LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay là thời đại của tri thức do đó tri thức là nền tảng tạo
ra giá trị, là tay lái chính của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế
Tri thức được nói tới ở đây là chất lượng của NNL trong công ty.
Một cách khái quát có thể cho thấy rằng các doanh nghiệp hiện
nay họ rất quan tâm tới vấn đề này bởi lẽ một doanh nghiệp chỉ có
thể phát triển bền vững được khi có một đội ngũ cán bộ công nhân
viên giỏi. Đề tài của cấ nhân em cũng tập trung vào vấn đề: làm sao để
nâng cao được hiệu quả của việc sử dụng nguồn lực con người trong
công ty than Nam Mẫu. Mặc dù em đã rất cố gắng tuy nhiên trong
quá trình viết sẽ có nhiều vấn đề chưa được chính xác, em rất mong
nhận được sự đóng góp - phê bình của các Thầy cô trong khoa kinh tế
lao động và dân số để đề tài của em được hoàn thiện hơn.
PHẦN I : NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG:
I. Các khái niệm
1) NNL là nguồn lực về con người và được nghiên cứu dưới
nhiều khía cạnh khác nhau tuỳ vào mục địch nghiên cứu.
a. NNL với tư cách là một yếu tố của sự phát triển kinh tế xã hội
đó là nhóm dân cư trong độ tuổi lao động có khả năng lao động.
b. NNL còn có thể hiểu là tổng hợp cá nhân những con người cụ thể
tham gia vào quá trình lao động. Với cách hiểu này NNL bao gồm
những người từ giới hạn dưới độ tuổi lao động trở lên.
(ở nước ta là tròn 15 tuổi)
Tóm lại các cách hiểu trên nhất trí với nhau đó là nguồn nhân
lực nói lên khả năng lao dộng của xã hội.
Còn như với đề tài nghiên cứu về một doanh nghiệp cụ thể thì
NNL được hiểu là toàn bộ các nguồn lực con người của tổ chức, nó
được huy động và sử dụng theo mục địch hoạt động của tổ chức
2) Chất lượng của NNL
Có nhiều cách phân loại khác nhau
1) Căn cứ vào nguồn gốc hình thành
a. NNL có sẵn trong dân số.
Nó bao gồm toàn bộ những người nằm trong độ tuổi lao động, có khả
năng lao động không kể tới trạng thái có việc làm hay không. Độ tuổi
lao động là giới hạn về những điều kiện tâm sinh lý xã hội mà con
người tham gia vào quá trình lao động, được quy định tuỳ thuộc
vào điều kiện kinh tế xã hội của từng nước.
NNL tham gia vào hoạt động kinh tế (còn gọi là dẫn số hoạt động
kinh tế)
Đây là số người có công an việc làm, đang làm việc trong các lĩnh
vực kinh tế, văn hoá xã hội
c. NNL dự trữ
Nó bao gồm những người nằm trong độ tuổi lao động nhưng vì các
lý do khác nhau họ chưa tham gia lao động. Nó bao gồm:
+ Những người làm công việc nội trợ trong gia đình
+ Những người tốt nghiệp Trung học phổ thông và trung học chuyên
nghiệp
+ Những người đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự, có khả năng tham
gia vào hoạt động kinh tế.
+ Những người trong độ tuổi lao động nhưng đang thất nghiệp
2) Căn cứ vào vai trò của từng bộ phận NNL tham gia vào sản
xuất xã hội
a. Bộ phận lao động chính: Đây là bộ phận nhân lực nằm trong độ
tuổi lao động và có khả năng lao động.
b. Bộ phận phụ
Đây là bộ phận dân cư ngoài độ tuổi lao động và có thể cần phải tham
giới
c) cơ cấu lao động theo tuổi:
nó cho biết tuổi trong lao động ở trong từng độ tuổi.
d) Cơ cấu lao động theo trình độ văn hoá:
+ Không biết chữ
+ Chưa tốt nghiệp tiểu học
+ Tốt nghiệp tiểu học
+ Tốt nghiệp trung học cơ sở
+ Tốt nghiệp trung học phổ thông
e) Cơ cấu theo trình độ chuyên môn lành nghề
g) Cơ cấu theo thâm niên
h) Cơ cấu theo nghề
IV. Ảnh hưởng của việc nâng cao chất lượng NNL tới sự phát triển
của công ty
Việc nâng cao chất lượng NNL của công ty là vấn đề mấu chốt cho
thành công của doanh nghiệp, nhất là khi Việt Nam gia nhập WTO. Một
doanh nghiệp chỉ thực sự cạnh tranh được khi họ có một đội ngũ lao
động hùng mạnh, giỏi giang. Nhìn chung đây là thời kỳ của tri thức. Các
doanh nghiệp phải nâng cao chất xám của mình lên và ứng dụng khoa
học kỹ thuật và sản xuất có như thế mới có thể cạnh tranh và giành thắng
lợi cho mình và nếu doanh nghiệp nào đi ngược lại nó tất yếu sẽ thất bại.
Khi chất lượng NNL tăng lên thì năng suất lao động tăng lên, chi
phí cho sản xuất giảm đi, giảm giá thành sản phẩm và làm ăn sẽ có lãi.
Đó chính là ảnh hưởng của việc nâng cao chất lượng NNL tới sự
phát triển của công ty.
Ngày nay các doanh nghiệp họ càng ngày càng hạn chế sử dụng lao
động chân tay mà thay vào đó là lao động trí óc bởi lẽ tri thức bây giờ trở
thành nền tảng của giá trị và là tay lái chính trong thời kỳ mới.
động không hiệu quả trong nhiều năm liên tiếp thì công ty đó sẽ
phải sáp nhập hoặc phá sản. Đây cũng chính là sự thực rất rõ ràng
không chỏ của các công ty than mà là của cả nền Kinh tế. Ngày nay
báo công
cáo tổng
liệu toàn
theo chức
ày 31/12/2006)
diện(Nguồn
mạo 1của
ty hợp
đã số
hoàn
thaydanh.
đổi.NgKhu
làm việc cuả cán
bộ công nhân được mở rộng và đặc biệt công ty đã từng bước hiện
đại hoá máy móc thiết bị nhằm nâng cao năng suất lao động và
giảm chi phí.
Cùng với đó là thu nhập của người lao dộng tăng lên, cán
bộ nhận viên đoàn kết với nhau đã tạo ra tâm lý phấn khởi và sự
gắn bó với công ty
2. Bộ máy quản lý của công ty:
“Bảng 1. Thống kê đội ngũ cán bộ CNV Xí nghiệp than Nam Mẫu
2005”.
STT
DANH MỤC
1
CNV toàn xí nghiệp
231
9,1
Trung cấp
132
5,2
Còn lại
2176
85,7
Bảng 1: Nguồn: Báo cáo tình hình cán bộ CNV 2005 – Phòng TCLĐ
Bộ máy quản lý của xí nghiệp than Nam Mẫu được tổ chức theo cơ
cấu trực tuyến - chức năng. Đứng đầu là giám đốc - Người chịu trách
nhiệm chính của công ty. Giúp việc cho giám đốc có 4 Phó Giám Đốc
cùng các phòng ban chuyên môn về các lĩnh vực, có chức năng cố vấn,
tham mưu cho giám đốc trong công tác quản lý và ra quyết định, điều đó
đảm bảo sự chỉ đạo trực tiếp, kịp thời quyết định của giám đốc đến các
đơn vị sản xuất trong xí nghiệp.
Bộ máy quản lý của xí nghiệp được phân làm hai cấp: cấp quản lý xí
nghiệp và cấp quản lý công trường. Và ta có sơ đồ quản lý của cấp quản
lý ở công trường:
QUẢN ĐỐC
Phó
QĐ 2: “ Sơ đồ
Phó
QĐ sản xuất”
Phó QĐ
Bảng
tổQĐ
chức các bộPhó
phận
khai thác, phân xưởng điện…thì luôn có nhân viên giám sát thuộc
các phòng như : phòng an toàn, phòng thống kê…
Có thể nói bộ máy quản lý của công ty than Nam Mẫu luôn
hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Trong sản xuất không để xảy
ra các sự cố diễn biến lâu và mất ổn định trong sản xuất.
Trong các năm 2003- 2007 theo số liệu thống kê cho thấy
hàng năm công ty làm ăn đều có lãi, nó cho thấy hiệu quả của công
ty cũng luôn quan tâm tới việc đào tạo và đào tạo lại cán bộ quản
lý của mình, những cán bộ mà năng lực còn hạn chế thì đều được
các doanh nghiệp cử đi học ở các lớp ngắn hạn và dài hạn nhằm
giúp họ tự nâng cao được những năng lực chuyên môn và những cán
bộ quá yếu kém về năng lực thì được thuyên chuyển sang các bộ
phận khác .
Công ty than Nam Mẫu cũng đang trong giai đoạn cải tổ lại
bộ máy quản lý nhằm tránh sự lãng phí không cần thiếtt và nâng
cao năng lực quản lý của mình.
Hiện nay doanh nghiệp chỉ có 9,6% tổng số là tốt nghiệp hệ
đại học còn lại 90,4% là trình độ từ trung cấp trở xuống. Đây cũng
là con số cho thấy doanh nghiệp còn rất thiếu lao động có trình
độ chuyên môn cao.
3. Nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh:
Nói cung tất cả các công ty than đều có nhiệm vụ sản xuất và khai
thác than do đặc điểm than là tài nguyên rất phong phú cho nên việc khai
thác than cũng đem lại một nguồn lợi to lớn cho công ty than nói riêng
và cho Tỉnh Quảng Ninh nói chung. Than phân bố ở hầu hết các khu vực
có núi, do đó việc khai thác than cũng hết sức phong phú và phức tạp.
xuất hiện đại hơn và tăng đầu tư cho nguồn lực con người. Tuy
nhiên vấn đề này cũng rất khó khăn và không thể làm ngay được
mà phải từng bướ.
Một số doanh nghiệp khai thác ở Quảng Ninh cũng đã bị thua
lỗ hoặc gần như không có lãi khi khai thác xuống mức cos 0, Đây
cũng là thực trạng chung vì thế bản thân doanh nghiệp cũng
không nên chủ quan vì nhà nước luôn khống chế giá bán than.
Theo quan điểm cá nhân: Vấn đề nằm trong bản thân các vấn đề
kinh tế. Nói chung là doanh nghiệp cũng không thể bỏ ra hàng
trăm tỷ đồng để nhập máy móc mới cũng như đầu tư cho nguồn
lực con người vì vậy chỉ có một cách là tăng giá bán ra. Và vấn
đề này là của tập đoàn than và của chính phủ. Một khi chính phủ
khống chế giá thì hoạt động khai thác than sẽ bị méo mó đi. Điều
này thể hiện rất rõ trong năm vừa qua khi mà đại diện tập đoàn
than đã có văn bản kiến nghị chính phủ cho tăng giá bán than.
Một trong những vấn đề nữa là khi giá bán bị khống chế thì
thu nhập của người lao động sẽ bị giảm sút mà ngành than lại là
ngành nặng nhọc độc hại do đó thu nhập bị giảm đi sẽ làm cho
người lao động bị thiệt thòi.
4. Đặc điểm về lao động và máy móc thiết bị:
a) Đặc điểm về lao động:
Nói về lao động của công ty thì so với các loại hình doanh nghiệp
khác nó chỉ có sự khác nhau trong bộ phận công nhân trực tiếp sản xuất.
Do đòi hỏi của nghề Mỏ công nhân phảI có trình độ tay nghề vững và
phảI có sức khoẻ tốt để đáp ứng cho nhu cầu của công việc. Ngoài bằng
cấp chứng chỉ nghề thì họ phảI đạt được chiều cao tối thiểu là 1m65 và
cân nặng tối thiểu là 54 kg. Đây là do việc khai thác than rất độc hại và
nặng nhọc vì thế để đảm bảo sức khoẻ cho người lao động thì các yêu
+ Nhóm trang thiết bị cho bộ phận sản xuất phụ
Và nó được thể hiện qua hai bảng sau:
Bảng 3: Thống kê máy móc – Thiết bị
1
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
Tên thiết bị
2
Máy nén khí
Máy nén khí
Máy nén khí
Máy nén khí
Máy nén khí
Máy nén khí
Máy nén khí
4
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Máy
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
SX
SC
6
1
1
1
1
1
2
1
2
1
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Tủ nạp tàu
Quạt gió cục bộ
Cỗu dao phòng nổ
Đèn ắc qui lò
Khởi động từ
Biến áp khoan
Biến thế chiếu sáng
Rơle rò 127V
Khoan điện cầm tay
CKK-150
Cái
Cái
DW80+AOB Cái
2
370
1
4
19
26
27
28
29
30
31
32
33
34
35
36
37
38
39
40
41
42
43
44
45
46
47
48
8
1500
1
2
5
Cáp lực
Cáp lực
Dây điện
Đèn nê ông phòng nổ
Cáp cao su
Áp tô mát 3 pha
Áp tô mát 3 pha
Áp tô mát 3 pha
Cầu dao 2 pha
Công tơ đo điện
Cưa đĩa
Máy trộn bê tông
Đầm rung
Bơm nước
Bào gỗ
điện)
3*35*1*10
3*35*1*10
2*2*5
127V
3*35*1*10
100A
M
Bộ
M
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
Cái
1
3
10
40
3
4
1
1000
10
500
3
4
5
máy móc trong quản lý: Máy vi tính, máy photocopy, máy điều hoà…
NHưng vì số liệu có hạn nên đồ án không thể liệt kê đầy đủ số lượng
các loại máy móc thiết bị.
b. Thiết bị kỹ thuật dùng cho quá trình sản xuất phụ trợ.
Sản xuất phụ trợ là quá trình sản xuất tạo điều kiện cho bộ phận
sản xuất chính hoạt động nhưng không mang tính chất thường xuyên
như quá trình vận chuyển than từ vỉa về nơi giao hàng, vận chuyển vật
tư, máy móc thiết bị được sử dụng ở đây, trang thiết bị này được nêu ở
bảng 1.7.
Qua các bảng thống kê đã cho thấy hầu hết đều là các thiết
bị công nghiệp có giá trị kinh tế cao và trong mức chưa sản xuất
được.
Máy móc thiết bị này chủ yếu được nhập từ Nhật bản và trung
quốc với giá thành tương đối cao. Tuy nhiên đặc điểm khai thác
than là khai thác trong lòng núi cao. Do đó nó cần những loại máy
móc Công nghiệp đó. Đối với Việt Nam thì đây vẫn được coi là
những loại máy móc tiên tiến. Tuy nhiên chúng ta vẫn phải dần
thay thế nó. Bởi lẽ các quốc gia như Nhật Bản…họ khai thác than
chủ yếu là các dây chuyền tự động chứ không như ở Việt Nam. Tuy
vậy giá trị các giây chuyền này quá cao chúng ta vẫn chưa đủ sức để
trang bị nó.
Bảng 4: Trang thiết bị kỹ thuật
stt
Tên thiết bị
Mó hiệu
Chiếc 1
2
5
Xe gạt
DZ-171
Chiếc 1
2
6
Máy xúc
EO-5123 Chiếc 1
2
7
Máy xúc
EO-4121 Chiếc 1
2
8
Máy xúc
EO-3323 Chiếc 1
2
1
9
Máy xúc
EO-3322 Chiếc 1
2
10
Máy xúc
EO-3326 Chiếc 1
2
11
Máy xúc
75KV
Chiếc 1
2
18
Xe ô tô tải
KPAZ
Chiếc 1
2
19
Xe ôtô tải
HD-270
Chiếc 1
2
1
Nguồn: Báo cáo Trang thiết bị – máy móc 2005 Phòng kỹ thuật vật tư.
II. Đánh giá thực trạng chất lượng NNL của Công ty.
1. Trình độ sức khoẻ:
Sức khoẻ của người lao động cũng là yếu tố cũng rất quan trọng cho
quá trình lao động. ở Việt Nam hiện nay do công nghệ còn nhiều
hạn chế do đó phải sử dụng nhiều lao động chân tay (hay nói cách
khác cần người lao động có sức khoẻ. Nếu đánh giá về trình độ sức
khoẻ của công ty than Nam Mộu, ta chia ra làm hai bộ phận:
+ Sức khoẻ với cán bộ phòng ban
+ Sức khoẻ với công nhân
a. Với cán bộ phòng ban
Trong tất cả các phòng ban người lao động ở đây là người quản lý,
họ làm việc bằng trí óc là chính, do đó khi tuyển dụng đối tượng
này thì chủ yếu là căn cứ vào năng lực của họ, còn điều kiện về
quá yếu đã không làm được đành phải bỏ việc, hơn nữa người lao
động quá yếu sẽ hay bị mắc bệnh nghề nghiệp.
Còn đối với công nhân cơ điện thì dù là lao động sửa chữa
máy và vận hành máy tuy nhiên vẫn phải theo quy trình của công
ty khi tuyển vào phải cao 1m65 trở lên và nặng từ 54kg trở lên.
+ Công nhân phân loại than: Đây cũng là lao động tay chân tuy nhiên
lại có môi trường làm việc ở trên mặt đất và ít độc hại hơn.
Công việc của họ là phân loại than thành các loại A1, A2…Mặc
dù cũng vất vả tuy nhiên với đối tượng này công ty cũng không quy
định mức sức khoẻ tối thiểu, chỉ cần có nhu cầu là có thể được vào
làm việc.
Theo đánh giá của cá nhân em thì bản thân doanh nghiệp
cũng đã đưa ra các giải pháp tốt, nó phù hợp với thực tế khách
quan trong doanh nghiệp, chất lượng nguồn nhân lực là vấn đề có ý
nghĩa quan trọng cho sự hoạt động và tồn tại của một tổ chức, tuy
nhiên khi đánh giá chất lượng NNL thì vấn đề sức khoẻ cũng cần
phải đặt ra là mục tiêu chính. Với những vị trí làm việc cần có sức
khoẻ tốt thì phải có những người lao động lành nghề và có sức khoẻ
tốt. Có như thế hoạt động sản xuất mới không bị gián đoạn. Một
vấn đề đã từng xảy ra trước đây trong doanh nghiệp khi mà người
lao động có sức khoẻ không đảm bảo, những người này họ làm việc
được một thời gian (từ một năm đến khoảng 3 năm) khi đó sức khoẻ
đã kiệt quệ do phải làm việc cố sức đã dẫn tới việc dễ mắc bệnh như:
Đau phổi, đau cơ sương, do đó họ không thể tiếp tục làm việc và cá
biệt có những trường hộ xin nghỉ việc do áp lực về sức khoẻ quá
lớn.
Nhìn chung do thể trọng của người Việt Nam còn nhiều hạn
chế, do vậy bản thân doanh nghiệp cũng rất lúng túng khi mình đang
Những đối tượng này sử dụng chất kích thích trái phép do đó đã
bị đình chỉ công tác cho đi cai nghiện. Nếu cai nghiện được thì
doanh nghiệp sẽ nhận vào làm còn nếu không thì bị xoá hợp đồng.
Như vậy cho thấy vấn đề giáo dục tuyên truyền cho người lao
động hiểu tác hại của ma tuý với sức khoẻ cũng cần được quan
tâm hơn.
Nguồn2: báo cáo chất lượng công nhân 2006- phòng TCLĐ
2. Trình độ văn hoá.
Đây là vấn đề có thể nói là rất khó đánh giá bởi lẽ nó do
cách hiểu về khái niện này. Trong giai đoạn trước đây người ta luôn
đồng nhất trình độ văn hoá với trình độ học vấn, kể cả với công ty
than Nam Mộu, tuy nhiên cho đến ngày nay thì người ta đã phân biệt
hai khái nhiệm này một cách đầy đủ, theo đó trình độ văn hoá là
tổng hợp khả năng nhận thức, trình độ hiểu biết và cách thức cư xử
giữa con người với nhau trong xã hội.
Trong công ty than Nam Mẫu thì theo quan sát cảu cá nhân
em thì con người trong tổ chức đều là những người có hiểu biết,
có kiến thức, và kết hợp với tính kỷ luật cao trong công việc , do
đó trình độ văn hoá được đảm bảo, trong công việc giữa cán bộ
công nhân viên với nhau, họ luôn coi nhau như tình đồng chí, đồng
đội cũng lao động cùng sản xuất và chia sẻ những tâm tư tình cảm
với nhau.
Đó là những biểu hiện cho thấy được phần nào về tình
cảm,tình đoàn kết giữa con người với con người trong tổ chức .
Tuy nhiên có thể đánh giá đầy đủ nó thì do năng lực bản thân còn
nhiều những hạn chế do đó em chưa có thu thập được những tài liệu
về vấn đề này. Em cũng mong các thầy cô thông cảm cho thiếu sót
đó.