Quản lý rủi ro tín dụng tại ngân hàng TMCP đầu tư và phát triển việt nam chi nhánh bắc hà nội - Pdf 35

1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong hoạt động của ngân hàng thì hoạt động tín dụng là một trong những
hoạt động tạo ra giá trị lớn cho ngân hàng. Hoạt động tín dụng là nghiệp vụ chủ yếu
của hệ thống Ngân hàng thương mại (NHTM) ở nước ta hiện nay, chiếm tỷ trọng
lớn nhất (trên 60%) trong danh mục tài sản nhưng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro nhất.
Do đó, song song với việc tăng trưởng tín dụng, nhiệm vụ đặt ra đối với hệ thống
ngân hàng Việt Nam là phải chú trọng hơn nữa đến việc áp dụng và hoàn thiện các
quy định của pháp luật nhằm kiểm soát rủi ro hạn chế các tiêu cực mà các rủi ro
này gây ra.
Rủi ro tín dụng luôn tiềm ẩn và song hành cùng hoạt động tín dụng như một
hiện thực khách quan, không thể loại bỏ hoàn toàn rủi ro tín dụng mà chỉ có thể áp
dụng các biện pháp để phát hiện, phòng ngừa, hạn chế hoặc giảm thiểu tổn thất do
rủi ro tín dụng gây ra. Đứng trên quan điểm quản lý, các chủ ngân hàng luôn thừa
nhận sự tồn tại khách quan của rủi ro tín dụng và một tỉ lệ tổn thất dự kiến do rủi ro
tín dụng mang lại luôn được xác định trước trong chiến lược kinh doanh của ngân
hàng. Khi tổn thất thực tế xảy ra dưới mức dự kiến, ngân hàng có thể coi đó là thành
công trong quản lý. Chính vì vậy, quản lý và hạn chế rủi ro tín dụng luôn là công
tác được các NHTM quan tâm.
Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Bắc Hà Nội (BIDV Bắc Hà Nội)
là chi nhánh có dư nợ lớn của hệ thống Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam
(BIDV), vấn đề tăng trưởng và bền vững luôn được chi nhánh đặc biệt quan tâm.
Hoạt động tín dụng chiếm trên một nửa thu nhập của Chi nhánh và có tác động lớn
tới nguồn thu của các hoạt động khác như: hoạt động thanh toán, tài trợ thương
mại... Với tầm quan trọng như vậy, việc nghiên cứu, đo lường và đưa ra các giải
pháp hạn chế rủi ro tín dụng là rất cần thiết. Xuất phát từ tình hình thực tế tại Chi
nhánh, em đã chọn đề tài: “ Quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng Đầu tư và Phát
triển Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội” cho luận văn tốt nghiệp của mình.


Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý rủi ro tín dụng tại Ngân hàng
ĐT&PT Việt Nam – Chi nhánh Bắc Hà Nội.


3

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ QUẢN LÝ RỦI
RO TÍN DỤNG TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Rủi ro tín dụng tại Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm về rủi ro và rủi ro tín dụng
Rủi ro là một sự không chắc chắn hay một tình trạng bất ổn. Tuy nhiên, chỉ
có tình trạng không chắc chắn nào có thể đoán được xác suất xảy ra mới được xem
là rủi ro. Những tình trạng không chắc chắn nào chưa từng xảy ra và không ước
đoán được xác suất xảy ra được xem là bất trắc.
Rủi ro trong hoạt động ngân hàng là những biến cố không mong đợi xảy ra
gây mất mát, thiệt hại tài sản, giảm sút lợi nhuận thực tế so với dự kiến.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tín dụng là hoạt động kinh doanh
đem lại lợi nhuận chủ yếu của ngân hàng nhưng cũng là nghiệp vụ tiềm ẩn rủi ro rất
lớn. Mặc dù hiện nay đã có sự chuyển dịch trong cơ cấu lợi nhuận của ngân hàng,
theo đó thu nhập từ hoạt động tín dụng có xu hướng giảm xuống và thu dịch vụ có
xu hướng tăng lên nhưng thu nhập từ tín dụng vẫn chiếm ½ đến 2/3 thu nhập ngân
hàng (Peter Rose, Quản trị ngân hàng thương mại). Kinh doanh ngân hàng là kinh
doanh rủi ro, theo đuổi lợi nhuận với rủi ro chấp nhận được là bản chất ngân hàng.
P.Volker, cựu chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ cho rằng: “Nếu ngân hàng không
có những khoản vay tồi thì đó không phải là hoạt động kinh doanh”. Rủi ro trong
hoạt động của ngân hàng thương mại rất đa dạng, trong đó rủi ro tín dụng là một
trong những nguyên nhân chủ yếu gây tổn thất và ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất
lượng kinh doanh ngân hàng.
Rủi ro tín dụng: là rủi ro về sự tổn thất tài chính, phát sinh từ việc khách

tập trung vào một nhóm khách hàng, ngành hàng tiềm ẩn nhiều rủi ro.

1.1.2. Các loại rủi ro tín dụng
Rủi ro giao dịch: là rủi ro liên quan đến từng khoản vay hoặc từng khách
hàng vay cụ thể. Đây là loại rủi ro có thể phát sinh liên quan đến quá trình thẩm
định xét duyệt cho vay, kiểm soát sau khi cho vay hoặc do sơ hở trong việc thực
hiện bảo đảm tiền vay và những cam kết ràng buộc trong hợp đồng tín dụng.


5

Rủi ro danh mục là rủi ro phát sinh liên quan đến sự kết hợp nhiều khoản tín
dụng trong danh mục tín dụng của ngân hàng do sản phẩm không phù hợp hoặc quá
tập trung cho vay vào một ngành, lĩnh vực.
Rủi ro tín dụng bao gồm 2 loại chính:
Rủi ro
tín dụng

Rủi ro
giao dịch

Rủi ro
xét duyệt

Rủi ro
kiểm soát

Rủi ro
danh mục


ngân hàng thương mại: Khi thực hiện một hoạt động tài trợ cụ thể, ngân hàng cố
gắng phân tích các yếu tố của người vay sao cho độ an toàn là cao nhất. Và nhìn
chung ngân hàng chỉ quyết định cho vay khi thấy rằng rủi ro tín dụng sẽ không xảy
ra. Tuy nhiên, không một nhà kinh doanh ngân hàng tài ba nào có thể dự đoán chính
xác các vấn đề xảy ra. Khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng có thể bị thay đổi
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan, đặc biệt tình trạng thông tin bất cân
xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách
toàn diện và đầy đủ, nên bất cứ khoản cho vay nào cũng tiềm ẩn nguy cơ rủi ro đối
với hoạt động tín dụng của các NHTM. Vì vậy trong quá trình cấp tín dụng cho
khách hàng, các NHTM cần chủ động có các biện pháp thích hợp để xác định rủi ro,
định lượng rủi ro, quản lý rủi ro và kiểm soát rủi ro. Kinh doanh ngân hàng thực
chất là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và đạt được lợi nhuận tương ứng.

1.1.4. Nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng
Có rất nhiều nguyên nhân gây ra rủi ro tín dụng. Quản lý rủi ro tín dụng cần
xác định những nguyên nhân cụ thể, cách thức gây rủi ro tín dụng để có biện pháp
hạn chế.

1.1.4.1 Những nguyên nhân bất khả kháng
Những nguyên nhân bất khả kháng tác động tới người vay, làm họ mất khả
năng thanh toán cho ngân hàng là các nguyên nhân khách quan liên quan đến môi
trường bên ngoài. Ví dụ: do thiên tai, dịch bệnh, hoả hoạn,..;do khủng hoảng hoặc
suy thoái kinh tế, lạm phát, mất thăng bằng cán cân thanh toán quốc tế, tỷ giá hối
đoái biến động thất thường,..; hoặc những thay đổi tầm vĩ mô (thay đổi chính phủ,
chính sách kinh tế,…) vượt quá tầm kiểm soát của người vay lẫn người cho vay.

1.1.4.2. Nguyên nhân thuộc về chủ quan người vay
- Nguyên nhân từ tư cách, đạo đức của khách hàng vay vốn: đây là một trong
những nguyên nhân quan trọng dẫn đến rủi ro cho ngân hàng. Rất nhiều người vay
vốn sẵn sàng mạo hiểm trong kinh doanh để thu được lợi nhuận cao. Để đạt được

nhuận dẫn đến cho vay đầu tư quá liều lĩnh, tập trung nguồn vốn cho vay quá nhiều
vào một doanh nghiệp hoặc một ngành kinh tế nào đó.
Quy trình tín dụng thông thường được xác lập trên những quy định chung
của pháp luật về ngân hàng và những đặc thù trong hoạt động của riêng mỗi ngân
hàng. Thông thường, quy trình tín dụng được thống nhất qua các bước tuần tự như


8

sau: thiết lập hồ sơ khách hàng vay, thẩm định hồ sơ khách hàng vay, ra quyết định
và ký hợp đồng, giải ngân và thu nợ, thanh lý hợp đồng và xử lý tranh chấp. Quy
trình tín dụng nếu không phát huy được tác dụng sẽ ảnh hưởng đến chất lượng quản
lý rủi ro tín dụng. Trên thực tế, không phải quy trình tín dụng của các NHTM luôn
đảm bảo tính hợp lý và chặt chẽ, biểu hiện như:
- Việc phân định rõ giữa khâu thẩm định và cho vay ở nhiều NHTM vẫn
chưa thật sự tách biệt. Chỉ một vài ngân hàng đang tiến hành triển khai, áp dụng quy
trình tín dụng mới với việc phân chia độc lập giữa ba chức năng: quan hệ khách
hàng, quản lý rủi ro và quản lý nợ. Tuy vậy, giữa mô hình phân chia cũ và mới, bên
cạnh những ưu điểm vẫn tồn tại những hạn chế chưa thể khắc phục ảnh hưởng đến
công tác quản lý rủi ro tín dụng.
- Do sức ép cạnh tranh trong việc mở rộng thị phần tín dụng, trong quá trình
vận dụng không ít các NHTM đã bỏ qua các bước của quy trình, hạ thấp tiêu chuẩn
đánh giá khách hàng, không chú ý đúng mức đến tình hình tài chính, năng lực sản
xuất kinh doanh, khả năng trả nợ, nguồn trả nợ của khách hàng vay nên nảy sinh
nhiều vi phạm: về điều kiện vay vốn, hồ sơ vay vốn, về kiểm tra quản lý nợ vay, về
cơ cấu thời hạn trả nợ.
* Xuất phát từ công tác thẩm định
Đánh giá uy tín của khách hàng là vấn đề thật sự khó khăn đối với các cán bộ
thực hiện công tác thẩm định trong việc tiếp cận thông tin đầy đủ về khách hàng.
Hiện nay, công tác đánh giá uy tín của khách hàng chủ yếu dựa vào cảm tính và chủ

Đối với vấn đề bảo hiểm tài sản, cán bộ tín dụng thường không chú ý đôn
đốc, kiểm tra việc khách hàng có mua bảo hiểm đúng định kỳ để đến khi phương
tiện bị tai nạn, xảy ra hoả hoạn,…gây khó khăn lâu dài về khả năng thanh toán
khoản nợ vay.
Thông tin bất cân xứng về giá trị thực của TSBĐ giữa khách hàng và ngân
hàng cũng là vấn đề cần được quan tâm. Khi thế chấp, cầm cố chỉ có khách hàng
biết rõ về hiện trạng tài sản như sự hỏng hóc trong các dây chuyền sản xuất, máy
móc, thiết bị, hoặc ngôi nhà rất khó bán do một số đặc điểm đặc biệt. Trong khi đó
trình độ của cán bộ thường không đáp ứng đầy đủ chuyên môn trong tất cả các lĩnh
vực nên không thể đánh giá được chính xác hiện trạng của máy móc thiết bị cũng


10

như nắm được những thông tin tốt về đất đai, nhà ở, điều này ảnh hưởng rất lớn đến
giá trị mua bán của tài sản. Vì vậy khi xảy ra rủi ro, việc phát mại tài sản để thu hồi
nợ gặp không ít khó khăn.
Thêm vào đó, cơ chế pháp lý về bảo đảm tiền vay chưa rõ ràng, chịu sự điều
chỉnh, chi phối của nhiều văn bản luật, dưới luật chồng chéo, đặc biệt đối với TSBĐ
là bất động sản.
* Xuất phát từ hoạt động kiểm soát nội bộ
Hiện nay, các NHTM đều có bộ phận kiểm soát nội bộ, tuy nhiên, ở một số
ngân hàng bộ phận này chưa thật sự hoạt động có hiệu quả, nhất là tình trạng thiếu
nhân sự cũng như trình độ của cán bộ chưa đáp ứng cả về nghiệp vụ lẫn kinh
nghiệm nên không thể phát hiện các sai phạm để có những khuyến cáo kịp thời
nhằm chấn chỉnh và tư vấn cho Ban lãnh đạo về những rủi ro tín dụng có thể xảy ra.
* Xuất phát từ cán bộ quản lý, cán bộ tín dụng
Đạo đức của cán bộ tín dụng là một trong những yếu tố quan trọng để giải
quyết vấn đề hạn chế rủi ro tín dụng. Một cán bộ hạn chế về năng lực có thể được
bồi dưỡng thêm để nâng cao trình độ, nhưng một cán bộ tha hoá về đạo đức mà lại

dụng thông qua bộ máy và công cụ quản lý để phòng ngừa, cảnh báo, đưa ra các
biện pháp hạn chế đến mức tối đa việc không thu được đầy đủ cả gốc và lãi của
khoản vay hoặc thu gốc và lãi không đúng hạn.
Quản lý rủi ro tín dụng hiệu quả liên quan đến việc quản lý chặt chẽ mối
quan hệ giữa rủi ro/lợi nhuận và kiểm soát, giảm thiểu rủi ro tín dụng trong nhiều
khía cạnh khác nhau, chẳng hạn như chất lượng tín dụng, mức độ tập trung, thời
gian đáo hạn, hình thức bảo đảm tiền vay.
Kinh doanh trong lĩnh vực ngân hàng là loại kinh doanh đặc biệt, tiềm ẩn
nhiều rủi ro trong đó có rủi ro tín dụng. Hoạt động kinh doanh của các NHTM là
dùng uy tín của chính ngân hàng để có thể thu hút nguồn vốn huy động và dùng
năng lực quản trị rủi ro đặc biệt là quản trị rủi ro tín dụng để sử dụng nguồn vốn
huy động được và phát triển các dịch vụ khác với tư cách là người “đứng giữa” các
lực lượng cung và các lực lượng cầu về các dịch vụ ngân hàng.
Hiệu quả hoạt động kinh doanh của các NHTM phụ thuộc vào mức độ rủi ro,
đặc biệt là rủi ro tín dụng. Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng có nhiều yếu tố
khách quan và chủ quan dẫn đến rủi ro, nhiều yếu tố bất khả kháng nên ngân hàng
không thể tránh khỏi rủi ro. Chính vì vậy, hàng năm các NHTM được phép và cần
phải trích lập quỹ bù đắp rủi ro hạch toán vào chi phí. Quy mô quỹ bù đắp rủi ro căn
cứ vào mức độ và khả năng rủi ro. Nếu rủi ro thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ tăng và


12

ngược lại. Như vậy, hiệu quả kinh doanh của các NHTM tỷ lệ nghịch với mức độ
rủi ro. Khi rủi ro quá lớn đến mức các NHTM mất khả năng thanh toán khi đó sẽ
dẫn đến tình trạng phá sản.
Quản lý rủi ro tín dụng tốt là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng tín
dụng của các NHTM. Vì vậy, những nhà quản trị NHTM cần được trang bị các kiến
thức về quản trị rủi ro, cung cấp những thông tin kinh tế cập nhật, có đội ngũ tham
mưu chuyên nghiệp và bộ máy kiểm tra, kiểm soát nội bộ hiệu quả là điều kiện cần

cá nhân đối
với chất
lượng tín
dụng

Cơ cấu
tổ chức

Xây dựng
chính sách
và quy trình
tín dụng

Giám sát và
kiểm tra tín
dụng

Hình 1.2: Khung quản lý rủi ro trong hoạt động tín dụng


13

* Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng
Hoạch định chiến lược hoạt động tín dụng là bản tuyên ngôn của Ban lãnh
đạo về các mục tiêu trong hoạt động tín dụng nhằm xác định thái độ của ngân hàng
đối với rủi ro và thái độ sẵn sàng chấp nhận các rủi ro.
Chiến lược hoạt động tín dụng cần được hoạch định định kỳ, phù hợp với
mức độ rủi ro từng thời kỳ và phải được phổ biến đến từng nhân viên ngân hàng.
* Xác định rủi ro hiện có và rủi ro tiềm tàng
Xác định rủi ro được hiểu bao gồm: nhận biết rủi ro và đo lường rủi ro

Hệ thống tính điểm tín dụng cần được tiến hành thực hiện trên cơ sở các
thông tin định lượng và thông tin định tính nhằm thống nhất đánh giá rủi ro tín dụng
đối với khách hàng theo một thàng điểm chuẩn. Hệ thống tính điểm tín dụng là cơ
sở quan trọng để phân loại và xếp loại khách hàng cũng như khoản vay.

1.2.3. Các nguyên tắc quản lý rủi ro tín dụng
Uỷ ban Basel về giám sát ngân hàng (Basel Committee on Banking
supervision – BCBS) được thành lập vào năm 1975 bởi một nhóm các Ngân hàng
Trung ương và cơ quan giám sát của 10 nước phát triển (G10) tại thành phố Basel,
Thuỵ Sỹ nhằm tìm cách ngăn chặn sự sụp đổ hàng loạt của các ngân hàng vào thập
kỷ 80.
Quan điểm của Uỷ ban Basel: sự yếu kém trong hệ thống ngân hàng của một
quốc gia, dù quốc gia phát triển hay đang phát triển, sẽ đe doạ đến sự ổn định về tài
chính trong cả nội bộ quốc gia đó. Vì vậy, nâng cao sức mạnh của hệ thống tài
chính là điều mà Uỷ ban Basel quan tâm.
Uỷ ban Basel có đưa ra các nguyên tắc về quản lý rủi ro tín dụng, đảm bảo
tính hiệu quả và an toàn trong hoạt động cấp tín dụng. Các nguyên tắc này tập trung
vào các nội dung cơ bản sau đây:

1.2.3.2. Thực hiện theo một quy trình cấp tín dụng hợp lý
Nguyên tắc 1: Hội đồng quản trị (HĐQT) có trách nhiệm phê duyệt và rà
soát định kỳ (ít nhất là hàng năm) chiến lược và chính sách về rủi ro tín dụng của
ngân hàng. Chiến lược này phản ánh sức chịu đựng của ngân hàng đối với rủi ro và


15

mức độ sinh lời mà ngân hàng dự kiến đạt được khi phải gánh chịu các loại rủi ro
tín dụng.
Nguyên tắc 2: Ban điều hành phải có trách nhiệm triển khai thực hiện chiến


liên quan phải được giám sát và quan tâm đặc biệt, cần có những biện pháp thích
hợp để kiểm soát và giảm thiểu rủi ro trong việc cho vay.

1.2.3.3. Duy trì một quy trình đo lường, kiểm soát và quản trị tín dụng phù hợp
Nguyên tắc 8: Ngân hàng cần phải có một hệ thống để thực hiện quản trị và
giám sát thường xuyên, liên tục danh mục các khoản cho vay có rủi ro.
Nguyên tắc 9: Ngân hàng cần phải có hệ thống giám sát điều kiện của từng
khoản tín dụng bao gồm cả việc xác định đủ mức dự phòng rủi ro tín dụng.
Nguyên tắc 10: Ngân hàng cần có hệ thống đánh giá rủi ro tín dụng nội bộ để
quản lý rủi ro tín dụng. Hệ thống định hạng cần phải nhất quán với bản chất, quy
mô và mức độ phức tạp trong hoạt động của ngân hàng.
Nguyên tắc 11: Ngân hàng phải có hệ thống thông tin và các kỹ thuật phân
tích để trợ giúp cán bộ quản lý có thể đo lường rủi ro tín dụng phát sinh trong các
hoạt động trong và ngoài Bảng cân đối kế toán. Hệ thống thông tin quản lý cần cung
cấp đủ thông tin về cơ cấu của danh mục tín dụng để có thể nhận dạng các rủi ro tín
dụng do tập trung vào một ngành, lĩnh vực.
Nguyên tắc 12: Ngân hàng phải có hệ thống giám sát cấu trúc tổng thể và
chất lượng danh mục tín dụng.
Nguyên tắc 13: Ngân hàng cần phải đánh giá đầy đủ những biến động và
điều kiện kinh tế có thể xảy ra trong tương lại khi xem xét từng khoản tín dụng cũng
như danh mục cho vay của mình và cần đánh giá mức độ rủi ro tín dụng trong điều
kiện xấu nhất.

1.2.3.4. Đảm bảo kiểm soát đầy đủ rủi ro tín dụng
Nguyên tắc 14: Ngân hàng phải xây dựng hệ thống rà soát, đánh giá độc lập
và liên tục quy trình quản lý rủi ro tín dụng của ngân hàng, kết quả rà soát phải
được báo cáo trực tiếp Hội đồng quản trị và Ban điều hành.
Nguyên tắc 15: Ngân hàng phải được đảm bảo rằng chức năng cấp tín dụng
được quản lý đúng mức và rủi ro tín dụng được kiểm soát theo các giới hạn và

hàng, chấp nhận chịu lãi suất vay cao và mọi điều kiện tín dụng miễn là ngân hàng
cho vay vốn; có biểu hiện bất hợp tác, trì hoãn, cản trở ngân hàng thực hiện kiểm tra
vốn vay tại đơn vị.


18

* Nhóm dấu hiệu liên quan đến hoạt động kinh doanh, điều hành của khách hàng
- Về hoạt động kinh doanh: khách hàng thường xuyên không đạt kế hoạch
tháng/quý/năm về sản xuất và bán hàng; các sản phẩm của khách hàng tiêu thụ chậm
(hàng tồn kho nhiều, lâu ngày), có sự lạc hậu, kém chất lượng so với sản phẩm cùng
loại trên thị trường; ký kết các hợp đồng lớn nhằm đánh bóng tên tuổi mà không quan
tâm đến lợi nhuận hay khả năng thực hiện hợp đồng; cắt giảm các chi phí khấu hao,
sửa chữa tài sản, chi phí nghiên cứu sản phẩm; chịu tác động mạnh từ các yếu tố thuộc
môi trường kinh doanh như: tỷ giá, lãi suất thay đổi theo chiều hướng bất lợi, thay đổi
trong chính sách của Nhà nước theo hướng tiêu cực cho khách hàng, xuất hiện các
đối thủ cạnh tranh mới, xuất hiện các sản phẩm thay thế, thay đổi trong thị hiếu
người tiêu dùng…
- Về hoạt động điều hành, môi trường nhân sự của khách hàng: có sự thay
đổi đột xuất nhiều lần về nhân sự cấp cao (hội đồng quản trị, ban điều hành, các
chức vụ chủ chốt); phương thức quản trị/cách thức điều hành không thống nhất,
thường có sự bất đồng, tranh chấp trong quá trình quản lý; đề bạt những vị trí điều
hành là những người ít có kinh nghiệm, quản lý có tính gia đình trị; thuyên chuyển
nhân viên diễn ra thường xuyên, không xác định được sự phù hợp của nhân viên với
từng vị trí công tác; thiếu quan tâm đến lợi ích của cổ đông, chủ nợ…
* Nhóm dấu hiệu liên quan đến báo cáo tài chính của khách hàng
Báo cáo tài chính của doanh nghiệp là bức tranh toàn diện phản ánh tình
trạng “sức khỏe” của doanh nghiệp. Do vậy, đối với ngân hàng, báo cáo tài chính
của doanh nghiệp là công cụ quan trọng để thẩm định, xét duyệt cho vay, kiểm soát
và đánh giá việc sử dụng vốn vay, đồng thời nhận diện các dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro

có chất lượng tín dụng yếu kém.
- Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ:
Nợ xấu là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, tiềm ẩn nhiều rủi ro mất vốn
cho ngân hàng. Chính vì vậy, tỷ lệ nợ xấu của ngân hàng càng thấp cho thấy ngân
hàng có chất lượng tín dụng càng tốt.
Tỷ lệ nợ xấu = tổng dư nợ xấu/tổng dư nợ x 100%
- Nợ không có tài sản bảo đảm và tỷ lệ nợ không được bảo đảm bằng tài sản.
Nợ không có tài sản bảo đảm là khoản nợ mà khách hàng không có tài sản để
thế chấp, cầm cố để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng. Ngân hàng cho vay
dựa trên uy tín của khách hàng (tín chấp).


20

Tỷ lệ nợ không có TSBĐ = Dư nợ không có TSBĐ/Tổng dư nợ x 100%
Do TSBĐ được coi là phương án thu hồi nợ dự phòng của ngân hàng khi
nguồn trả nợ thứ nhất từ phương án kinh doanh của khách hàng không đạt được như
dự kiến hoặc khách hàng không trả nợ ngân hàng theo hợp đồng đã ký. Do đó, dư
nợ không được bảo đảm bằng tài sản cũng phản ánh mức độ rủi ro trong cho vay
của ngân hàng.
- Tỷ lệ bù đắp rủi ro (quỹ dự phòng rủi ro/nợ xấu): tỷ lệ này cho biết quỹ dự
phòng rủi ro tín dụng đảm bảo có bù đắp được tổn thất nợ xấu, trên cơ sở đó phản
ánh được chất lượng tín dụng.
- Cơ cấu danh mục cho vay: tỷ trọng dư nợ cho vay theo ngành nghề. Quản
trị danh mục cho vay cần chỉ ra được tỷ trọng đầu tư tối ưu vào mỗi ngành, vùng,
quy mô…để rủi ro thấp nhất là bao nhiêu.
* Đo lường rủi ro tín dụng
Trong hoạt động của ngân hàng, tín dụng là hoạt động chủ yếu. Nếu quản lý
tốt, tín dụng sẽ góp phần đáng kể trong việc tạo ra lợi nhuận và làm tăng giá trị
ngân hàng. Ngược lại, nếu quản lý kém, tín dụng có thể gây ra tổn thất lớn và làm

vay như luồng tiền từ doanh thu bán hàng hay từ thu nhập, tiền từ bán thanh lý tài
sản,…
- Bảo đảm tiền vay (Collateral): Đây là điều kiện để ngân hàng cấp tín dụng
và là nguồn thu thứ hai có thể dùng để trả nợ vay cho ngân hàng trong trường hợp
nếu khách hàng vay không có khả năng hoàn trả nợ vay. Trong khi đánh giá tài sản
đảm bảo ngân hàng cần chú ý tới các yếu tố như tuổi thọ, mức độ chuyên dụng của
tài sản, công nghệ. Mặt khác cần chắc chắn về giá trị có thể thu hồi được từ tài sản
đảm bảo đó
- Các điều kiện (Conditions): ngân hàng quy định các điều kiện tuỳ theo
chính sách tín dụng từng thời kỳ.
- Kiểm soát (Control): đánh giá những ảnh hưởng do sự thay đổi của luật
pháp, quy chế có ảnh hưởng đến người vay và khả năng khách hàng có đáp ứng các
tiêu chuẩn của ngân hàng hay không từ đó đưa ra các biện pháp hợp lý để hạn chế rủi
ro tín dụng.


22

Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của mô hình
này là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng
dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng.

 Các mô hình lượng hoá rủi ro tín dụng
Mô hình định tính được xem là mô hình cổ điển để đánh giá rủi ro tín dụng.
Sau đây là một số mô hình lượng hóa rủi ro tín dụng thường được sử dụng nhiều nhất:
Mô hình điểm số Z (Z – credit scoring model):
Đây là mô hình do E.I.Altman xây dựng dùng để cho điểm tín dụng đối với
các doanh nghiệp vay vốn. Mô hình này phụ thuộc vào: Chỉ số các yếu tố tài chính
của người vay – X; Tầm quan trọng của các chỉ số này trong việc xác định xác suất
vỡ nợ của người vay trong quá khứ, mô hình được mô tả như sau (Nguyễn Văn

Rủi ro tín dụng trong cho vay và đầu tư thường được thể hiện bằng việc xếp
hạng trái phiếu và khoản cho vay, trong đó Moody và Standard & Poor là những
công ty cung cấp dịch vụ này tốt nhất. Moody và Standard & Poor xếp hạng trái
phiếu và khoản cho vay theo 9 hạng với cấp độ chất lượng giảm dần, trong đó 4
hạng đầu ngân hàng nên cho vay, còn các hạng sau thì không nên đầu tư, cho vay.
Bảng 1.1: Mô hình xếp hạng theo Moody’s và Standard & Poor

Xếp hạng
Aaa
Aa
A
Baa
Ba
B
Caa
Ca
C

Moody’s
Tình trạng
Chất lượng cao nhất
Chất lượng cao
Chất lượng vừa cao hơn
Chất lượng vừa
Nhiều yếu tố đầu cơ
Đầu cơ
Chất lượng kém
Đầu cơ có rủi ro cao
Chất lượng kém nhất


24

chấp nhận đầu tư vào các loại chứng khoán này. Để đạt được lợi nhuận kỳ vọng,
nhà dầu tư thường đa dạng hóa danh mục đầu tư để tối đa hóa lợi nhuận trong khi
vẫn đạt tỷ lệ an toàn có thể chấp nhận được.

1.3. Các nhân tố tăng cường quản lý rủi ro tín dụng
1.3.1. Các nhân tố chủ quan (các nhân tố bên trong ngân hàng)
- Cơ cấu tổ chức của hoạt động tín dụng, hoạt động quản lý rủi ro tín dụng:
Cơ cấu tổ chức hoạt động tín dụng và hoạt động quản lý rủi ro tín dụng là
công cụ quan trọng trong việc quản lý rủi ro tín dụng tại các ngân hàng. Theo chuẩn
mực quốc tế, để tránh những vấn đề rủi ro phát sinh, hoạt động tín dụng nhất thiết
phải phân tách giữa các chức năng: đề xuất tín dụng, phê duyệt cho vay và quản trị
giải ngân. Trên cơ sở sự phân tách đó, bộ phận quan hệ khách hàng sẽ chịu trách
nhiệm tiếp xúc, tiếp nhận các yêu cầu của khách hàng, khởi tạo tín dụng, cung cấp
thông tin cho bộ phận quản lý rủi ro tín dụng đồng thời kiểm tra giám sát quá trình
thực hiện các cam kết của khách hàng (sử dụng vốn vay, tài sản bảo đảm…). Bộ
phận Quản lý rủi ro thực hiện thẩm định tín dụng độc lập và đưa ra các ý kiến về
cấp tín dụng cũng như giám sát quá trình thực hiện các quyết định tín dụng của bộ
phận quan hệ khách hàng. Bộ phận quản lý nợ thực hiện lưu trữ hồ sơ, nhập hệ
thống máy tính và quản lý khoản vay…Sự tách biệt giữa 3 chức năng nhằm mục
tiêu hàng đầu là giảm thiểu rủi ro ở mức thấp nhất đồng thời phát huy được tối đa
kỹ năng chuyên môn của từng vị trí cán bộ làm công tác tín dụng. Vì vậy, việc xây
dựng một cơ cấu tổ chức hướng theo chuẩn mực quốc tế tốt nhất sẽ là giải pháp hữu
hiệu để quản lý rủi ro tín dụng của các ngân hàng thương mại.
- Xác định mục tiêu, xây dựng chiến lược chính sách, quy trình quản lý rủi
ro tín dụng:
Chiến lược quản lý rủi ro tín dụng phải bao gồm mô tả về thị trường mục
tiêu, các sản phẩm, ngành và khách hàng mục tiêu và các biện pháp quản lý rủi ro
tín dụng đối với các thị trường này.

ngân hàng phải có quy định, hướng dẫn cụ thể danh sách các loại tài sản mà ngân
hàng chấp nhận, tần suất đánh giá tài sản bảo đảm theo nguyên tắc tài sản bảo đảm
mà có sự biến động giá nhiều hơn sẽ phải đánh giá thường xuyên hơn.
- Xây dựng hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ:
Hệ thống xếp hạng tín dụng nội bộ (XHTDNB) là tổ hợp các quy trình phân
loại khách hàng theo ngành nghề, quy mô, tính chất sở hữu, bộ chỉ tiêu tài chính và



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status