định về GCNQSDĐ .
- Quyết định số 25/2004/QĐ-BTNMT ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường về việc ban hành kế hoạch triển khai Luật Đất đai.
- Thông tư 28/2004/TT-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên
và Môi trường về việc hướng dẫn thực hiện thống kê, kiểm kê đất đai và xây dựng
bản đồ hiện trạng sử dụng đất.
- Thông tư 29/2004/TT-BTNMT, ngày 01/11/2004 của Bộ Tài nguyên và Môi
trường về việc hướng dẫn lập, chỉnh lý và quản lý hồ sơ địa chính.

9


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

CHƯƠNG 2: KHÁI QUÁT ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
2.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1. Vị trí địa lý
- Huyện Bình Tân nằm ven sông Hậu và thuộc phía Tây của tỉnh Vĩnh Long,
trung tâm huyện cách thành Phố Vĩnh Long 32 km theo đường chim bay, tiếp giáp
thành Phố Cần Thơ qua sông Hậu.
- Phía Nam giáp thành phố Cần Thơ, huyện Bình Minh.
- Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp, thành phố Cần Thơ.

Thuận, Thành Trung, Tân Thành, Tân Lược.
- Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn từ 120 – 150 cm, phân bố ở các xã
Tân Hưng, Tân Thành, Thành Đông, Thành Lợi, Nguyễn Văn Thảnh.
- Đất phèn tiềm tàng có tầng sinh phèn trên 150 cm, phân bố rãi rác ở các xã
Tân An Thạnh, Tân Hưng, Nguyễn Văn Thảnh.
 Nhóm 3 : Nhóm đất phèn phát triển được chia ra 2 nhóm phụ :
- Đất phèn phát triển có tầng sinh phèn từ 50 – 80 cm, phân bố tập trung ở
các xã Nguyễn Văn Thảnh, Mỹ Thuận và một ít ở Tân Hưng.
- Đất phèn phát triển có tầng sinh phèn từ 80 – 120 cm, phân bố ở các xã Tân
Hưng, Tân Thành và Thành Trung.
2.1.3. Địa hình
Nhìn chung địa hình của huyện khá bằng phẳng, cùng với sự chi phối của
thủy triều cường trên sông là yếu tố thuận lợi cho việc tưới tiêu phục vụ sản xuất
nông nghiệp. Địa hình của huyện được chia thành 3 tiểu vùng :
- Vùng có cao trình từ 0,5 - 0,7 m phân bố ở các xã Tân Hưng, Tân Thành,
Thành Trung và Nguyễn Văn Thảnh.
- Vùng có cao trình từ 0,7 – 1,0 m phân bố ở các xã Thành Đông, Mỹ Thuận.
- Vùng có cao trình từ 1,0 - 1,25 m phân bố ở các xã Thành Lợi, Tân Quới,
Tân Bình, Tân Lược.
2.1.4. Địa chất công trình, địa chất thủy văn
Do đặc điềm lịch sử, đất đai huyện Bình Tân thuộc nhóm đất phù sa trẻ, quá
trình hình thành do sự bồi lắng và tích tụ ven sông nên nền địa chất công trình yếu,
hiện nay vẫn chưa nghiên cứu một cách toàn diện và chưa xây dựng được bản đồ
địa chất công trình. Trong thực tế việc đánh giá nền địa chất công trình chỉ được
nghiên cứu một cách cục bộ ở những công trình lớn.
2.1.5. Khí hậu-Thời tiết
- Bình Tân nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, thời tiết trong năm
chia thành 2 mùa rõ riệt là mùa mưa và mùa khô. Mùa khô kéo dài từ tháng 12 năm
trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm


vực, giảm đi lượng thủy sản tự nhiên tại các vùng sử dụng nhiều phân bón hóa học.
Mặt khác thuốc bảo vệ thực vật bị rửa trôi làm chết các phiêu sinh động thực vật,
làm giảm đáng kể nguồn thức ăn chính cho thủy sản trong tự nhiên.
- Hầu hết tất cả các nước thải từ các khu dân cư, chợ, cơ sở sản xuất,…đều
thải trực tiếp ra sông ngòi, kênh rạch mà không có bất kỳ biện pháp thu gom hay xử
lý hữu hiệu nào. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sự ô nhiễm nguồn nước mặt trên
địa bàn huyện.
12


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

- Riêng về hiện trạng chất lượng không khí và tiếng ồn cho đến nay vẫn chưa
được nghiên cứu sâu và thường xuyên. Theo kết quả khảo sát và quan trắc ở một số
khu vực cho thấy đối với khu vực nông thôn chưa bị ô nhiễm, ngoại trừ một số vùng
nằm ven trục giao thông hoặc ở các trung tâm đầu mối ở các xã đã có dấu hiệu ô
nhiễm bụi và tiếng ồn.
- Đối với môi trường đất hiện tại chưa có một thống kê khảo sát nào về hiện
tượng ô nhiễm môi trường đất. Tuy nhiên với thói quen sử dụng thuốc bảo vệ thực
vật và phân bón với số lượng lớn trong sản xuất nông nghiệp đang làm cho môi
trường đất trở nên chai cứng, nghèo mùn, suy giảm số lượng loài thực vật và động
vật bậc thấp…
- Hơn nữa, trong thời gian qua do diễn biến phức tạp về khí tượng thủy văn
bởi các hiện tượng El Nino và La Nino đã gây ra các đợt nắng nóng gay gắt, thời
gian nắng kéo dài, dẫn đến tình trạng khô hạn. Do nền địa chất công trình yếu và do
tình trạng xây dựng cơ bản, khai thác nguồn tài nguyên trên sông một cách tự phát
đã làm thay đổi dòng chảy, dẫn đến hiện tượng sạt lở ven sông.
2.2. Điều kiện kinh tế
2.2.1. Sản xuất Nông nghiệp
- Huyện Bình Tân chủ yếu là sản xuất hoa màu như: trồng khoai lang, trồng

3.784 cơ sở kinh doanh thương mại – du lịch – khách sạn – nhà hàng, trong đó có
19 cơ sở kinh doanh doanh nghiệp tư nhân và 3.765 cơ sở kinh doanh cá thể, thu hút
7.321 người lao động.
- Các loại hình dịch vụ của huyện bao gồm: dịch vụ thương mại, dịch vụ tài
chính ngân hàng, dịch vụ vận tải, bưu chính viễn thông, công nghệ thông tin, các
dịch vụ sửa chữa phục vụ sản xuất nông nghiệp – công nghiệp và tiêu dùng cũng
tương đối hoàn chỉnh và đáp ứng được nhu cầu của địa phương.
- Về du lịch, với lợi thế là vùng chuyên sản xuất khoai lang, rau màu và đặc
biệt có vị trí nằm cạnh huyện Bình Minh (vùng có vườn cây ăn trái đặc sản-người
dân có kinh nghiệm trong việc sản xuất cây ăn trái nổi tiếng) và nằm cạnh thành
phố Cần Thơ là điều kiện thuận lợi để Bình Tân có thể liên kết với các khu du lịch
Cần Thơ, các tỉnh lân cận để khai thác mô hình du lịch trên sông.

2.3. Điều kiện xã hội
2.3.1. Dân số
- Theo Niên giám thống kê năm 2008 - Phòng Thống kê huyện Bình Tân thì
toàn huyện có 19.690 hộ với 93.679 người (trong đó nữ là 48.167 người). Số dân
sinh sống chủ yếu ở khu vực nông thôn. Mật độ dân số huyện là 612 người/km 2.
- Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên là 1,025%. Dân số huyện Bình Tân là một cộng
đồng các dân tộc, người Kinh, người Khơ Me, người Hoa… Các dân tộc luôn có
14


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

truyền thống đoàn kết với nhau trong quá trình lịch sử khai phá, xây dựng, cùng
nhau chống thiên tai, ác thú và giặc ngoại xâm. Ngày nay, trong thành phần cộng
đồng dân tộc ở huyện thì người Kinh chiếm đa số, kế đến là người Hoa, người Khơ
Me và các dân tộc khác. Tổng số người Kinh 93.224 người (chiếm 99,51%); người
Hoa 257 người (chiếm 0,27%); người Khơ Me 157 người (chiếm 0,17%); các dân

Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

xuồng, mất nhiều giờ mới tới nơi. Đường điện chỉ đến trung tâm một số xã, dân đa
số nghèo, lo cái ăn cái mặt đã khó, lo điện thấp sáng lại càng khó hơn.
- Sau khi tách huyện, Bình Tân được tỉnh và trung ương đầu tư xây dựng cơ sở
hạ tầng. Năm 2000, quốc lộ 53 được nâng cấp tạo thuận lợi giao thông giữa trung
tâm huyện với nội vùng và tạo đà phát triển giao thông nông thôn nơi đây. Đường
tỉnh 908 và đường 857 cũng được xây dựng. Các xã đều có điện trung thế, trường
tiểu học, trạm xá, trong đó có xã Tân Thành có bệnh viện khu vực. Đời sống văn
hoá, tinh thần của nhân dân trong vùng được cải thiện rõ rệt. Chương trình cụm,
tuyến dân cư vùng lũ đang được thực hiện để giúp cho dân vùng lũ có nơi ở ổn
định. Đến nay các xã Nguyễn Văn Thảnh, Tân An Thạnh, Thành Trung có tuyến
dân cư hoàn thành và có dân vào ở. Vào mùa lũ có thể đi mô tô theo các tuyến
đường nối với quốc lộ 53 hoặc theo đường tỉnh 908 tương đối dễ dàng.
- Năm 2008, tỉnh Vĩnh Long quyết định đầu tư gần 140 tỉ đồng xây dựng
Bệnh viện đa khoa huyện Bình Tân tại ấp Thành Nhân, xã Thành Lợi. Bệnh viện
được xây dựng trên diện tích 16.000m 2 với quy mô 100 giường bệnh, gồm các khoa
điều trị nội - y học cổ truyền: 34 giường; ngoại: 22 giường; phụ sản: 14 giường; nhi:
12 giường; răng hàm mặt - tai mũi họng, mắt: 6 giường; truyền nhiễm: 6 giường và
cấp cứu, hồi sức: 6 giường. Dự kiến năm 2011 công trình sẽ hoàn thành và đưa vào
sử dụng.

16


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Tình hình quản lý, cập nhật, chỉnh lý biến động đất đai trên địa bàn huyện
Bình Tân

Loại đất

Năm 2005

Đất nông

Năm 2006

Năm 2007

Năm 2008

Diện tích

Tỷ lệ

Diện tích

Tỷ lệ

Diện tích

Tỷ lệ

Diện tích

Tỷ lệ

(ha)
12.600,42

2.727,59

17.83

2.729,00

17.84

18,67

0.12

17,90

0.12

5,88

0.03

5,88

0.03

15.288,58

100

15.288,58


- Tổng số hồ sơ là 1095 hồ sơ đã giải quyết được 1095 hồ sơ, không có hồ sơ
tồn.
3.2.1.4. Công tác đăng ký (xóa đăng ký), thế chấp quyền sử dụng đất
- Tổng số hồ sơ là 2220 hồ sơ đã giải quyết được 2220 hồ sơ, không có hồ sơ
tồn.

18


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

3.2.2. Công tác giao đất, cho thuê đất
- Tổng số 22 dự án – đã thu hồi chi tiết hoàn chỉnh. Trong đó, trình tỉnh ra quyết
định giải quyết giao đất là 13 dự án
+ 7 dự án đã có quyết định
+ 6 dự án đang chờ quyết định của tỉnh
+ Còn 9 dự án chưa hoàn chỉnh hồ sơ giao đất lý do kiện về giá đất, diện tích, loại
đất
- Riêng 11 trạm y tế các xã đã có đất công 11/11 trạm (riêng xã Tân Bình cần phải
thỏa thuận đường đi)
+ Giao đất: 5 trạm đã giao đất hoàn chỉnh ( Mỹ Thuận, Thành Trung, Thành
Lợi, Tân Lược, Tân Thành, Tân Quới)
+ Còn lại 5 trạm chưa hoàn chỉnh thủ tục cần chỉnh quy hoạch cục bộ
3.2.3. Công tác chuyển mục đích sử dụng đất
Về công tác chuyển mục đích sử dụng đất từ đầu năm đến nay thực hiện được
176 trường hợp:
+ Nâng diện tích đất lâu năm quả đến nay: 238.822,5m2,
+ Diện tích đất ở nông thôn đến nay là: 22.714,8 m2.
+ Diện tích đất sản xuất kinh doanh đến nay là 556.6 m2
Chuyển mục đích QSDĐ năm 2010 tăng hơn năm 2009 về số trường hợp cũng

- Đã chuyển 3 hồ sơ cho các xã
- 2 hồ sơ thuộc thẩm quyền
+ Giải quyết 1 hồ sơ
+ Tồn 1 hồ sơ tiếp tục giải quyết
3.2.6.2. Tiếp dân :
Tổng tiếp 15 cuộc gồm: giải quyết đất đai, Vlap, các dự án trên địa bàn.
3.2.6.3 Thực hiện các bản án.
Bản án : tổng số 10 quyết định, giải quyết 6 quyết định, tồn 4 quyết định
Quyết định của UBND huyện : tổng số 4: giải quyết 3 quyết định, tồn 1
quyết định
3.2.6.4. Trả lời công văn của Tòa:
Tổng 47 công văn: giải quyết 34 công văn, tồn 13 công văn
3.2.6.5. Lặp phương án xét duyệt :
Tổng số 33 hộ đất nông trường mía xã Thành Trung, trình UBND Tỉnh cho
giải quyết, đang lập thủ tục điều chỉnh cục bộ để tiến hành xét cấp cho dân có nhu
cầu sử dụng.
3.2.6.6. Kết hợp UBND xã Tân Thành :
Lập biên bản 74 hộ sử dụng đất nông trường (Ngã năm cây mít). Khi thực
hiện quy hoạch kế hoạch sử dụng đất các hộ phải giao đất không phải bồi thường về
đất.
20


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

3.2.7. Công tác khác
Lập thủ tục tách hợp thửa: tổng số hồ sơ tiếp nhận đến nay là 566 hồ sơ,
giải quyết 310 hồ sơ. Trả 121 hồ sơ. Tồn 35 hồ sơ đang chờ kết quả đo đạc.
Lập thủ tục thừa kế QSDĐ: tổng số tiếp nhận: 144 hồ sơ, giải quyết: 144
hồ sơ

năm 2007
12,567.68

giảm (-)
-1.84

năm 2006
12,446.13

giảm (-)
119.71

2,729.00

2,727.59

1.41

2,824.55

-95.55

5.88

5.88

0.00

17.90


21


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

Qua bảng trên chúng ta thấy, trong giai đoạn 2006 – 2008 diện tích tự nhiên
của Huyện Bình Tân tăng 12.14 ha. Trong đó, diện tích đất nông nghiệp năm 2008
tăng 119.71 ha so với năm 2006 nhưng lại giảm 1.84 ha so với năm 2007, diện tích
đất phi nông nghiệp năm 2008 là 2,729.00 ha giảm 95.55 ha so với năm 2006 nhưng
lại tăng 1.41 ha so với năm 2007, diện tích đất chưa sử dụng trong năm 2008 và
năm 2007 thì giảm 12.02 ha so với năm 2006. Nhìn chung, trong những năm tới
huyện Bình Tân tiếp tục phát triển, tốc độ đô thị hoá sẽ diễn ra mạnh, cùng với sự
gia tăng dân số, ngoài khả năng tự giãn trong khuôn viên một số hộ gia đình. Do đó,
huyện nên có những giải pháp thực sự tốt để sử dụng tốt quỹ đất hiện có của địa
phương nhằm bố trí quỹ đất phù hợp cho từng mục đích sử dụng.
3.3. Đánh giá khái quát về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến đất đai trên địa bàn
huyện Bình Tân
3.3.1. Những thuận lợi
+ Có vị trí địa lý thuận lợi cả về đường bộ lẫn đường thủy.
+ Vì là huyện mới thành lập nên được sự quan tâm đầu tư và các chính sách
của nhà nước.
+ Có điều kiện thuận lợi hình thành các vùng chuyên canh cây nông nghiệp.
+ Hệ thống sông rạch chằng chịt cung cấp nước phục vụ nội đồng.
+ Cơ chế, thủ tục hành chính theo nguyên tắc một cửa tạo điều kiện thuận lợi
cho người dân
3.3.2. Những khó khăn
+ Cơ sở hạ tầng còn lạc hậu thiếu tính đồng bộ.
+ Thiếu lực lượng lao động lành nghề, kỉ năng chuyên môn.
+ Đặc điểm vùng là có hệ thống sông rạch chằng chịt, cũng gây trở ngại cho
việc giao thông bộ trong nội bộ huyện.

- Vật giá leo thang hàng ngày đã tác động không tốt tới đời sống những
người hưởng hưu như: cán bộ, công nhân viên chức, đối tượng chính sách và dân
nghèo.
- Một số các công trình, chương trình trọng điểm về phát triển cơ sở hạ tầng
triển khai chậm, làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế của huyện và cải thiện chất
lượng đời sống dân cư. Tính đồng bộ các công trình chưa được đề cao. Chất lượng một
số công trình đầu tư chưa đạt yêu cầu.
- Công tác quy hoạch, quản lý thực hiện quy hoạch của bộ máy chính quyền
các cấp còn yếu kém làm phát sinh tình trạng xây dựng tự phát trong dân cư, thiếu
kết nối với hệ thống hạ tầng kỹ thuật và xã hội chung của huyện, làm phát sinh
những vấn đề bức xúc về ô nhiễm môi trường, giao thông, tiện ích công cộng và các
vấn đề xã hội khác.
- Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã làm biến đổi cơ cấu sử dụng đối
với đất đai. Các khu-cụm công nghiệp, thương mại dịch vụ đã, đang và sẽ được xây
23


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

dựng là tiền đề cho việc chuyển một khối lượng đất đai tương đối từ mục đích sử
dụng vào nông nghiệp sang đất đô thị, có đầu tư cơ sở hạ tầng.
- Từ sự thay đổi trong cơ cấu sử dụng đất hiện có dẫn đến đòi hỏi phải có
giải pháp chiến lược cho vấn đề này. Nhìn chung sức ép đối với đất đai của huyện
Bình Tân trong giai đoạn tới rất lớn và phần nhiều sẽ lấy vào đất nông nghiệp, cần
phải sử dụng đất hợp lý, tiết kiệm, đảm bảo sử dụng đất đúng mục đích, có hiệu quả
và gắn liền với việc bảo vệ môi trường sinh thái, bền vững.
3.5. Thống kê các loại đất trên địa bàn huyện Bình Tân
Bảng 3.3: Cơ cấu sử dụng đất trên địa bàn huyện Bình Tân năm 2010
Loại đất
Diện tích ( ha )

đến năm 2020 là nâng tổng sản phẩm của huyện đạt hơn 2.000 tỷ đồng, tốc độ tăng
trưởng bình quân từ 13,5% đến 14%; thu nhập bình quân đầu người đạt 61,54 triệu
đồng; chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tăng tỷ trọng các ngành dịch vụ từ
24


Kho tài liệu miễn phí của Ketnooi.com

25% đến 34%; tỷ trọng công nghiệp và xây dựng tăng từ 13,5% đến 27,5%; giảm tỷ
trọng nông nghiệp từ 61,5% xuống còn 38,5%; tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã
hội trên địa bàn hơn 3.000 tỷ đồng, chiếm 49,5% so tổng sản phẩm của huyện; phấn
đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo xuống dưới 3%, giảm tỷ lệ tăng dân số tự nhiên xuống còn
0,02%, tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng 54%.
Nâng cấp xã Tân Quới đạt tiêu chuẩn đô thị loại 5, hình thành thị trấn huyện lỵ
của huyện Bình Tân. Về quy mô dân số, đất đai đô thị theo các giai đoạn phát triển,
dự báo dân số Tân Quới đến 2015 khoảng 7.800 người, đến 2020 là hơn 9.000
người. Đất xây dựng đô thị đến 2015 khoảng 98,5 ha và đến 2020 là 125 ha. Tỉ lệ
lao động phi nông nghiệp đạt 65%. Từ điều kiện thuận lợi như thế, cộng với qui
hoạch từ ban đầu, sự đồng thuận của cộng đồng, tất cả cho thấy sẽ có một thị trấn
Tân Quới phồn vinh trong tương lai.
Thực hiện tốt các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn huyện trong các
lĩnh vực văn hóa - xã hội, đặc biệt là chăm lo về giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao
dân trí, tăng chất lượng nguồn lực, thực hiện các chính sách xã hội khác;
Tiếp tục sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, tận dụng mọi lợi thế phát triển nhanh,
bền vững nền kinh tế - xã hội, chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hoá,
hiện đại hoá. Ứng dụng khoa học kỹ thuật tiến tiến vào sản xuất nông nghiệp, thủy
sản.
Đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp toàn diện theo hướng đa dạng hóa và
nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng nhanh khối lượng nông sản và thủy sản cho
xuất khẩu; tạo bước đột phá trong sản xuất công nghiệp và các ngành dịch vụ, đạt


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status