Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên, em xin chân thành cảm ơn cô Võ Hưng Minh Hiền, người đã tận tình
hướng dẫn, chỉ bảo, giúp đỡ em trong quá trình viết đề tài báo cáo thực tập tốt
nghiệp. Đồng thời em cũng chân thành cảm ơn đến các cán bộ Tòa án nhân dân
Huyện Đức Phổ, tỉnh Quảng Ngãi đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt thời
gian thực tập cũng như hoàn thành bài báo cáo tốt nghiệp. Nhờ vậy, em đã hiểu sâu
hơn về lý thuyết, so sánh được sự giống khác nhau giữa lý luận và thực tiễn nhằm bổ
sung kiến thức đã học trên ghế nhà trường.
Em xin chân thành cảm ơn!
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
i
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
ii
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2.2.1 Nguyên tắc giải quyết tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn .................. 13
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ... 16
PHẨN 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC PHỔ .................................................................................................. 20
3.1 Tổng quan tình hình tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn tại
Huyện Đức Phổ ...................................................................................................... 20
3.2 Thực tiễn giải quyết tranh chấp tại Tòa án nhân dân Huyện Đức Phổ ............ 21
3.2.1 Giải quyết tranh chấp trường hợp tòa án không công nhận hôn nhân ...... 21
3.2.2 Giải quyết tranh chấp chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn ........... 22
3.3 Vướng mắc giải quyết tranh chấp chia tài sản chung vợ chồng. .................... 24
PHẦN 4: KIẾN NGHỊ .............................................................................................. 27
PHẦN 5: KẾT LUẬN ............................................................................................... 30
PHỤ LỤC: GIỚI THIỆU VỀ CƠ QUAN THỰC TẬP ............................................ 31
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .................................................................. 34
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
iv
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
PHẦN 1 : MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài nghiên cứu
Luật HNGĐ luôn có các quy định nhằm đảm bảo quyền và lợi ích của vợ chồng
khi kết hôn và dự liệu cả những vấn đề xảy ra khi mục đích hôn nhân không thể thực
hiện được.
Hôn nhân thường xuất phát từ tình yêu của nam nữ, họ tiến tới hôn nhân với
mong muốn cùng nhau xây dựng gia đình.Tuy vậy, trong cuộc sống gia đình, vợ
- Qua đó đề xuất những kiến nghị nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
đương sự trong tranh chấp tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.
1.3 Phạm vi nghiên cứu
-Nghiên cứu về thực tiễn áp dụng, nghiên cứu tranh chấp về tài sản chung của vợ
chồng trong các vụ án ly hôn tại Tòa án nhân dân Huyện Đức Phổ, Tỉnh Quảng
Ngãi.
1.4 Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện nghiên cứu, tôi sử dụng các phương pháp so sánh, thu thập thông tin,
thống kê, phân tích, tổng hợp.
1.5 Kết cấu chuyên đề:
PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1 Lý do chọn đề tài
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.3 Phạm vi nghiên cứu
1.4 Phương pháp nghiên cứu
PHẦN 2: QUAN HỆ TÀI SẢN CỦA VỢ CHỒNG
2.1 Quan hệ tài sản của vợ chồng
2.2 Giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.2.1 Nguyên tắc giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
2.2.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
2
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
Sở hữu chung hợp nhất là sở hữu chung mà trong đó phần quyền sở hữu của mỗi
chủ sở hữu không được xác định cụ thể đối với tài sản.
Thời kì hôn nhân là khoảng thời gian tồn tại quan hệ vợ chồng, được tính từ ngày
ĐKKH đến ngày chấm dứt hôn nhân( Khoản 13 Điều 3 Luật HNGĐ 2014). Những
tài sản do vợ chồng tạo ra trong thời gian này đều là tài sản chung ( trừ trường hợp
tài sản riêng của vợ chồng). Bởi căn cứ để xác định tài sản chung là sự ra đời và tồn
tại của quan hệ vợ chồng. Mà quan hệ vợ chồng được xác lập kể từ thời điểm
ĐKKH; lúc này mới có mục đích vì cuộc sống gia đình mà phát triển kinh tế gia
đình, mới có nhu cầu sử dụng khối tài sản chung, từ đó tài sản chung mới hình
thành.
Tài sản chung của vợ chồng được xác định dựa vào hai dấu hiệu là nguồn gốc
hình thành tài sản và thời kì hôn nhân. Theo Điều 33 Luật HNGĐ 2014 thì tài sản
chung bao gồm các loại tài sản:
Thứ nhất, tài sản do vợ, chồng tạo ra. Đây là tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra
dựa vào trình độ chuyên môn, sức lao động của mình hoặc thuê người khác tạo tài
sản thông qua các hợp đồng lao động. Cụ thể như vợ chồng cùng bỏ ra một số tiền
nhất định để thuê người khác xây nhà cho vợ chồng ở.
Thứ hai, tài sản thu nhập được do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh.
Thu nhập này bao gồm những giá trị vật chất mà vợ chồng có được dựa vào công
việc, trình độ, nghề nghiệp để hưởng thành quả.Ví dụ như tiền lương, tiền công và
các lợi nhuận do tham gia kinh doanh mang lại.
Thứ ba, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng.1
Hoa lợi phát sinh từ tài sản riêng của vợ, chồng là sản vật tự nhiên mà vợ chồng
có được từ tài sản riêng của mình( Khoản 1 Điều 10 Nghị định số 126/2014/NĐ-
1
“Tài sản riêng của vợ chồng”, được dowload tại địa chỉ ngày 04/04/2016
tắc suy đoán. Bởi trong thời kì hôn nhân, có thể vì nhu cầu của gia đình hoặc vì để
nâng cao chất lượng cuộc sống gia đình mà vợ hoặc chồng đưa tài sản riêng vào sử
dụng, sau đó không thể nào tách bạch được đâu là tài sản chung, tài sản riêng. Bởi
vậy, Luật HNGĐ 2014 đã quy định một nguyên tắc làm cơ sở để có thể xác định tài
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
5
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
sản chung, tạo điều kiện thuận lợi khi giải quyết tranh chấp về tài sản, đảm bảo cân
bằng được quyền lợi các bên.
Thứ bảy, tài sản vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung trong
thời kì hôn nhân. Đây là tài sản này được định đoạt dựa trên ý chí của người khác,
không căn cứ vào công sức lao động của hai vợ chồng. Do đó, tài sản này mặc nhiên
trở thành tài sản chung của vợ chồng theo hợp đồng tặng cho, hoặc theo quy định
của pháp luật về thừa kế.
Thứ tám, tài sản mà vợ chồng tự thỏa thuận là tài sản chung. Đây là quy định
mang tính mềm dẻo, đề cao sự tự thỏa thuận của vợ chồng khi bước vào cuộc sống
hôn nhân. Đứng trước các nhu cầu của cuộc sống, để có thể phát triền kinh tế gia
đình, vợ chồng có thể tự thỏa thuận, tự nguyện gia nhập tài sản riêng của mình khối
tài sản chung.
2.1.2 Xác lập chế độ tài sản của vợ chồng:
Chế độ tài sản của vợ chồng là tổng hợp các quy phạm điều chỉnh về tài sản của
vợ chồng. Theo Luật HNGĐ 2014 thì vợ chồng có quyền lựa chọn xác lập chế độ tài
sản theo thỏa thuận hoặc chế độ tài sản theo luật định.
i.
của vợ chồng từ việc chia tài sản đó( Điều 48 Luật HNGĐ 2014). Nội dung thỏa
thuận phải quy định rõ ràng vì ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích của gia đình, quyền
lợi của mỗi bên vợ chồng, hạn chế những xung đột về tài sản nếu ly hôn.
-Về thời điểm xác lập: thỏa thuận phải được lập trước khi kết hôn( Điều 47
Luật HNGĐ 2014). Quy định này nhằm bảo vệ tài sản riêng của từng cá nhân, củng
cố quan hệ vợ chồng bởi khi hai bên hiểu rõ ý kiến của nhau về tiền bạc, tài sản sẽ
giúp cuộc hôn nhân lâu bền hơn; thỏa thuận cũng như lời cam kết của hai bên trong
việc đảm bảo một hôn nhân thực sự3.
-Về sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận: trong thời kì hôn nhân, vợ chồng có
quyền sửa đổi, bổ sung một phần hoặc toàn bộ nội dung nội dung của thỏa thuận
(Khoản 2 Điều 17 Nghị định số 126/2014/NĐ-CP). Bởi trong thời kì hôn nhân, hoàn
cảnh sống, thu nhập, điều kiện gia đình có nhiều biến đổi thì việc thay đổi chế độ tài
sản đã thỏa thuận ban đầu là cần thiết, phù hợp với thực tế cuộc sống hiện tại. Việc
sửa đổi, bổ sung nội dung thỏa thuận phải được công chứng hoặc chứng thực.
3
Hồng Thúy( Tháng 4/2013), “Thỏa thuận về tài sản trước khi kết hôn: Phụ nữ sẽ được lợi”, “Nghiên cứu
trao đổi”, được dowload tại ngày 14/05/2016
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
7
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
-Về trường hợp thỏa thuận bị vô hiệu: pháp luật có hệ thống những quy định
mà nếu thỏa thuận thuộc các trường hợp đó thì sẽ vô hiệu( được quy định cụ thể tại
Điều 50 Luật HNGĐ 2014). Quy định này mang tính chất cơ sở, dùng để sàng lọc.
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
là tài sản riêng thì đó là tài sản chung. Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể nhằm tránh
trường hợp vợ hoặc chồng khi ly hôn dựa vào sự đứng tên trên giấy chứng nhận
quyền sử dụng đất để khẳng định tài sản đó là tài sản riêng; đồng thời cũng đảm bảo
quyền sở hữu của vợ chồng đối với những tài sản có giá trị lớn như bất động sản,
tránh trường hợp vợ hoặc chồng tự mình thực hiện các giao dịch gây ảnh hưởng đến
quyền lợi của người kia.
Ngoài ra, vợ chồng còn được quyền chia tài sản chung trong thời kì hôn nhân
nhưng phải tuân theo những quy định nhất định( Điều 42 Luật HNGĐ 2014); quyền
chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ, chồng chết( Điều 66 Luật HNGĐ 2014);
quyền chia tài sản chung của vợ chồng khi vợ chồng ly hôn( Điều 59 Luật HNGĐ
2014).
Đối với tài sản riêng của vợ chồng:
Theo pháp luật về hôn nhân và gia đình quy định, tài sản riêng của vợ chồng là tài
sản mà mỗi người có được trước khi kết hôn, tài sản được thừa kế riêng, được tặng
cho riêng trong thời kì hôn nhân; tài sản phục vụ nhu cầu thiết yếu của vợ chồng và
tài sản khác theo quy định của pháp luật thuộc sở hữu riêng của vợ chồng (Khoản 1
Điều 41 Luật HNGĐ 2014).Vợ chồng có quyền nhập hoặc không nhập tài sản riêng
vào tài sản chung, tùy thuộc vào ý chí và mong muốn của vợ chồng.
Về nghĩa vụ riêng về tài sản của vợ chồng được quy định tại Điều 45 Luật HNGĐ
2014. Quy định này nhằm tránh trường hợp vợ hoặc chồng vì mục đích cá nhân mà
sử dụng tài sản chung để thực hiện nghĩa vụ về tài sản của riêng mình.
Chế độ tài sản được xác lập theo quy định của pháp luật quy định rất rõ về chế
độ sở hữu tài sản chung và tài sản riêng. Vợ chồng không thể thỏa thuận với nhau để
thay đổi về quyền sở hữu tài sản cũng như các quyền và nghĩa vụ liên quan đến tài
sản của vợ chồng theo chế độ này.
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
4
Nguyễn Văn Cừ và các tác giả (2008), Giáo trình Luật Hôn nhân và Gia đình Việt Nam, Nxb. Công an nhân
dân, Hà Nội .
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
10
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
Vợ chồng có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chiếm hữu, sử dụng, định
đoạt tài sản chung (theo Khoản 1 Điều 29 Luật HNGĐ 2014). Như vậy, về nguyên
tắc, vợ chồng bình đẳng với nhau trong việc xây dựng, duy trì và phát triển khối tài
sản chung. Đồng thời với tư cách là đồng sở hữu, vợ chồng bình đẳng với nhau về
quyền sở hữu tài sản chung. Pháp luật quy định quyền và nghĩa vụ bình đẳng của vợ
chồng đối với tài sản chung là nhằm bảo vệ khối tài sản, tránh hành vi hủy hoại tài
sản chung. Theo Khoản 1 Điều 37 Luật HNGĐ 2014, đối với các nghĩa vụ phát sinh
trong việc sử dụng, định đoạt tài sản chung thì vợ chồng phải đồng thời chịu trách
nhiệm. Việc xác lập các giao dịch liên quan đến tài sản chung phải có sự đồng ý của
vợ chồng, khi hai bên cùng đồng ý thực hiện giao dịch thì bắt buộc phải có trách
nhiệm đối với giao dịch đó.
Vợ hoặc chồng được quyền tự mình xác lập thực hiện các giao dịch liên quan đến
tài sản chung để đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, mà không cần hỏi ý kiến
của người còn lại đối với những tài sản có giá trị nhỏ( trừ trường hợp tài sản là bất
động sản, động sản phải đăng ký quyền sở hữu, tài sản đang là nguồn tạo ra thu nhập
chủ yếu của gia đình theo Khoản 1 Điều 13 Nghị định 126/2014/NĐ-CP).Vì giao
dịch dân sự đó nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình nên vợ chồng phải
cùng chịu trách nhiệm liên đới(Khoản 2 Điều 37 Luật HNGĐ 2014). Quy định này
nghĩa vụ riêng thì vợ hoặc chồng sử dụng khối tài sản riêng để chi trả bởi đây là
hành vi giao dịch dân sự của cá nhân, xuất phát từ lợi ích cá nhân nên vợ hoặc chồng
phải tự chịu trách nhiệm về hành vi, giao dịch bằng chính tài sản của mình.
Luật HNGĐ 2014 quy định cụ thể các nghĩa vụ chung của vợ chồng là một điểm
khác biệt, một điểm tiến bộ so với Luật HNGĐ 2000. Luật “cũ” chỉ quy định rằng
vợ chồng có nghĩa vụ chung mà không quy định cụ thể, rõ ràng. Luật “mới” đã quy
định hẳn một Điều luật về các nghĩa vụ chung (Điều 37 Luật HNGĐ 2014). Như
vậy, Luật “mới” đã khắt khe hơn trong việc bắt buộc chịu trách nhiệm với nghĩa vụ
chung cho gia đình, tránh trường hợp trốn tránh nghĩa vụ chung của vợ hoặc chồng.
Thứ ba, quyền thừa kế tài sản
Theo Khoản 2 Điều 66 Luật HNGĐ 2014 thì trong trường hợp một bên vợ, chồng
chết hoặc được tòa án tuyên bố là đã chết, nếu có yêu cầu chia di sản thì tài sản riêng
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
12
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
được chia theo pháp luật về thừa kế. Theo đó,vì vợ hoặc chồng thuộc hàng thừa kế
thứ nhất, nên người vợ hoặc chồng còn sống được thừa kế tài sản từ người đã mất.
Quy định này nhằm bảo vệ quyền lợi của người còn sống, đảm bảo duy trì được sự
ổn định của sinh hoạt bình thường trong gia đình khi mất đi một người tạo thu nhập
trong gia đình.
2.2 Giải quyết tài sản của vợ chồng khi ly hôn
Khi ly hôn, vợ chồng chấm dứt quan hệ hôn nhân, chấm dứt chế độ tài sản chung
kể từ thời điểm ly hôn. Trong việc giải quyết hậu quả pháp lý của ly hôn, thì vấn đề
chia tài sản là điều cần thiết đảm bảo cuộc sống của mỗi bên sau này. Bởi có mâu
thuẫn mới ly hôn, đôi bên khó mà thỏa thuận được các vấn đề liên quan đến quyền
- Trường hợp không có văn bản thỏa thuận hoặc có văn bản thỏa thuận
nhưng bị vô hiệu thì tòa án sẽ áp dụng các quy định của pháp luật để chia tài sản.
Nguyên tắc hai: nguyên tắc chia đôi tài sản chung
Theo Khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, trường hợp áp dụng chế độ tài sản theo
luật định để chia tài sản chung thì về nguyên tắc, tài sản chung được chia đôi. Vì bản
chất của tài sản chung là sở hữu chung hợp nhất, là kết quả đóng góp của các thành
viên vào việc tạo lập và duy trì khối tài sản chung.
Tuy nhiên, tòa án khi xử lý tài sản chung thì việc chia đôi tài sản chung phải tính
đến nhiều yếu tố khác nhau theo quy định của pháp luật để có thể giải quyết một
cách hợp tình hợp lý, một cách khách quan nhất.
Nguyên tắc ba: tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật hoặc theo
giá trị
Theo nguyên tắc này, những tài sản chia được theo hiện vật thì chia theo hiện vật,
còn không chia được theo hiện vật thì được định giá để xác định giá trị, sau đó thanh
toán bằng tiền(Khoản 3 Điều 59 Luật HNGĐ 2014).
Trường hợp tài sản không chia đuợc bằng hiện vật, Tòa án căn cứ vào nhu cầu sử
dụng để quyết định giao hiện vật cho ai và người không được giao hiện vật sẽ được
thanh toán giá trị tài sản mà mình được hưởng. Bởi vậy nên tùy trường hợp cụ thể,
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
14
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
tòa án áp dụng chia tài sản theo hiện vật hay theo giá trị một cách linh hoạt. Quy
định này tạo nên sự hợp lí cũng như đáp ứng được nhu cầu các bên đương sự.
Nguyên tắc bốn: tài sản riêng của ai thì thuộc sở hữu của người đó
Theo quy định tại Khoản 4 Điều 59 Luật HNGĐ 2014, tài sản riêng của vợ chồng
vẫn thuộc quyền sỡ hữu riêng của vợ, chồng. Đó là tài sản cá nhân, thuộc sở hữu
2.2.2. Các yếu tố ảnh hƣởng đến chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn
Như đã trình bày ở trên, tài sản chung về nguyên tắc chia đôi song phải xét đến
nhiều yếu tố khác nhau. Tại Khoản 2 Điều 59 Luật HNGĐ 2014 có đưa ra các yếu tố
sẽ ảnh hưởng đến phán quyết của tòa án trong việc áp dụng nguyên tắc chia đôi tài
sản. Đó là:
Một là, hoàn cảnh của gia đình và của vợ, của chồng
Nếu sau ly hôn mà khả năng tạo ra thu nhập của vợ hoặc chồng không đủ để duy trì
cuộc sống bình thường thì tòa án sẽ xem xét cho bên gặp khó khăn hơn. Tuy nhiên
việc xem xét này phải phù hợp với hoàn cảnh, tình hình thực tế của gia đình.
Hai là, công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập và duy trì khối tài sản
chung, nghĩa là sự đóng góp về tài sản riêng, về thu nhập trong việc tạo lập và duy
trì tài sản chung. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn vào việc tạo lập, duy trì khối
tài sản chung sẽ được chia nhiều hơn. Ở đây, nhà làm luật xét đến mức độ đóng góp
( đóng góp về tài chính hoặc công sức lao động trong gia đình) chứ không phải xét
đến việc ai làm ra nhiều tài sản hơn ở gia đình trong việc phân chia tài sản.
Ba là, bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh. Tòa
án căn cứ vào đặc điểm nghề nghiệp, đảm bảo cho vợ chồng đang hoạt động sản
xuất kinh doanh vẫn được tiếp tục làm việc bình thường.
Ví dụ như vợ chồng có căn nhà, người vợ dùng căn nhà đó mở cửa hàng để kinh
doanh buôn bán thì khi chia tài sản chung, tòa án sẽ ưu tiên giao cho người vợ cửa
hàng, nhưng người vợ phải thanh toán phần giá trị mà người chồng được hưởng
trong trường hợp bán cửa hàng rồi chia đôi giá trị tài sản.
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
16
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
Các trường hợp nam nữ sống chung như vợ chồng không ĐKKH không được
pháp luật công nhận là vợ chồng:
Một, nam nữ chung sống như vợ chồng từ 03/01/1987 đến trước ngày
01/01/2001 mà có đủ điều kiện ĐKKH nhưng chưa ĐKKH và đang chung sống như
vợ chồng. Trong thời hạn 2 năm từ ngày 01/01/2001 đến ngày 01/01/2003, họ không
ĐKKH thì từ sau ngày 01/01/2003, họ không được công nhận là quan hệ vợ
chồng(Điểm b Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10).
Quy định của pháp luật nhằm tạo điều kiện cho nam nữ chung sống như vợ chồng
có thời gian để ĐKKH, cũng như giải quyết về mặt pháp luật đối với sự tồn tại của
hôn nhân thực tế từ rất lâu. Các quy định này bảo đảm quyền lợi của các bên nhưng
vẫn không trái với quy định của luật là “buộc phải đăng kí kết hôn”.
Hai, nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không ĐKKH kể từ ngày
01/01/2001(Điểm c Khoản 3 Nghị quyết số 35/2000/QH10).
Ngày 01/01/2001 là ngày Luật HNGĐ 2000 có hiệu lực, do đó nam nữ phải tuân
thủ những quy định mà luật đã nêu ra, đó là không thừa nhận hôn nhân thực tế. Nam
nữ chung sống như vợ chồng không có giấy chứng nhận ĐKKH thì không có cơ sở
để ghi nhận ngày hôn nhân có hiệu lực về mặt pháp luật. Với hôn nhân thực tế, thời
điểm phát sinh các quyền và nghĩa vụ về nhân thân, tài sản cũng như thời điểm hình
thành khối tài sản chung là dựa vào thời điểm chung sống. Việc xác định thời điểm
hôn nhân có hiệu lực này dựa trên tính phán đoán, điều này rất dễ ảnh hưởng đến
quyền lợi của các bên khi có tranh chấp phát sinh.
Giải quyết yêu cầu về tài sản trong trường hợp hôn nhân không hợp pháp:
Theo Điều 14 Luật HNGĐ 2014 thì trường hợp nam nữ chung sống như vợ
chồng, không ĐKKH nhưng có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của pháp luật thì
không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ. Nếu có yêu cầu tòa án ly hôn thì tòa
án sẽ không chấp nhận mà chỉ ra quyết định không công nhận quan hệ vợ chồng
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
vậy, khi giải quyết tranh chấp thì tòa án, cụ thể hơn là Thẩm phán phải xác định thời
điểm xác lập hôn nhân để có cơ sở phân chia tài sản, cũng như áp dụng các quy định
về quan hệ tài sản, quan hệ nhân thân; các nguyên tắc, các trường hợp chia tài sản;
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
19
Giảng viên: Th.S Võ Hưng Minh Hiền
các vấn đề pháp lý phát sinh trong quan hệ vợ chồng theo quy định của Luật HNGĐ
2014 và các luật có liên quan để giải quyết .
PHẨN 3: THỰC TIỄN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP TẠI
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC PHỔ
3.1 Tổng quan tình hình tranh chấp về tài sản chung của vợ
chồng khi ly hôn tại Huyện Đức Phổ
Hiện nay, số lượng các vụ án ly hôn mà Tòa án nhân dân Huyện Đức Phổ thụ lý
ngày càng tăng qua từng năm. Tổng hợp năm 2015, tòa án đã thụ lý 30 vụ án ly hôn,
tăng hơn so với năm 2014 là 10 vụ. Hầu như tất cả các vụ án đều không yêu cầu về
chia tài sản chung mà phần lớn tài sản đều do thỏa thuận các bên. Song đối với
trường hợp tài sản chung không thỏa thuận được thì tranh chấp rất phức tạp. Sự gia
tăng về số án ly hôn này tại địa bàn nguyên nhân chủ yếu là do đời sống xã hội phát
triển, mọi người chỉ chăm lo cho kinh tế mà không quan tâm đến gia đình; sự cách
biệt về thu nhập của vợ chồng; sự ảnh hưởng tư tưởng làm mẹ đơn thân ở nước
ngoài du nhập vào; đồng thời sự nhận thức không đầy đủ của các cặp vợ chồng trẻ
về ảnh hưởng nghiêm trọng của ly hôn đối với con cái.
Trong thực tiễn xét xử, tòa án đã áp dụng các quy định của pháp luật để giải quyết
tranh chấp về tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, trong quá trình áp dụng pháp
luật cũng gặp nhiều vấn đề khó khăn. Qua đó có thể thấy được việc giải quyết tranh
tình, vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bà Hà gửi đơn yêu cầu ly hôn và giải quyết tài sản
chung.
Bà Hà trình bày phần tài sản chung trong đơn như sau: Năm 2007, hai người đã
mua một căn nhà tại Tổ 4, Khu phố 2, thị trấn Đức phổ, tỉnh Quảng Ngãi;
GCNQSDĐ và TSGLVĐ do ông Bình đứng tên. Vợ chồng còn mở thêm một cửa
hàng kinh doanh đồ thể thao do bà Hà làm chủ, giấy GCNQSDĐ và TSGLVĐ ghi
tên ông Bình và bà Hà.
Bà yêu cầu tòa án chia đôi giá trị căn nhà cho bà, còn cửa hàng kinh doanh là do
bà làm chủ, ông Bình không có bất cứ sự đóng góp nào nên không được hưởng giá
trị từ quyền sở hữu cửa hàng đó.
SVTH : Nguyễn Thị Ngọc Oanh
MSSV: 1254060229
21