Đặc điểm lây nhiễm ở bệnh nhân HIVAIDS và sự quan tâm chăm sóc hỗ trợ, điều trị của cộng đồng tại phòng khám ngoại trú bệnh viện đa khoa tỉnh bắc giang - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC

VŨ VĂN XUÂN

ĐẶC ĐIỂM LÂY NHIỄM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS VÀ SỰ QUAN
TÂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI PHÕNG
KHÁM NGOẠI TRÖ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG

CHUYÊN NGÀNH: Y HỌC DỰ PHÒNG
MÃ SỐ : 60.72.73

LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC

Thái Nguyên - 2009

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC Y – DƢỢC

VŨ VĂN XUÂN

ĐẶC ĐIỂM LÂY NHIỄM Ở NGƢỜI NHIỄM HIV/AIDS VÀ SỰ QUAN
TÂM CHĂM SÓC HỖ TRỢ, ĐIỀU TRỊ CỦA CỘNG ĐỒNG TẠI PHÕNG
KHÁM NGOẠI TRÖ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH BẮC GIANG

HIV/AIDS tỉnh Bắc Giang, lãnh đạo và cán bộ Bệnh viện Đa khoa và đặc biệt
cán bộ Phòng khám Ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang đã giúp đỡ và
tạo mọi điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành việc thu thập số liệu phục vụ luận
văn này.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám đốc và toàn thể cán bộ nhân viên Sở
Y tế tỉnh Bắc Giang, nói tạo điều kiện cho tôi trong suốt thời gian học tập.
Tôi vô cùng biết ơn những người thân trong gia đình và bạn bè thân thiết đã
động viên, hỗ trợ tôi cả về tinh thần và vật chất trong suốt quá trình học tập.
Xin trân trọng cảm ơn !
Thái Nguyên, tháng 9 năm 2009
Vũ Văn Xuân

CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




4

AIDS: (Acquired Immunodeficiency Syndrome): là hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải do nhiễm một loại vi rút HIV gây nên.
BCS

: Bao cao su

BKT

: Bơm kim tiêm



: Người nhiễm HIV/AIDS

NTCH

: Nhiễm trùng cơ hội

QHTD

: Quan hệ tình dục

TCMT

: Tiêm chích ma tuý

TVXNTN

: Tư vấn xét nghiệm tự nguyện

UNAIDS

: Chương trình AIDS Liên Hợp Quốc
(Joinut United Nations Program on HIV/AIDS)

WHO

: (World Health Organization): Tổ chức y tế thế giới

MỤC LỤC


Thực trạng, người nhiễm HIV/AIDS đang điều trị tại phòng
khám ngoại trú BVĐK tỉnh Bắc Giang.
Tình hình chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối
với NN HIV/AIDS tại phòng khám ngoại trú BVĐK tỉnh
Bắc Giang
ĐỐI TƢỢNG VÀ PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Đối tượng và vật liệu nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Thông tin chung của người nhiễm HIV/AIDS
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
BÀN LUẬN
Thực trạng về người nhiễm HIV/AIDS hiện đang điều trị tại
phòng khám ngoại trú BVĐK tỉnh Bắc Giang
Hành vi nguy cơ và một số yếu tố liên quan ở NN
HIV/AIDS.
Sự chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người
NN HIV/AIDS
KẾT LUẬN
KIẾN NGHỊ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC

Trang
7



Tên bảng
Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo nhóm đối tượng

Trang
24

Bảng 3. 2

Phân bố người nhiễm HIV/AIDS theo độ tuổi và giới tính

25

Bảng 3. 3

Phân bố theo nghề nghiệp của NN HIV/AIDS

26

Bảng 3. 4

Phân bố NN HIV/AIDS theo trình độ học vấn và nơi cư trú.

27

Bảng 3. 5

Tình trạng hôn nhân của NN HIV/AIDS

28


Mức độ TCMT trong 1 tháng qua ở người TCMT bị nhiễm

33

HIV/AIDS
Bảng 3. 13
Bảng 3. 14

Loại bạn tình trong 12 tháng qua của người nhiễm HIV
Trung bình số lần QHTD trong 30 ngày qua với các loại bạn

34
35

tình
Bảng 3. 15
Bảng 3. 16
Bảng 3. 17

Tỷ lệ dùng BCS lần QHTD gần nhất và luôn luôn BCS trong
12 tháng qua với các loại bạn tình
Đã sinh con và có ý định sinh con sau nhiễm HIV của NN
HIV/AIDS đã lập gia đình
Dự định lập gia đình và sinh con của NN HIV/AIDS chưa lập


Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên




Nơi khám, chữa khi ốm đau của NN HIV/AIDS
Mong muốn /nhu cầu của người nhiễm HIV/AIDS

41
42


ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo các nhà khoa học và chuyên gia y tế thì thế kỷ XXI sẽ là thế kỷ của
HIV/AIDS ở châu Á. Khi dịch đã bùng nổ ở các nước chậm phát triển, nơi mà
điều kiện vệ sinh, dinh dưỡng kém, bệnh tật, đói nghèo với phong tục tập quán
lạc hậu thì việc thực hiện chương trình phòng chống HIV/AIDS một cách hiệu
quả sẽ gặp nhiều khó khăn nếu không thay đổi mạnh mẽ về nhận thức và biện
pháp can thiệp
Trong những năm gần đây do sự gia tăng của tệ nạn ma tuý đặc biệt là sự
chuyển đổi hình thức sử dụng ma tuý từ hút, hít sang tiêm chích ngày càng tăng
đã kéo theo sự bùng phát HIV/AIDS ở nhiều châu lục đặc biệt là châu Á. Số
người nghiện chích ma tuý nhiễm HIV chiếm 76% tổng số người nhiễm HIV ở
Malaysia; 64 % ở Việt Nam; 55 % ở Myama và 50 % ở Trung Quốc. [12]
Tại Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tháng
12/1990 ở thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1991 – 1992 phát hiện thêm 11 người,
năm 1993 dịch bùng nổ lần đầu tiên phát hiện 1.100 người nhiễm, tập trung chủ
yếu ở các tỉnh phía nam, hầu hết trong các nhóm nghiện chích ma tuý. Từ cuối
năm 1993 – 1997, dịch tiếp tục lan tràn trong nhóm nghiện chích ma tuý mại
dâm có ít nhất 65% số phát hiện là người NCMT. Năm 1997 – 1999 dịch bùng
nổ lần thứ 2, xảy ra ở các tỉnh phía Bắc trong nhóm NCMT, tập trung chủ yếu ở
lứa tuổi trẻ từ 18 – 29. Số nhiễm HIV lên tục tăng qua các năm [12] [15]: Tính
đến 31/6/2009 số người nhiễm HIV được phát hiện là 149.653 người; Số người
nhiễm AIDS là 32.400 người; Số người tử vong do AIDS 43.265 người. [51]

2. Nhận xét sự quan tâm chăm sóc hỗ trợ, điều trị của cộng đồng với người
nhiễm HIV/AIDS tại địa điểm nghiên cứu nói trên.


Chƣơng 1
TỔNG QUAN
1.1. Thực trạng lây nhiễm HIV/AIDS trên thế giới và Việt Nam
1.1.1. Trên thế giới

Đã qua tròn

hai thập kỷ kể từ khi trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được

phát hiện tại Mỹ, loài người hiện nay vẫn đang đứng trước hiểm họa của đại
dịch HIV/AIDS.
Trên thế giới kể từ 6/1981, phát hiện được 5 thanh niên có quan hệ tình
dục đồng giới ở Los Algeles (Mỹ) cùng mắc một chứng bệnh giống nhau và
cùng tử vong. Đến tháng 5/1983 thì phát hiện gia virus HIV tại viện Pasteur
Paris (Pháp), đến tháng 6/2006 theo ước tính cuả Tổ chức Y tế Thế giới AIDS đã
lan tràn tới 180 quốc gia và trên 60 triệu người đã bị nhiễm vi rút này [42].
Hiện có hơn 33 triệu người sống chung với HIV, đó là con số báo cáo của
Chương trình phối hợp phòng, chống AIDS của liên hợp quốc(UNAIDS) công
bố trước thềm hội nghị quốc tế về AIDS tại Mexico.Theo báo cáo, các nỗ lực
mạnh mẽ trên toàn cầu trong cuộc chiến chống lại căn bệnh thế kỷ đặt kết quả,
số người bị chết vì AIDS trên thế giới giảm liên tiếp trong hai năm (2006 –
2007). [43], sau hơn hai thập niên gia tăng. Khoảng hai triệu người trên thế giới
đã chết vì AIDS trong năm 2007, giảm so với mức 2,1 triệu người năm 2006.
Tuy nhiên UNAIDS khảng định còn nhiều việc cần phải làm để đối phó với
dịch AIDS. Trong số 33 triệu người sống chung với AIDS năm 2007, có 2,7
triệu ca nhiễm mới, trong khi số ca nhiễm mới HIV giảm ở một số nước như

Bằng và Bắc Kạn. Đáng mừng là Hà Nội, Quảng Ninh vốn là nững nơi có đông
người nhiễm HIV/AIDS nay đã giảm đáng kể. Quảng Ninh đứng ở vị trí thứ 7,
sau Hải Phòng và Hà Nội, Bà Rịa – Vũng Tàu. [ 44 ], [ 45 ]


Trong 6 tháng đầu năm nay, đại dịch HIV ở nước ta đang gia tăng với tốc
độ chóng mặt. Số ca nhiễm HIV đã tăng cao gấp 2 lần so với cùng kỳ năm 2007.
Bộ trưởng Bộ Y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết “ Trong số ca nhiễm HIV thì có
tới 83,3% ở độ tuổi 20 – 39 ; Tỷ lệ nam giới cao gấp 4 lần so với nữ giới” [45].
Những con số thống kê cho thấy nguy cơ báo động về lực lượng lao động của
nước ta trước mối đe doạ của đại dịch này, theo thống kê từ Cục phòng chống
HIV/AIDS, đa phần các trường hợp nhiễm HIV ở nước ta nghiện chích ma tuý
hoặc liên quan đến ma tuý, con đường lây nhiễm bệnh chủ yếu hiện nay là do sử
dụng chung bơm kim tiêm và quan hệ tình dục không an toàn; 100% tỉnh/ thành
nước ta có người nhiễm HIV [45]. Tại một số địa phương, tỷ lệ người nghiện
chích ma tuý quan hệ tình dục với gái mại dâm cũng đang tăng mạnh như: An
Giang (43,3%), Đà Nẵng (35,2%), Cần Thơ(28,9%)...Đại dịch đã tràn vào nước
ta tới mức đáng lo ngại thế nhưng, đến nay có 32% xã phường triển khai Chương
trình bao cao su; 19% xã phường triển khai Chương trình bơm kim tiêm và
lượng bơm kim tiêm phát ra chỉ đáp ứng được khoảng 15% - 20% nhu cầu thực
tế [45]
Đối tượng nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam đa dạng, có ở mọi địa phương,
diễn biến phức tạp. Đối tượng nhiễm HIV ở Việt Nam không còn tập trung trong
một số nhóm nguy cơ cao mà đã xuất hiện trong tất cả các thành phần, tầng lớp
xã hội như: nông dân, học sinh, sinh viên, tân binh, thậm chí trong giới công
chức cũng đã phát hiện nhiều trường hợp nhiễm HIV [42], [11], [16].
Theo báo cáo của Bộ y tế, hiện nay cả 64/64 tỉnh thành phố trên toàn quốc
đều đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS, 93% số quận/huyện và 49% số
xã/phường, một số tỉnh/thành phố có 100% số xã/phường đã có người nhiễm
HIV/AIDS. Hiện nay dịch HIV/AIDS vẫn có nguy cơ tiếp tục gia tăng, diễn biến

14.419

4

Hải Phòng

6.288

5

Nghệ An

3.370

6

Thái Nguyên

4.531

7

Bà Rịa – Vũng Tàu

3.231

8

An Giang


bàn tương đối phức tạp và khó kiểm soát, Các địa bàn trọng điểm về buôn bán và
sử dụng ma túy là Tân Yên, thành phố Bắc Giang và Hiệp Hòa; các dịch vụ vui
chơi giải trí, nhà nghỉ, khách sạn cùng với hoạt động mại dâm phát triển tại
thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Hiệp Hòa. theo kết quả điều tra vẽ
bản đồ điểm nóng về ma túy, mại dâm năm 2007, số người nghiện chích ma túy
trên địa bàn tỉnh tiếp cận được là 2.789 người; số gái mại dâm là 830 người,
tập trung chủ yếu tại thành phố Bắc Giang, huyện Lạng Giang, Tân Yên, Hiệp
Hòa, Lục Ngạn. Hàng Năm, có khoảng 50.000 lượt người dân của tỉnh Bắc
Giang cũng tiếp nhận trung bình hàng năm khoảng 20.000 lượt người là học
sinh, sinh viên, công nhân trong các khu công nghiệp, xây dựng, bộ đội... Đó là
những yếu tố nguy cơ làm tăng tỷ lệ lây nhiễm HIV trong cộng đồng và bên
cạnh những mặt tích cực đã có nhiều thuận lợi cho sự phát triển các loại hình tệ
nạn xã hội, trong đó có tệ nạn ma tuý và mại dâm - nguyên nhân chính làm cho
Bắc Giang nhanh chóng trở thành một điểm nóng của đại dịch HIV/AIDS trong
vài năm gần đây.
Cùng với sự phát triển của tệ nạn ma tuý thì số lượng người nhiễm HIV
được phát hiện gia tăng với tốc độ rất nhanh chóng, hiện nay Bắc Giang là tỉnh
có tỷ lệ báo cáo nhiễm HIV cao đứng hàng thứ 8 tỉnh thành trên toàn quốc. Ca
nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện tại Bắc Giang vào tháng 7 năm 1996. Theo
báo cáo của Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh Bắc giang tính đến ngày
31/5/2009, tổng số trường hợp nhiễm HIV/AIDS được phát hiện là 2.889 người,
trong đó: 1.511 trường hợp chuyển sang giai đoạn AIDS; 519 người chết do
AIDS. Đây là chỉ số đã làm xét nghiệm và quản lý được, trong thực tê số người
nhiễm còn cao hơn nhiều.
Tất cả 10 huyện/thành phố đều phát hiện có người nhiễm, địa bàn có số
người nhiễm cao nhất là thành phố Bắc Giang (chiếm gần 50%) tổng số người


đã



2798

2.889

Số chuyển AIDS

584

971

1313

1492

1.519

Số tử vong do AIDS

153

181

492

521

519

1.2. Đặc điểm lây nhiễm ở NN HIV/AIDS

1992 cho thấy người mượn BKT có nguy cơ nhiễm HIV cao gấp 6,9 lần và có từ
2 bạn tình trở lên nguy cơ nhiễm gấp 3,5 lần. Không tiệt trùng BKT cũng dẫn
đến nhiễm HIV, nghiên cứu trên 182 đối tượng NCMT ở Longdao, tỉnh Vân
Nam, Trung Quốc, kết quả nhóm NCMT thường xuyên dùng bơm kim tiêm luộc
sôi có nguy cơ nhiễm HIV thấp hơn nhóm không luộc sôi dụng cụ chích.
Bộ trưởng Bộ y tế Nguyễn Quốc Triệu cho biết tính đến 12/2008: Một số
tỉnh, thành phố có tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy rất cao như
thành phố Hồ Chí Minh tới 50%, Cần Thơ 46%, Điện Biên 42,2%, Thái Nguyên
38,5%, Quảng Ninh 33,2%...Để đề phòng việc lây nhiễm HIV qua người nghiện,
Bộ y tế đã phát tới gần 22,7 triệu bơm kim tiêm sạch. Con số này cao nhất từ
trước đến nay và nhiều gấp 2 lần năm 2007. [50]. Tiêm chích ma tuý không chỉ
mang hậu quả cho cá nhân mà còn lây truyền HIV cho bạn tình qua QHTD


không an toàn. Tại New York, người ta ước tính 9/10 trường hợp HIV lây truyền
qua đường tình dục khác giới liên quan đến QHTD với người NCMT. Tại một số
vùng ở Trung Quốc, Ấn Độ và Myanma, số phụ nữ nhiễm HIV qua QHTD với
người NCMT nhiều hơn và qua bất kỳ con đường nào, 83 người NCMT ở Rio
De Janeiro, Braxin không sử dụng BCS với bạn tình thường xuyên. và 63%
không bao giờ dùng với bạn tình không thường xuyên. Tỷ lệ người NCMT có
QHTD với gái mại dâm cao, từ dó HIV lan truyền vào cộng đồng thấy rõ trong
diễn biến dịch ở Thái Lan. Nghiên cứu trên 212 nam NCMT ở thành phố
Quebec, Canada, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm NCMT có bán dâm là 30%, so với
dưới 10% ở những người không bán dâm. Tiêm chích ma tuý cũng góp phần làm
lây truyền HIV qua đường mẹ – con, 40% trẻ nhiễm HIV ở Uragoay sinh ra từ
mẹ NCMT. Đáng lưu ý, do tác động lên hệ thống miễn dịch của cơ thể chủ, HIV
gây rối loạn bệnh lý ở người nhiễm nhiễm HIV/AIDS và dẫn đến tử vong.
+ Nguy cơ lây nhiễm HIV qua đường tình dục:
Đến tháng 12/2008, riêng đối tượng bán dâm có hồ sơ quản lý là 15.136
(tăng 1,9%), 3,12 số này nhiễm HIV. Một số tỉnh có tỷ lệ gái mại dâm nhiễm

giới đã có nhiều tiến bộ trong lĩnh vực điều trị nhằm kéo dài cuộc sống người
nhiễm HIV/AIDS. ở Việt Nam, người nhiễm HIV và người nhiễm AIDS ngày
càng gia tăng với tốc độ phi mã, 6 tháng đầu năm 2008 số ca nhiễm HIV tăng
cao gấp 2 lần so cùng kỳ năm 2007, những người bị nhiễm HIV/AIDS đang
sống ở 2 khu vực, một bộ phận nhỏ sống trong các trại giam và trại 05 – 06 còn
đại bộ phận vẫn sống tại nhà và tại cộng đồng. Do vậy nhu cầu chăm sóc tư vấn
của người nhiễm HIV/AIDS và gia đình của họ cũng gia tăng theo thời gian.
Trong khi có nhiều người tham gia chăm sóc người nhiễm chưa được cung cấp
kiến thức và kỹ năng chăm sóc HIV/AIDS. Do vậy, tổ chức quản lý, chăm sóc
và tư vấn cho


người nhiễm cũng như cho gia đình họ là rất quan trọng [41], [11], [21]
1.3.2. Tình hình chăm sóc và điều trị người nhiễm HIV/AIDS ở Bắc Giang.
Tính đến ngày 31/7/2009, trên địa bàn tỉnh Bắc Giang có một điểm điều
trị duy nhất cho người nhiễm HIV/AIDS, tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang
gồm có 636 người nhiễm hiện đang quản lý điều trị, có 210 đang điều trị ARV;
tổng hiện có 23 trẻ em, 12 trẻ em đang điều trị ARV, 11 trẻ chưa dùng. Hệ thống
quản lý điều trị: 1 BS phụ trách; 2 BS điều trị; Tư vấn viên 2 người; Điều dưỡng
viên 2 người; Hộ lý 1 người; cấp phát thuốc 1 người; cộng tác viên 10 người
Vấn đề đặt ra hiện nay là cần tiến hành các nghiên cứu tại phòng khám
ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang để xác định thực trạng về chăm sóc
và hỗ trợ, điều trị người nhiễm HIV/AIDS, trên cơ sở đó đề xuất các giải pháp
can thiệp nhằm ngăn chặn sự lây lan của dịch vào các nhóm đối tượng có nguy
cơ cao và đặc biệt là ngăn chặn hữu hiệu sự lây lan dịch HIV/AIDS vào cộng
đồng, cũng như thực hiện công tác quản lý, chăm sóc và hỗ trợ, điều trị người
nhiễm HIV/AIDS đặt hiệu quả tốt hơn và làm cho cuộc đời của những người
nhiễm HIV/AIDS được sống lâu hơn, khoẻ mạnh hơn..[7], [10].
Đứng trước thực trạng số người nhiễm HIV/AIDS mới vẫn tiếp tục có xu
hướng gia tăng, trong khi đó số người chuyển sang giai đoạn AIDS ngày càng

HIV/AIDS nhiệt tình, có trách nhiệm


2.3. Phƣơng pháp nghiên cứu:
2.3.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả tiến cứu
2.3.2. Mẫu nghiên cứu:
* Cỡ mẫu: Cỡ mẫu toàn bộ gồm 360 người
* Phương pháp chọn mẫu:
- Chọn địa điểm nghiên cứu: Chọn chủ đích phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa
khoa tỉnh Bắc Giang
- Chọn đối tượng nghiên cứu (người nhiễm HIV/AIDS): Vì số đối tượng điều trị
ngoại trú tại phòng khám tương ứng với cỡ mẫu nghiên cứu nên tiến hành chọn
toàn bộ số đối tượng hiện có tại địa điểm nghiên cứu. Như vậy cỡ mẫu n = 360.
2.3.3. Biến số nghiên cứu
* Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu: Tỷ lệ người nhiễm theo tuổi, giới,
nghề nghiệp, tình trạng hôn nhân, tư vấn xét nghiệm HIV/AIDS của NN
HIV/AIDS
* Đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS:
- Tỷ lệ sử dụng ma tuý của NN HIV/AIDS
- Tình hình tiêm chích ở gái mại dâm
- Tỷ lệ tiếp xúc bạn tình của NN HIV/AIDS
- Số lần QHTD qua các loại bạn tình
- Tỷ lệ dùng BCS khi quan hệ tình dục
- Tỷ lệ sinh con và ý định sinh con sau nhiễm HIV
* Sự quan tâm chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người NN
HIV/AIDS
- Thái độ gia đình đối với người nhiễm HIV/AIDS
- Thái độ của cộng đồng đối với người nhiễm HIV/AIDS
- Thực trạng đơn vị hỗ trợ loại hỗ trợ cho NN HIV/AIDS



phù hợp nội dung, mục tiêu nghiên cứu và điều kiện của người được phỏng vấn.
Phiếu được xây dựng với sự thống nhất cao của các chuyên gia về HIV/AIDS và


chuyên gia về y tế công cộng. Phiếu được điều tra thử trước khi tiến hành triển
khai chính thức. Điều tra viên là các thạc sỹ, bác sỹ có nhiều kinh nghiệm về
HIV/AIDS của phòng khám ngoại trú Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bắc Giang và
Trung tâm phòng chống HIV/AIDS tỉnh, được tập huấn kỹ và làm thử trước khi
tiến hành chính thức.
- Sai số do số liệu: Số liệu được giám sát chặt chẽ trong quá trình điều tra, được
làm sạch ngay tại địa điểm điều tra. Số liệu được sắp xếp, xử lý và phiên giải bởi
chính chủ nhiệm đề tài.
2.3.6. Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu
- Đề tài chỉ nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lây nhiễm ở người nhiễm HIV/AIDS
và sự quan tâm chăm sóc, hỗ trợ của gia đình và cộng đồng đối với người NN
HIV/AIDS, ngoài ra không nhằm bất cứ mục tiêu nào khác ảnh hưởng đến sức
khoẻ đối tượng nghiên cứu.
- Đề tài được tiến hành với sự đồng ý thống nhất của chính quyền và y tế các cấp
thuộc địa bàn điều tra của tỉnh Bắc Giang.
- Đề tài được tiến hành khi các đối tượng nghiên cứu đã được thông báo đầy đủ
về mục đích của nghiên cứu, đối tượng hoàn toàn tự nguyện và hợp tác tham gia
nghiên cứu. Đối tượng vắng mặt trong thời gian nghiên cứu, hoặc không thể
tham gia nghiên cứu sẽ bị loại ra khỏi nghiên cứu.
- Mọi thông tin cá nhân được đảm bảo bí mật tuyệt đối.
- Sau khi kết thúc phỏng vấn, đối tượng được tư vấn, cung cấp thông tin và giới
thiệu đến cơ quan có thể liên hệ khi có vấn đề nảy sinh.
- Kết quả nghiên cứu sẽ được phản hồi tới các cơ quan chức năng địa phương
làm cơ sở để lập kế hoạch can thiệp cho các hoạt động chăm sóc, hỗ trợ và điều
trị cho người nhiễm HIV/AIDS tại cộng đồng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status