Nghiên Cứu Một Số Đặc Điểm Dịch Tễ Bệnh Do Giun Tròn Oesophagostomum Spp. Gây Ra Trên Lợn Tại Huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên Và Dùng Thuốc Điều Trị - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

-----------

-----------

LÊ VĂN CHIẾN

Tên đề tài:

“NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM DỊCH TỄ BỆNH
DO GIUN TRÒN OESOPHAGOSTOMUM SPP. GÂY RA
TRÊN LỢN TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN
VÀ DÙNG THUỐC ĐIỀU TRỊ”

KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành

: Chăn nuôi thú y

Khoa

: Chăn nuôi thú y

Lớp


Lê Văn Chiến


LỜI NÓI ĐẦU
Trước yêu cầu của thực tiễn sản xuất, thực tập tốt nghiệp là giai đoạn
vô cùng quan trọng đối với sinh viên trước khi ra trường, giúp cho sinh viên
tiếp cận được với thực tiễn, vận dụng được những kiến thức đã học vào trong
thực tế sản xuất, củng cố và nâng cao kiến thức cho mỗi sinh viên.
Vì vậy, thực tập tốt nghiệp là phần không thể thiếu trong chương trình
đào tạo của trường Đại học, giúp sinh viên nâng cao kiến thức chuyên môn
nghiệp vụ, nâng cao tay nghề, rèn luyện cho sinh viên tác phong làm việc,
chuẩn bị đầy đủ hành trang trước khi ra trường.
Được sự nhất trí của Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi thú y và sự giúp
đỡ tận tình của cô giáo ThS. Dương Thị Hồng Duyên, em đã tiến hành
nghiên cứu đề tài: "Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh do giun tròn
Oesophagostomum spp. gây ra trên lợn tại huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái
Nguyên và dùng thuốc điều trị”.
Trong thời gian thực tập em luôn tìm tòi học hỏi trau dồi kiến thức cho
mình. Song trình độ bản thân còn nhiều hạn chế, nên không thể tránh khỏi
những thiếu sót. Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các
thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp.
Thái Nguyên, tháng ….năm 2014
Sinh viên

Lê Văn Chiến


DANH MỤC CÁC BẢNG


Hình 4.4. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum spp. theo giống lợn ......... 38
Hình 4.5. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum spp. theo tháng ................ 40
Hình 4.6. Biểu đồ tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum spp. ở lợn ............................
theo phương thức nuôi ..................................................................... 42


MỤC LỤC
Phần 1: ĐẶT VẤN ĐỀ .................................................................................... 1
1.1. Tính cấp thiết của đề tài ......................................................................... 1
1.2. Mục đích nghiên cứu .............................................................................. 2
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài .................................. 2
1.3.1. Ý nghĩa khoa học ............................................................................ 2
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn ............................................................................. 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................. 3
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài ...................................................................... 3
1.1.1. Đặc điểm sinh học của Oesophagostomum .................................... 3
1.1.2. Bệnh Oesophagostomum spp. ở lợn................................................ 9
1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh Oesophagostomosis ở lợn ........................ 18
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.................................................. 18
1.2.2. Tình hình nghiên cứu trên thế giới................................................ 20
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, VẬT LIỆU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU ............................................................................................... 23
3.1. Đối tượng và vật liệu nghiên cứu ......................................................... 23
3.1.1. Đối tượng nghiên cứu ................................................................... 23
3.1.2. Vật liệu nghiên cứu ....................................................................... 23
3.2. Địa điểm và thời gian nghiên cứu ........................................................ 23
3.2.1. Địa điểm nghiên cứu ..................................................................... 23
3.2.2. Thời gian nghiên cứu .................................................................... 24
3.3. Nội dung nghiên cứu ............................................................................ 24
3.3.1. Nghiên cứu về tình hình nhiễm và triệu chứng bệnh giun kết hạt

4.3. Đề xuất biện pháp phòng chống bệnh Oesophagostomum spp. cho lợn. .. 47
Phần 5: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ............................................................. 49
5.1. Kết luận ................................................................................................ 49
5.2. Đề nghị ................................................................................................. 50
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 51


1

Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay chăn nuôi lợn vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong sự phát
triển kinh tế của nước ta, là nguồn cung cấp thực phẩm chủ yếu cho nhu cầu
trong nước và xuất khẩu. Chăn nuôi lợn tạo ra sản phẩm có tỷ trọng cao và
chất lượng tốt cho con người, là nguồn cung cấp phân bón rất lớn cho ngành
trồng trọt. Chăn nuôi lợn kết hợp với trồng trọt, thủy sản tạo nên mô hình
VAC mang lại hiệu quả kinh tế cao và có ý nghĩa lớn trong việc cải thiện môi
trường sinh thái.
Thái Nguyên là tỉnh có nghề chăn nuôi lợn khá phát triển. Trong những
năm qua, số lượng đàn lợn của tỉnh không ngừng tăng lên, nhiều trang trại
được xây dựng mới, người dân đầu tư cho con lợn và xem đó là nghề ổn định
của gia đình mình. Tuy nhiên thực tế cho thấy, ở nhiều địa phương, chăn nuôi
lợn còn gặp nhiều khó khăn, hiệu quả chăn nuôi còn thấp lợn chậm lớn, còi
cọc, tiêu chảy… Một trong những nguyên nhân gây nên tình trạng đó là bệnh
ký sinh trùng. Đây là bệnh kha phổ biến đối với gia súc, gia cầm. Bệnh gây ra
những thiệt hại đáng kể, làm giảm năng suất chăn nuôi, tạo điều kiện cho các
bệnh khác kế phát. Giun kết hạt (Oesophagostomum) là ký sinh trùng gây
bệnh cho nhiều loài động vật khác nhau trong đó có lợn. Giun trưởng thành
ký sinh ở xoang ruột, ấu trùng ký sinh ở thành ruột tạo nên những u kén ở ruột



3

Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Cơ sở khoa học của đề tài
1.1.1. Đặc điểm sinh học của Oesophagostomum
1.1.1.1. Vị trí của oesophagostomum trong hệ thống phân loại động vật học
Oesophagostomum dentatum và Oesophagostomum longicaudum thuộc
giống Oesophagostomum, là tác nhân gây ra bệnh Oesophagostomum
(Oesophagostomatosis) ở lợn.
Theo Skrjabin và cs. (1963) [30], Phan Thế Việt và cs. (1977) [27],
Oesophagostomum ở lợn có vị trí trong hệ thống phân loại động vật như sau:
Ngành Nemathelminthes Shneider, 1873
Phân ngành Nemathelmintha Shaneider và Schulz, 1940
Lớp Nematoda Rudolphi, 1808
Phân lớp Secerentea Chitwood, 1933
Bộ Rhabditida Chitwood, 1933
Phân bộ Strogylata Railliet, 1916
Họ Trichonematidae Cram, 1927
Phân họ Oesophagostomatinae Railliet et Henr, 1913
Giống Oesophagostomum Molin, 1861
Loài Oesophagostomum dentatum Rudolphi, 1803
Loài Oesophagostomum longicaudum Goodey, 1925
1.1.1.2. Đặc điểm hình thái và cấu tạo Oesophagostomum ký sinh ở lợn
Đề cập đến hình thái và cấu tạo Oesophagostomum spp., Skrjabin và cs.
(1963) [30] cho biết:
Loài O. dentatum: Dài từ 7 – 14 mm, đầu được giới hạn với thân rõ rệt
bởi ngăn bụng sâu. Bao miệng dài tới thực quản hình đinh ghim. Con đực có

(Goodey, 1925)
(Rudolphi, 1803)
1.
Đầu;
2.
Đuôi
của con cái;
1, 2. Phần đầu cơ thể; 3. Phần đuôi cá
3. Đuôi của con đực; 4. Phần cuối gai
thể cái; 4. Mút và gốc gai giao phối;
5. Cơ quan điều chỉnh; 6. Túi đuôi cá giao hợp; 5. Lái; 6. Nón sinh dục của
con đực
thể đực; 7. Nón sinh dục.

(Nguồn: Phan Thế Việt và cs. 1977) [27]

(Nguồn: Phan Thế Việt và cs. 1977) [27]


5

Hình 1.3. Giun O. dentatum
Hình 1.4. Trứng giun O. dentatum
(Nguồn: http://courseware_s/kcxxl)[39] (Nguồn:http://cal.vet.upenn.edu/projects)[40]
1.1.1.3. Vòng đời của Oesophagostomum spp. lợn
Hagsten (1999) [29] cho rằng: Thực chất của bất kỳ chương trình
khống chế giun sán nào thì việc phá vỡ vòng đời của chúng là cần thiết. Do
vậy, hiểu được chu kỳ (vòng đời) phát triển của giun sán có ý nghĩa rất quan
trọng trong việc phòng chống các bệnh giun sán nói chung và bệnh
Oesophagostomum spp. nói riêng.

nữa và phát triển thành giun trưởng thành. Thời gian hoàn thành vòng đời của
giun O. longicaudum là 50 ngày, giun O. dentatum là 32 – 43 ngày.
Phan Lục (2006) [18] cho biết: Ấu trùng O. dentatum khi vào ruột lợn
chui sâu vào niêm mạc ruột già và hình thành hạt (u kén), trong có ấu trùng.
Sau 23 ngày, ấu trùng chui ra khỏi kén, vào xoang ruột và phát triển thành
giun trưởng thành sau 1,5 – 2 tháng. Tuổi thọ của giun từ 8 – 10 tháng.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [12]: Giun trưởng thành ký sinh trong
ruột già lợn, đẻ trứng, trứng theo phân ra ngoài môi trường. Trứng gặp điều
kiện nhiệt độ 25 - 27oC, sau 10 - 17 giờ nở thành ấu trùng. Ấu trùng I sau 24
giờ, ở nhiệt độ 22 - 24oC phát dục thành ấu trùng II, dài 0,44 – 0,64 mm. Ấu
trùng II phát triển được hai ngày thì thành ấu trùng gây nhiễm III. Ấu trùng này
lẫn trong thức ăn, nước uống vào cơ thể ký chủ. Khi tới ruột, ấu trùng chui sâu
vào niêm mạc ruột tạo thành những u kén và phát triển thành giun trưởng
thành ở ruột già.


7

Vòng đời Oesophagostomum spp. có thể biểu diễn bằng sơ đồ sau:
Oesophagostomum spp.
. trưởng thành

Phân

Trứng

25 – 270C

Ấu trùng


Oesophagostomum spp. ở ngoại cảnh có ý nghĩa quan trọng trong dịch tễ học
bệnh Oesophagostomum spp. lợn, đồng thời là cơ sở khoa học đề ra những
biện pháp phòng trị bệnh Oesophagostomum spp. cho lợn.
Theo Skrjabin và cs. (1963) [30]: Ở nhiệt độ thích hợp (300C), trong
trứng ấu trùng phát triển rất nhanh, chỉ qua 16 - 18 giờ nở ra và vào môi
trường bên ngoài. Ở nhiệt độ cao 45 – 500C trứng bị chết, còn ở nhiệt độ thấp
3oC trứng không phát triển.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7] cho biết: Ở nhiệt độ 5 – 90C
trứng ngừng phát triển, nhiệt độ 350C trứng bị chết. Gặp điều kiện thích hợp
trứng phát triển thành ấu trùng gây nhiễm sau trên dưới một tuần.
Archie Hunter (2000) [28] nhận xét: Sự phát triển, khả năng sống sót
của trứng và ấu trùng cảm nhiễm ở môi trường trước hết phụ thuộc vào khí
hậu. Gặp nhiệt độ và ẩm độ thích hợp, sau 5 - 6 ngày trứng phát triển thành ấu
trùng cảm nhiễm. Khi nhiệt độ thấp trứng giun nở và phát triển chậm hơn.


8

Thí nghiệm ủ xilô phân lợn có nhiễm trứng giun đũa, trứng
Oesophagostomum spp. và ấu trùng cảm nhiễm L3 của Oesophagostomum
spp.; kiểm tra sau 7, 14, 28, 56 ngày ủ, kết quả cho thấy: Trứng giun đũa
không bị tiêu diệt, mặc dù khả năng sống suy giảm; trứng Oesophagostomum
spp. và ấu trùng cảm nhiễm L3 bị phá huỷ trong 7 - 14 ngày đầu của quá trình
ủ xilô. (Caballero-Hernádez A. I. và cs. 2004 [31]).
Theo Phan Địch Lân và cs. (2002) [14], Phan Lục (2006) [18], Phạm
Sỹ Lăng và cs. (2009) [13]: trứng Oesophagostomum spp. theo phân ra
ngoài môi trường, gặp điều kiện nhiệt độ 25 – 270C, sau 10 – 17 giờ nở
thành ấu trùng.
1.1.1.5. Khả năng sống của ấu trùng cảm nhiễm (L3) ở ngoại cảnh
Theo Oparin P. G. (1958): Ấu trùng gây nhiễm của Oesophagostomum

Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [13] cho biết: Ấu trùng có sức đề kháng
tốt với nhiệt độ thấp, để ở -190C đến -290C qua 10 ngày ấu trùng vẫn sống; để
ở nhiệt độ phòng bình thường ấu trùng có thể sống một năm.
1.1.2. Bệnh Oesophagostomum spp. ở lợn
1.1.2.1. Đặc điểm dịch tễ học bệnh Oesophagostomum
Theo Trịnh Văn Thịnh (1963) [22], Phan Thế Việt (1977) [27], Bùi Lập
(1979) [15], Phạm Văn Khuê (1982) [6], Nguyễn Đăng Khải (1996) [4], Vũ
Tứ Mỹ (1999) [20], Phan Lục (2006) [18], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [13]:
Bệnh do Oesophagostomum spp. gây ra là một trong các bệnh giun tròn phổ
biến gây hại cho lợn, phân bố rộng trên toàn thế giới. Ở Việt Nam, bệnh có ở
tất cả các vùng sinh thái từ Bắc đến Nam.
Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7] cho biết, tỷ lệ nhiễm
Oesophagostomum spp. theo tuổi lợn như sau:
Lợn < 2 tháng tuổi: 46,9%
Lợn 3 - 4 tháng tuổi: 67,4%
Lợn 5 - 6 tháng tuổi: 72,1%
Lợn > 8 tháng tuổi: 73,3%


10

Lợn con có tỷ lệ nhiễm Oesophagostomum spp. thấp và cường độ nhiễm
nhẹ, ở lợn con bị nhiễm bệnh không có nhiều u kén ở ruột. Ở lợn lớn tỷ lệ nhiễm
cao và cường độ nhiễm nặng. Khi lợn lớn bị bệnh có rất nhiều u kén ở ruột.
Phan Lục và cs. (2000) [17] nhận xét: Lợn nuôi thả rông nhiễm hầu hết
các loại ký sinh trùng. Đối với lợn nuôi nhốt, gần như rất ít nhiễm những ký
sinh trùng có vật chủ trung gian. Loài giun Oesophagostomum spp. có thể
hoàn thành vòng đời ngay trong chuồng đối với lợn nuôi nhốt, nhưng khả
năng này phụ thuộc trực tiếp vào mức độ vệ sinh sạch sẽ của chuồng trại.
Tác giả cho biết, giun tròn Oesophagostomum spp. có nhiều ở lợn trưởng

tiết mạnh hơn so với chất độc của ký sinh trùng trưởng thành.
- Tác động truyền bệnh: Một số loài chân đốt đốt súc vật, làm con vật
khó chịu, có thể bị viêm da nhưng điều này không nguy hiểm. Điều nguy
hiểm là khi hút máu ký chủ, chúng truyền những bệnh có thể thành dịch lưu
hành giết hại nhiều súc vật.
Skrjabin và cs. (1963) [30] đã mô tả chi tiết cơ chế sinh bệnh của
Oesophagostomum spp. như sau:
Bệnh lý do Oesophagostomum spp. phụ thuộc trực tiếp vào giai đoạn
phát triển của ký sinh vật. Ở giai đoạn ấu trùng, Oesophagostomum spp. là
nguyên nhân gây “bệnh hạt ruột”, còn giai đoạn trưởng thành, chúng gây ra
bệnh Oesophagostomum spp. (Oesophagostomatosis) đường ruột. Nếu như
gia súc tái nhiễm bệnh này thì ở gia súc đó cùng một lúc thấy có cả giai đoạn
hạt và giai đoạn giun trưởng thành ở ruột.
Giai đoạn hạt được coi là giai đoạn bệnh nguy hiểm hơn cả. Sau khi ấu
trùng được nuốt cùng với thức ăn và nước uống vào ruột, chúng nhanh chóng
chui sâu vào niêm mạc, tới hạ niêm mạc. Ở chỗ ấu trùng chui vào tạo thành
những hạt mà mắt thường có thể nhìn thấy được. Niêm mạc ở chỗ này sưng,
sung huyết, trên mặt có những hạt nhỏ, chính giữa có nhân màu vàng. Trong
các hạt, ấu trùng hoặc ở trạng thái tự do (chui vào chưa được bao lâu), hoặc
trong những kén (già hơn); những hạt này có thể ăn sâu vào lớp cơ của ruột.
Qua thời gian nhất định, ấu trùng từ hạt chui vào ruột. Sau khi ấu trùng chui
ra khỏi hạt, ở chỗ chúng cư trú tạo thành những chấm sẹo.


12

Trong thời gian phát triển hạt, ở thành ruột xuất hiện triệu chứng bệnh
(cơn đau do loét). Cùng với sự thối rữa các hạt (vào ngày thứ 7 sau khi cảm
nhiễm), ấu trùng chui ra khỏi hạt để vào ruột, lợn bị đau ở vùng bụng, gầy
còm, bỏ ăn, ỉa chảy. Nếu có số lượng lớn ấu trùng ra khỏi kén thì đôi khi lợn

1996 [38]).
Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs. (1999) [7], Phan Lục (2006) [18], Chu
Thị Thơm và cs. (2006) [25], Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [13], lợn bị bệnh
Oesophagostomum spp. thể hiện hai giai đoạn:
- Giai đoạn ấu trùng chui vào niêm mạc ruột gây triệu chứng cấp tính: ỉa
chảy, phân có chất nhầy, đôi khi có máu tươi, có một số ít con nhiệt độ tăng
cao, bỏ ăn, gầy còm, thiếu máu, niêm mạc nhợt nhạt, ỉa chảy kéo dài làm con
vật gầy dần rồi chết.
- Giai đoạn giun trưởng thành gây triệu chứng mạn tính, có từng thời kỳ
con vật kiết lị, chậm lớn, gầy còm. Các triệu chứng khác không rõ lắm.
* Bệnh tích
Skrjabin và cs. (1963) [30] đã gây nhiễm thực nghiệm cho lợn ấu trùng
cảm nhiễm O. longicaudum, thấy có sự tạo thành các hạt ký sinh trong thành
ruột sau 2 ngày nhiễm bệnh. Sau 17 ngày, đa số ấu trùng chui ra khỏi hạt và
vào ruột ở giai đoạn phát triển thứ tư. Sau 35 ngày cảm nhiễm, thấy có hiện
tượng mất các hạt, ở chỗ hạt chỉ thấy mô niêm mạc ruột dày lên. Giun O.
longicaudum đạt đến giai đoạn trưởng thành sau 50 ngày cảm nhiễm.
Miaxnikova (1946) khi nghiên cứu gây nhiễm thực nghiệm cho lợn con
bằng ấu trùng O. dentatum đã cho biết, sự tạo thành các hạt ký sinh trong
thành ruột xảy ra vào 2 ngày sau khi cảm nhiễm. Đến ngày thứ 20, những ấu
trùng này ra khỏi hạt và vào ruột, ở đây chúng phát triển thành giun trưởng
thành vào ngày thứ 43 (dẫn theo Skrjabin và cs. 1963 [30]).
Theo Phan Lục (2006) [18], Chu Thị Thơm và cs. (2006) [25]: ở ruột có
những u kén nhỏ bằng đầu đinh ghim hay hạt đậu, có điểm màu vàng, bên
trong có ấu trùng giun. Kết tràng thường bị viêm và đôi khi thấy vài nghìn u
kén ở ruột. Có khi u kén bị hoại tử, bên trong có mủ. Có những u kén đã
thành chấm sẹo. Niêm mạc ruột già sung huyết, xuất huyết, trong xoang ruột
có nhiều Oesophagostomum spp. trưởng thành.



thành những tế bào riêng biệt.
3. Trichostrongylus; 4. Ostertagia;
5. Chabertia; 6. O.columbianum;
(Nguyễn Thị Kim Lan và cs. 2008) [9].
7. O.venulosum; 8. Bunostomum;
9. Nematodirus


15

- Mổ khám kiểm tra bệnh tích, quan sát các u kén ở ruột già và tìm giun
trưởng thành ký sinh trong xoang ruột.
1.1.2.5. Phòng, trị bệnh Oesophagostomosis cho lợn
* Biện pháp phòng bệnh
Theo quan điểm của Skrjabin (1963) [30], muốn thanh toán bệnh giun
sán phải phòng bệnh có tính chất chủ động. Dùng tất cả mọi phương pháp vật
lý (ánh sáng, nhiệt độ), cơ giới, hoá học, sinh vật học... để tiêu diệt giun sán
trên cơ thể ký chủ, ở ngoại cảnh, ở tất cả các giai đoạn phát dục (trứng, ấu
trùng, giun sán trưởng thành).
Phạm Hữu Doanh và cs. (1995) [2] cho biết: Lợn rất mẫn cảm với bệnh
ký sinh trùng, vì vậy chỉ cho lợn ăn rau bèo khi đã rửa sạch sẽ và định kỳ tẩy
giun sán bằng các thuốc đặc hiệu. Thức ăn, nước uống phải luôn luôn sạch.
Biện pháp hữu hiệu để phòng chống bệnh giun sán ở gia súc là biện pháp
phòng trừ bệnh tổng hợp, nghĩa là ở những vùng sinh thái nhất định, đồng
thời sử dụng nhiều biện pháp có hiệu quả đối với tất cả các giai đoạn phát
triển của giun sán, ở môi trường cũng như trong cơ thể vật chủ (Nguyễn Thị
Lê và cs. 1996) [16].
Theo Phạm Văn Khuê và cs. (1996) [5], biện pháp phòng bệnh tổng hợp
đối với các bệnh giun tròn nói chung ở lợn gồm:
- Diệt căn bệnh trong cơ thể lợn: Định kỳ tẩy giun cho lợn. Mỗi năm tẩy

nhiệt sinh học.
- Chống giai đoạn thứ ba và thứ tư: Diệt phôi thai và ấu trùng tự do
ngoài thiên nhiên bằng hai cách: diệt toàn bộ phôi thai và ấu trùng ngoài đồng
cỏ và ao tù bằng vôi bột, sunfat sắt, sunfat đồng với lượng dùng 400 kg cho 1
ha đồng cỏ, 5 kg cho 100 m3 nước ao. Không cho phôi thai hay ấu trùng xâm
nhập vào cơ thể ký chủ (cách ly súc vật ốm, tiêu độc dụng cụ và chuồng nuôi,
vệ sinh thức ăn, nước uống, diệt ký chủ trung gian).
Theo tác giả, cần thực hiện các biện pháp phòng trừ tổng hợp để phòng
bệnh Oesophagostomum như: Định kỳ tẩy trừ giun, phân gia súc phải ủ để


17

diệt trùng, giữ vệ sinh thức ăn, nước uống. Nếu cơ sở chăn nuôi có bệnh thì
cần cho gia súc uống thuốc phòng bệnh. Uống liên tục liều nhỏ Phenothiazin
có thể hạn chế Oesophagostomum đẻ trứng.
Phan Lục (2006) [18], Chu Thị Thơm và cs. (2006) [25] cho biết: Để
phòng bệnh Oesophagostomum spp. phải thường xuyên vệ sinh chuồng trại,
dụng cụ chăn nuôi. Phân, rác ủ đúng kỹ thuật để diệt trứng giun. Định kỳ tẩy
giun. Tăng cường chăm sóc, nuôi dưỡng để gia súc có sức đề kháng cao với
bệnh tật.
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [13], để phòng bệnh Oesophagostomum spp.
cho lợn, cần áp dụng các biện pháp như: tẩy giun định kỳ 3 – 4 lần/năm cho
đàn lợn bằng một trong các thuốc Levamisole, Ivermectin, Phenothiazin; giữ
vệ sinh chuồng trại và môi trường; ủ phân diệt trứng giun.
* Biện pháp trị bệnh
Nguyễn Thị Kim Lan (2012) [11] cho biết: chữa bệnh ký sinh trùng phải
đạt được 3 yêu cầu:
- Trước hết phải tiêu diệt ký sinh trùng, dùng thuốc tẩy trùng cho vật
nuôi. Phải dùng thuốc hướng ký sinh trùng, tức là độc với nó và không độc

tẩy giun tròn. Thuốc có tác dụng rộng, diệt cả ấu trùng và giun trưởng thành
thông qua sự ức chế, sự hấp thu Glucoza, Glucozen, giảm ATP và gây liệt các
hệ cơ của ký sinh trùng. Liều dùng cho lợn là 2 gam/10 kg TT.
Phạm Sỹ Lăng và cs. (2009) [13] cho biết, có thể điều trị bệnh
Oesophagostomum spp. lợn bằng một trong các loại hoá dược đặc hiệu sau:
Levamisole: dùng liều 12 – 15 mg/ kg TT, cho uống hoặc tiêm.
Phenothiazin: dùng liều 0,2 – 0,3 g/ kg TT, cho uống 2 lần vào hai buổi sáng.
Ivermectin: dùng liều 0,2 mg/ kg TT, tiêm thuốc cho lợn 2 lần với liều
trên, cách nhau 1 ngày.
1.2. Tình hình nghiên cứu bệnh Oesophagostomosis ở lợn
1.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước
Theo Trịnh Văn Thịnh (1978) [23], lợn nhiễm các loài giun tròn nặng nhất



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status