Bàn luận về vấn đề đổi mới toàn diện nội dung và phương pháp dạy học ở bậc học phổ thông trên quan điểm biện chứng - Pdf 35

PHẦN I: MỞ ĐẦU
I. Đặt vấn đề
Mọi cái mới đều gây ra những dư luận xung quanh nó. Việc thay đổi
chương trình dạy học ở bậc học phổ thông cũng không nằm ngoài quy luật đó.
Những dư luận xung quanh vấn đề này bao gồm cả khen và chê. Nhiều người
cho rằng: việc đổi mới là tất yếu, là cấp thiết trong thời đại mới, thời đại của
công nghệ thông tin, của khoa học phát triển và thời đại hội nhập quốc tế;
Nhưng cũng không ít ý kiến cho rằng việc đổi mới như hiện nay vẫn chưa
thực sự mang lại hiệu quả và còn nhiều bất cập như: vấn đề học tiếng việt của
học sinh tiểu học, nội dung kiến thức của từng môn học chưa phù hợp với
thực tế, còn nhiều kiến thức chưa chính xác và còn rất nhiều ý kiến khác nữa
được phát biểu và bàn luận trên nhiều khía cạnh khác nhau. Đứng trên lập
trường của phương pháp biện chứng, chúng ta thử nhìn nhận lại quá trình đổi
mới chương trình dạy học ở hệ thống giáo dục phổ thông bằng cách xét lại
những kết quả mà chúng ta đã đạt được từ sự đổi mới ấy.
Xuất phát từ mong muốn làm rõ ý nghĩa của việc thay đổi chương trình
giáo dục ở bậc học phổ thông nên tôi đã quyết định chọn đề tài “Bàn luận về
vấn đề đổi mới toàn diện nội dung và phương pháp dạy học ở bậc học phổ
thông trên quan điểm biện chứng” làm đề tài tiểu luận triết học của mình.
Hy vọng đề tài này sẽ góp thêm một ý kiến hữu ích cho công tác thay đổi
chương trình ở các bậc học phổ thông. Tuy nhiên, để cho đề tài này mang tính
khách quan hơn, rất mong được sự đóng góp ý kiến của giảng viên và quý bạn
đọc. Tôi xin chân thành cảm ơn!
II. Phương pháp thực hiện đề tài:
- Tổng hợp tài liệu.
- Tìm hiểu thông tin dư luận xung quanh vấn đề nghiên cứu.


- Phân tích các ý kiến dư luận trên quan điểm của phép biện chứng duy
vật. Từ đó rút ra kết luận và đưa ra những kiến nghị cần thiết trong quá trình
thực hiện đổi mới chương trình ở bậc học phổ thông.



Sự thống nhất của các mặt đối lập trong cùng một sự vật không tách rời
sự đấu tranh chuyển hoá giữa chúng. Bởi vì các mặt đối lập cùng tồn tại trong
một sự vật thống nhất như một chỉnh thể trọn vẹn nhưng không nằm yên bên
nhau mà điều chỉnh chuyển hoá lẫn nhau tạo thành động lực phát triển của
bản thân sự vật. Sự đấu tranh chuyển hoá, bài trừ, phủ định lẫn nhau giữa các
mặt trong thế giới khách quan thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau.
Khi bàn về mối quan hệ giữa sự thống nhất và đấu tranh của các mặt đối
lập, Lênin chỉ ra rằng: “Mặc dù thống nhất chỉ là điều kiện để sự vật tồn tại
với ý nghĩa là chính nó – nhờ có sự thống nhất của các mặt đối lập mà chúng
ta nhận biết được sự vật, hiện tượng tồn tại trong thế giới khách quan. Song
bản thân của sự thống nhất chỉ là tương đối và tạm thời. Đấu tranh giữa các
mặt đối lập mới là tuyệt đối. Nó diễn ra thường xuyên, liên tục trong suốt quá
trình tồn tại của sự vật. Kể cả trong trạng thái sự vật ổn định, cũng như khi
chuyển hoá nhảy vọt về chất. Lênin viết: “sự thống nhất (phù hợp, đồng nhất,
tác dụng ngang nhau) của các mặt đối lập là có điều kiện, tạm thời, thoáng
qua trong tương đối. Sự đấu tranh của các mặt đối lập bài trừ lẫn nhau là tuyệt
đối cũng như sự phát triển, sự vận động tuyệt đối”. [2,3]
2. Chuyển hoá của các mặt đối lập:
Không phải bất kỳ sự đấu tranh nào của các mặt đối lập đều dẫn đến sự
chuyển hoá giữa chúng. Chỉ có sự đấu tranh của các mặt đối lập phát triển đến
một trình độ nhất định, hội đủ các điều kiện cần thiết mới dẫn đến chuyển
hoá, bài trừ và phủ định nhau. Trong giới tự nhiên, chuyển hoá của các mặt
đối lập thường diễn ra một cách tự phát, còn trong xã hội, chuyển hoá của các
mặt đối lập nhất thiết phải diễn ra thông qua hoạt động có ý thức của con
người. Do đó, không nên hiểu sự chuyển hoá lẫn nhau giữa các mặt đối lập
chỉ là sự hoán đổi vị trí một cách đơn giản, máy móc. Thông thường thì mâu
thuẫn chuyển hoá theo hai phương thức:



II. Thay đổi chương trình giảng dạy ở bậc học phổ thông là một tất yếu
khách quan
Hầu hết những ý kiến cho rằng việc thay đổi chương trình sách giáo
khoa là không cần thiết trong giai đoạn hiện nay đều tập trung vào vấn đề tài
chính vì rõ ràng việc thay toàn bộ hệ thống sách giáo khoa như thế này là cực
kỳ tốn kém. Tuy nhiên, những người phê phán công cuộc này đã không thấy
được bản chất của vấn đề này mà chỉ tập trung trên một khía cạnh về kinh tế.
Vấn đề đặt ra ở đây là: “Vì sao phải thay đổi chương trình sách giáo khoa ở
bậc học phổ thông?”. Có thể nói rằng, hệ thống giáo dục của Việt Nam đang
đi sau thế giới khoảng 30 năm nếu không muốn nói là hơn. Chương trình giáo
khoa cũ chú trọng đào tạo con người lao động với đầy đủ kiến thức lý thuyết
mà quên mất rằng con người không chỉ sống bằng lý thuyết suông đó được.
Con người phải được đặt vào chính môi trường sống của họ, làm quen với tư
liệu sản xuất mà họ có và học cách làm chủ nó, có như vậy việc học mới đạt
được mục tiêu đào tạo ra những người lao động năng động, sáng tạo và chủ
động trong lao động. Điều này đã được nhiều nước trên thế giới đặc biệt là
các nước phương Tây cực kỳ chú trọng, không phải ở các nước này không
chú trọng về việc bổ sung kiến thức lý thuyết mà ngoài vốn kiến thức lý
thuyết vừa phải ra, họ chú trọng vào việc rèn luyện kỹ năng cho học sinh mà
đặc biệt là kỹ năng làm việc độc lập, tự chủ, nhằm phát huy tính sáng tạo, chủ
động của mỗi người kết hợp rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm để phát
huy tinh thần tập thể, sự tích cực của mỗi thành viên trong nhóm đồng thời
phát huy tinh thần tương trợ lẫn nhau trong quá trình học tập.
Năm 2006, nước ta trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức Thương mại
thế giới (WTO), chính thức bước vào thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, đó
thực sự là một cơ hội lớn để chúng ta phát triển kinh tế đất nước nhưng cũng
là một thách thức không nhỏ khi khoảng cách về kinh tế, văn hóa, giáo dục,…
của chúng ta và các nước trên thế giới càng ngày càng xa. Vậy, làm thế nào
để chúng ta có thể rút ngắn và dần dần tiến tới lấp đầy khoảng cách đó? Chỉ

triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều sự đột phá; thì chất cũng sẽ có những biến đổi căn


bản để phù hợp với sự thay đổi của lượng – phải thay đổi cách thức giáo dục
và đào tạo con người. Quy luật về mối quan hệ giữa lượng và chất đã được Bộ
Giáo dục và Đào tạo vận dụng trong công tác thay đổi chương trình một cách
đúng đắn và sáng tạo, phù hợp với quy luật của sự phát triển, không hề tỏ ra
nôn nóng, quá trình thay đổi diễn ra trong nhiều năm, chứ không làm ào ạt
một lúc, điều này vừa giúp tiết kiệm ngân sách quốc gia nhưng đồng thời tạo
ra sự tích lũy kinh nghiệm và thu nhận những ý kiến đóng góp của dư luận để
ngày càng hoàn thiện một chương trình đủ khả năng làm thay đổi bộ mặt giáo
dục hiện nay.
Như vậy, qua việc phân tích này chúng ta thấy rằng việc đổi mới chương
trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học là một tất yếu khách quan, hoàn
toàn phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội và đã mang lại những hiệu quả
vô cùng to lớn trong công tác giáo dục. Không công nhận những thành quả
của công tác này là rơi vào lập trường chủ quan, siêu hình, đi ngược lại với
sự phát triển của lịch sử, xã hội.
III. Những hạn chế và giải pháp khắc phục trong công tác thay đổi chương
trình:
Chủ trương thay đổi chương trình ở bậc học phổ thông là hoàn toàn hợp
lý, phù hợp với sự phát triển kinh tế - xã hội, đây cũng không phải là lần đầu
tiên chúng ta tiến hành thay đổi chương trình. Tuy vậy, trong quá trình thực
hiện nó cũng đã xuất hiện nhiều hạn chế, có thể nói rằng hạn chế cũng là một
tất yếu khách quan không thể tránh khỏi. Tuy nhiên, việc nghiên cứu, tìm ra
những hạn chế và kịp thời khắc phục những hạn chế đó sẽ làm tăng hiệu quả
của công tác thay sách nói riêng và chiến lược phát triển giáo dục nói chung,
góp phần vào sự nghiệp phát triển kinh tế quốc gia.
Qua một thời gian tìm hiểu dư luận xung quanh vấn đề thay đổi chương
trình sách giáo khoa, tôi đã nhận thấy một số hạn chế cơ bản sau:


của mâu thuẫn trên là do sách định nghĩa giá của vectơ-không. Để giải quyết
vấn đề trên theo tôi rất đơn giản, ta chỉ làm như sau:
● Chỉ định nghĩa giá của vectơ khác vectơ-không.
● Định nghĩa sự cùng phương của hai vectơ khác vectơ-không ( dựa trên
khái niệm giá của vectơ ).
● Sau đó qui ước: vectơ-không cùng phương với mọi vectơ.
Rõ ràng trình bày mục hai vectơ cùng phương như trên sẽ không dẫn
đến mâu thuẫn”. (Phan Gia Sinh – Hội An).[4]

Về vấn đề sai sót trong biên soạn và in ấn, Bộ Giáo dục cần có trách
nhiệm và kế hoạch đính chính một cách kịp thời nhằm đảm bảo cung cấp cho
học sinh một hệ thống kiến thức đầy đủ và chính xác.
- Việc chỉ xem sách giáo khoa như một loại tài liệu tham khảo của giáo
viên (Trước đây sách giáo khoa được xem là pháp lệnh) và “đẻ” ra một cái
gọi là “Chuẩn kiến thức bộ môn”. Điều này vừa giúp cho người giáo viên khi
lên lớp không còn phụ thuộc vào sách giáo khoa, có thể tự do sáng tạo bài dạy
của mình miễn sao đúng theo “Chuẩn kiến thức bộ môn” là được. Nói như
vậy thì “Chuẩn kiến thức bộ môn” này có gì khác so với cuốn sách giáo khoa
trước đây?... Rồi còn sách giáo viên, sách thiết kế bài giảng, sách bài tập,…
Như vậy, chúng ta thấy rằng nếu tập trung vào biên soạn 1 cuốn sách giáo
khoa hoàn hảo chắc chắn sẽ đạt chất lượng cao hơn và tiết kiệm ngân sách
hơn là sử dụng thêm cuốn “chuẩn kiến thức bộ môn”.
- Giá sách giáo khoa quá cao so với mức thu nhập bình quân của người
nghèo. Và vấn đề độc quyền xuất bản sách giáo khoa hiện nay của nhà xuất
bản Giáo dục. Đây là điều không tránh khỏi trong giai đoạn hiện nay nhưng
tôi thấy những ý kiến dưới đây cũng có thể đáng được xem xét và vận dụng:


“- Sách giáo khoa do Bộ Giáo dục soạn thảo cần được ấn vào

phải đó là tính phù hợp giữa kiến thức lý thuyết và thực tiễn có lẽ chưa được
quan tâm, chú ý đúng mức. Điều này gây ra không ít khó khăn cho học sinh
và cả giáo viên trong quá trình lên lớp.
Ví dụ: Bộ môn sinh học là một môn khoa học thực nghiệm, môn khoa
học nghiên cứu về các loài sinh vật, dạy học sinh học không thể tách rời thế
giới tự nhiên. Tuy nhiên trong quá trình biên soạn sách giáo khoa sinh học lại
mắc phải một số khiếm khuyết như: Sách giáo khoa Sinh học 7: Thời gian học
cấu tạo và mổ ếch đồng theo phân phối chương trình thì học sinh lớp 7 được
học vào đầu học kỳ II, tức là khoảng tháng 2, lúc này thật không dễ tìm kiếm
được vật mẫu hổ trợ cho công tác dạy và học vì đây là thời gian ếch đồng
đang ngủ đông – một tập tính vô cùng quan trọng của ếch đồng được đề cập
trong bài học. Hoặc những khiếm khuyết tương tự được tìm thấy trong sách
giáo khoa Sinh học 9, bài thực hành “Tập dượt thao tác giao phấn” với đối
tượng là lúa, bí ngô,… lại được học vào thời điểm cuối học kỳ I, khi mà các
loài cây này đã qua mùa ra hoa,… Tôi thiết nghĩ, khi biên soạn những nội
dung này, những người có trách nhiệm cần chú ý đến tính phù hợp giữa kiến
thức lý thuyết mà học sinh được học và thực tiễn khách quan của tự nhiên.
Trên đây là một số những hạn chế cơ bản của nội dung chương trình
sách giáo khoa mới, những hạn chế này không thuộc về bản chất của sự vật,
vì vậy, việc cần thiết nhất là phải khắc phục những hạn chế này để góp phần
nâng cao hiệu quả vốn có của chương trình mới.


PHẦN III: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ
I. Kết luận:
Vấn đề đổi mới chương trình sách giáo khoa là hoàn toàn phù hợp với
quy luật phát triển kinh tế, chính trị, xã hội ở trong nước cũng như trên thế
giới trong giai đoạn hiện nay. Đáp ứng được những tiêu chuẩn về một chương
trình có tính hệ thống, toàn diện và chính xác.
Sách giáo khoa mới đã đáp ứng được nhu cầu học tập của một bộ phận


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status