PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC NGHỆ THUẬT
TRÀO PHÚNG TRONG “HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA”
TRÍCH TIỂU THUYẾT “SỐ ĐỎ” – VŨ TRỌNG PHỤNG
A. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong lĩnh vực giáo dục, đổi mới phương pháp dạy học là một vấn đề đã
được đề cập và bàn luận rất sôi nổi từ nhiều thập kỷ qua. Các nhà nghiên cứu
phương pháp dạy học đã không ngừng nghiên cứu, tiếp thu những thành tựu mới
của lý luận phương pháp dạy học hiện đại, đưa nền văn học của nước nhà ngày
càng hiện đại, tích cực hơn, đáp ứng được nhu cầu học tập. Định hướng đổi mới
phương pháp dạy học đã thống nhất theo tư tưởng tích cực hóa hoạt động của học
sinh dưới sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên. Bên cạnh việc phát huy tính chủ
động, tích cực của học sinh thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy của giáo viên hết
sức quan trọng. Phương pháp dạy, tổ chức, định hướng trong bài dạy của giáo viên
đối với học sinh được ví như người cầm lái con tàu. Con tàu đó có đi đúng hướng
hay không, học sinh có tiếp thu được bài học theo hướng tích cực hay không, điều
đó phụ thuộc vào phương pháp, cách tổ chức khai khác bài học của giáo viên.
Nhận thức được tầm quan trọng của việc đổi mới phương pháp giảng dạy,
giúp cho học sinh tiếp cận được giá trị của tác phẩm văn chương, đem lại kết quả
cao hơn trong học tập của các em, tôi đã lựa chọn đề tài cho sáng kiến kinh nghiệm.
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận:
Văn học là một loại hình nghệ thuật lấy ngôn từ làm chất liệu, tác phẩm văn
học phản ánh đời sống khách quan thông qua hình tượng nghệ thuật, qua đó nhà
văn gửi gắm quan điểm, tư tưởng, thái độ của mình trước cuộc sống. Tác phẩm văn
học giúp con người có những nhận thức sâu sắc về đời sống. Việc đọc hiểu tác
phẩm văn học sẽ giúp học sinh có cách nhìn về đời sống và về bản thân mình.
Việc đưa thể loại tiểu thuyết vào chương trình là nhằm tạo cho học sinh có
điều kiện tiếp xúc với đủ các loại hình văn học: Tự sự, Trữ tình và Kịch. Song ở
loại hình Tự sự thì thể loại Tiểu thuyết lại có những đặc trưng riêng biệt. Tiểu
thuyết là hình thức tự sự có dung lượng lớn, phổ biến thời cận đại và hiện đại. Tiểu
thuyết có thể chứa đựng lịch sử nhiều cuộc đời, những bức tranh phong tục, đạo
sử dụng để chế nhạo, chỉ trích, tố cáo, phản kháng...những cái tiêu cực, xấu xa, lỗi
thời, độc ác trong xã hội. Như vậy có thể thấy Trào phúng là nghệ thuật gây ra
tiếng cười mang ý nghĩa phê phán xã hội.
Với đặc điểm là loại tiểu thuyết hoạt kê, “Số Đỏ” của Vũ Trọng Phụng đã miêu
tả thật sống động bao nhiêu cảnh đời và con người hài hước, giễu cợt. Không chỉ
một cuộc đời của nhân vật chính – Xuân Tóc Đỏ đáng cười, mà hầu như tất cả các
nhân vật, các tình huống, các chi tiết truyện đều đáng cười, đáng phê phán. Vũ
Trọng Phụng dùng tiếng cười như một thứ vũ khí sắc bén để đả kích xã hội thực
dân tư sản thành thị - xã hội “chó đểu” với nhiều dạng “quái thai” bịp bợm. Bằng
các thủ pháp phóng đại, khoa trương dưới nhiều biểu hiện, tác giả đã dựng lên cho
người đọc thấy một lũ người háo danh, vô đạo và bỉ ổi trong cái gia đình danh giá
ấy. Chương XV của tiểu thuyết với nhan đề: “Hạnh phúc của một tang gia – Văn
Minh nữa cũng nói vào – Một đám ma gương mẫu” đã miêu tả một đám tang cụ cố
tổ, giống như một đám rước, một đám hội, một cuộc tiễn đưa tập thể, cuộc hành
trình tới mộ của cả một xã hội – cái xã hội tư sản thành thị Âu hóa rởm, văn minh
rởm hết sức lố lăng và đồi bại đang hiện diện ở Việt Nam những năm 30 – 45 của
Thế kỉ XX. Mỗi một tình huống, mỗi một nhân vật, mỗi một lời nói, hành động cứ
tự nhiên bật ra tiếng cười. Tiếng cười mang nhiều sắc thái, cung bậc, liên tục không
2
dứt. Nó kéo dài trong suốt cuộc đưa tiễn. Để đạt được hiệu quả của tiếng cười phê
phán, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng một số các thủ pháp nghệ thuật trào phúng.
2. Các thủ pháp nghệ thuật trào phúng.
a. Tình huống trào phúng
Tình huống truyện là hoàn cảnh chứa đựng xung đột được nhà văn tạo lập để
triển khai cốt truyện. Xung đột đó có thể là một biến cố có tác động lớn đến cuộc
đời, số phận, tính cách nhân vật qua đó góp phần làm nổi bật chủ đề, tư tưởng của
tác phẩm.Tình huống trong “Hạnh phúc của một tang gia” là tình huống trào
kèn tây, kèn tàu, bu zích, lốc bốc xoảng) thi nhau mà rộ lên. Tiếng khóc của những
3
người đi đưa tang xen lẫn tiếng thì thầm về chuyện vợ con, nhà cửa, mua sắm, tiếng
thì thào của bọn đàn ông bình phẩm sắc đẹp của các cô gái, than thở việc vợ béo
chồng gầy. Người đọc thấy khung cảnh pha tạp, hỗn độn âm thanh, màu sắc, con
người. Việc vĩnh biệt một con người mà như chuyện mà như chuyện đùa vui, đám
tang hay đám rước, đám hội mà vui như ở hội chợ thế kia. Và đến lúc đám không ...
“cứ đi” nữa mà dừng lại để hạ huyệt. Đến đây màn kịch được đẩy lên đến đỉnh
điểm của sự giả tạo. Vũ Trọng Phụng đã dựng lên hai chi tiết đặc sắc: Một là cậu
Tú Tân bắt mọi người phải cúi đầu, khom lưng để cậu chụp ảnh, hai là ông Phán
mọc sừng khóc tưởng chừng như ngất đi thì lúc ông oặt người để khóc là lúc ông
giúi vào tay Xuân năm đồng để thanh toán món nợ. Chúng nó thật là những kịch sĩ
thượng hạng của tấn trò đời. Cuối chương truyện người đọc còn được nghe trong
đám tang ấy một tiếng khóc vang lên của ông Phán: Hứt ! Hứt ! Hứt ! cái âm thanh
ấy nó mới phức điệu và đa nghĩa làm sao? Hứt! Hứt! Hứt! hay là hay là lấp! lấp!
lấp! hoặc vứt! vứt! vứt! nhanh cái xác cụ già đáng phải chết ấy. Đúng là một cái xã
hội “chó đểu”.
b. Nhân vật trào phúng
Như trên đã nói, mọi việc bắt đầu từ cái chết của cụ tổ của cái gia đình danh giá
đáng phải chết từ lâu ấy đi. Sau thời gian bối rối theo lẽ thường tình của một nhà có
việc tang, khi ba người quan trọng nhất: Vợ chồng cụ Cố Hồng, ông Văn Minh từ
trên gác xuống dưới nhà cắt đặt mọi việc, thì cái gia đình có đại tang ấy bừng lên
một ngày hội. vì “cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, lũ con
cháu ấy mỗi người “sướng” lên một kiểu theo cái cách của riêng mình. Đặc biệt là
đám tang ấy cũng còn làm cho nhiều người – thiên hạ được hưởng lây những niềm
“hạnh phúc”.
Niềm hạnh phúc của đám con cháu:
- Cụ cố Hồng: Vì là cụ cố nên đóng vai già yếu, tuy mới ngoài 50 tuổi nhưng cứ
nửa kín nửa hở, cô đội cái mũ mấn xinh xinh…Tuyết đi lại mời các quan khách rất
nhanh nhẹn với nét mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt của nhà có đám tang nhưng
không phải cô buồn vì cái chết của ông nội mà buồn vì nhớ nhân tình.
- Cậu Tú Tân: Không háo danh, hám lợi như cha và anh của mình, Tú Tân có
niềm vui riêng, cái chết của ông nội là dịp may hiếm có để cậu có dịp sử dụng và
trổ tài chụp ảnh, vì thế mà cậu đã sướng điên cả người vì sự kiện này. Bất nhân, vô
đạo một cách vô tình khi mà trước lúc hạ huyệt cho cụ tổ, Tú Tân đã bắt mọi người
phải đóng một vở kịch ngay trong đám tang: Đó là hắn bắt mọi người phải cong
lưng, phải chống gậy, gục đầu, lau nước mắt….. để cho hắn chụp ảnh. Chất bi hài
của truyện được đẩy lên đến đỉnh điểm khi mà trong giờ phút ấy và cả đám tang
bỗng bật lên tiếng khóc của đứa cháu rể quý hóa – Phán mọc sừng, ông khóc “Hứt!
hứt! hứt!”, cái âm thanh tiếng khóc kì lạ làm sao! tiếng khóc ấy của ông thương cho
người đã khuất chăng? Không phải ông đang đóng kịch trước thiên hạ, và tác giả đã
lật tẩy bộ mặt của hắn khi phát hiện ra, lúc Phán khóc đến oặt người đi là lúc ông
dúi nhanh vào tay Xuân tóc đỏ tờ 5 đồng để trả công hắn đã gọi ông là người chồng
mọc sừng. Đến đây thì sự bất hiếu đã được tác giả đẩy lên đến đỉnh điểm của sự giả
tạo.
Tâm địa của cái lũ người kia tưởng đến thế là ghê tởm. Nhưng chưa hết, tác giả
còn đẩy mâu thuẫn lên một mức nữa khi mà bọn con cháu bất hiếu, bất nhân nhất
trần đời đó còn muốn tỏ ra mình là những kẻ hiếu thảo nhất trần đời nữa kia thế là
chúng tổ chức một đám ma thật to để bày tỏ lòng hiếu thảo với người đã chết.
Niềm hạnh phúc của những người đi đưa tang:
- Đám tang ấy không chỉ làm đại gia đình danh giá ấy sung sướng, hạnh phúc
mà nó còn lan ra cả ngoài xã hội. Bắt đầu là đại diện bộ máy nhà nước, hai cảnh sát
Min Đơ, Min Toa vô cùng hí hửng khi được chủ nhà thuê giữ trật tự. Lí do của sự
mừng rỡ ấy là họ đang không có việc gì làm và họ “đang buồn rầu như nhà buôn
5
sắp vỡ nợ”. Tiếp đến sự xuất hiện rất đúng lúc của hai tên đại bịp Xuân Tóc Đỏ và
Với đặc trưng của loại tiểu thuyết trào phúng, tác giả đã sử dụng một tần số
lớn các lớp ngôn từ mang tính gây cười nhằm phê phán, đả kích. Trong chương
truyện, những lời đối thoại rất ít, chủ yếu là lời trần thuật của người kể chuyện với
sự vận dụng các thủ pháp cường điệu, nói ngược, mỉa mai…sử dụng đan xen, linh
hoạt, song tính chất khách quan chân thực vẫn hiện lên rất rõ nét. Ngay từ đầu tên
chương truyện nhà văn thông báo: “Hạnh phúc một tang gia – Văn Minh nữa cũng
nói vào – Một đám ma gương mẫu” thì chúng ta không khỏi bật cười về cách thông
báo hóm hỉnh của nhà văn. Ngôn từ dành cho cái việc đại hiếu của một gia đình
danh giá như gia đình cụ Cố lại hỗn độn pha trộn tùy tiện chữ Hán, chữ Nôm, nào
6
tang gia, nào văn minh, nào gương mẫu. Cứ như chuyện đùa, chuyện vui vậy. Hay
như mở đầu đoạn trích, tác giả thông báo một tin: “Ba hôm sau, ông cụ già chết
thật”, sao lại có “chết thật” và “chết giả” ở đây, hẳn nhìn từ phía đám con cháu, nó
ẩn chứa một tiếng gieo mừng. Cụ Tổ hẳn đã có những phen “chết giả” làm cho đám
con cháu kia hụt hẫng, thất vọng và cả đại gia đình danh giá ấy đã chờ đợi cái “chết
thật” này quá lâu rồi, nên khi ông cụ chết thật thì người ta vui sướng và hạnh phúc
tột cùng. Vậy nên tang gia ai cũng “hạnh phúc”, “vui vẻ” cả. Tất cả điều ấy được
nhà văn diễn tả cụ thể và sinh động. Ông lật tẩy bản tính háo danh của cụ Cố bằng
ngôn từ mỉa mai chua chát, khi cha chết đang nằm đó thì cụ “mơ màng nghĩ đến lúc
được mặc đồ xô gai, ho khạc, khóc mếu để… cho thiên hạ bình phẩm”, cụ nói 1872
câu “biết rồi, khổ lắm, nói mãi” một cách vô nghĩa trong khi cụ chẳng biết cái quái
gì. Đám con cháu được miêu tả thật hài hước: Ông Văn Minh thì “vui mừng”, bà
Văn Minh thì “sốt ruột”, cậu Tú Tân thì “điên người”, cô Tuyết “sung sướng”, ông
Tuypn thì “bực mình”…người ta sốt ruột vì cái xác ấy sao không mau chóng đem
chôn để con cháu được hưởng niềm hạnh phúc. Xen lẫn tiếng khóc là tiếng “thì
thầm” chuyện vợ con, nhà cửa, may áo…, tiếng “thì thào” của bọn đàn ông bình
phẩm sắc đẹp của các cô gái, tiếng “than thở” về vợ béo, chồng gầy….của những
người đi đưa tang. Việc vĩnh biệt một con người mà hỗn độn chẳng khác một đám
Đây là hoạt động đầu tiên của bài học, việc vào bài hấp dẫn sẽ tạo được tâm
thế và hứng thú trong giờ học cho học sinh, tránh vào bài một cách đơn điệu nhàm
chán. Giáo viên có thể vào bài bằng nhiều cách khác nhau như kể một mẫu chuyện,
đưa một thông tin hấp dẫn, đặt một số câu hỏi có vấn đề cần giải quyết có liên quan
đến bài học, hoặc có thể dùng một số tranh ảnh liên quan đến các nhân vật trong
đoạn trích. Ở bài này có thể cho học sinh xem một đoạn băng trích từ trong phim
đoạn nói về cái chết của cụ Tổ họ Hồng và dẫn dắt cái chết này sẽ là khởi nguồn
cho mọi sự việc, tình tiết mà các nhân vật hiện lên cái bản chất lưu manh, đểu giả
và háo danh, hám lợi của mình. Đoạn trích hôm nay tìm hiểu sẽ minh chứng cho
điều ấy.
b. Hệ thống câu hỏi đọc hiểu văn bản.
Đây là thao tác cần thiết nhất trong giờ học nhằm hướng dẫn học sinh chiếm
lĩnh tri thức, đồng thời phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh.
Hệ thống câu hỏi này một mặt làm sáng tỏ những gì các em đã chuẩn bị ở nhà , mặt
khác nhằm điều chỉnh những nhận thức chưa đúng hoặc những gì chưa hiểu ở các
em. Do đó câu hỏi phải chính xác, rõ ràng, cô đọng, vừa mang tính chất tái hiện
vừa phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo của các em theo cấp độ từ thấp đến
cao, từ đơn giản đến phức tạp. Các dạng câu hỏi nên sử dụng (6 dạng):
- Câu hỏi phát hiện. Dạng câu hỏi này nhằm giúp học sinh phát hiện những
chi tiết, hình ảnh, các sự kiện có tác động đến cảm xúc thẩm mĩ ở các em.
VD: Có thể hỏi: Tình huống gì xảy ra trong đoạn trích ?
Định hướng: Cái chết của cụ cố tổ họ Hồng ở một gia đình danh giá bậc nhất
đất Hà thành. cái cụ già đáng phải chết từ lâu ấy đã làm cho nhiều người sung
sướng, hạnh phúc lắm.
- Câu hỏi giải thích. Câu hỏi này yêu cầu học sinh phải làm sáng tỏ vấn đề
cần quan tâm trong bài giảng, cắt nghĩa từ nữ, hình ảnh, thuật ngữ văn học.
Ví dụ: Em hiểu thế nào là tình huống truyện?. Hoặc em hiểu gì về nhan đề
đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”?
Định hướng: Tang gia thường gắn với đau buồn, thương tiếc. Ở đây tang gia
lại vui vẻ. Nhan đề giật gân, hài hước, trào phúng
Có phóng đại không? Em thích chi tiết nào nhất? vì sao?
- Câu hỏi gợi cảm xúc, trí tưởng tượng. Dạng câu hỏi này nhằm gây cảm
xúc, ấn tượng, sự liên tưởng của học sinh khi tìm hiểu chi tiết hoặc tâm trạng các
nhân vật.
Ví dụ: - Việc lặp lại nhiều lần điệp khúc “Đám cứ đi” có ý nghĩa gì?
Hoặc: Cảnh hạ huyệt giống như màn kịch nhỏ, em hãy hình dung về sân khấu và
không khí lúc này? Hay: Trong suốt đoạn trích em thích chi tiết nào nhất? hãy diễn
tả lại bằng lời nói hoặc hành động?
- Câu hỏi bình giá. Là dạng câu hỏi mở rộng nhằm nâng cao năng lực cảm
thụ của học sinh. Có thể bình ở nhiều góc độ khác nhau như bình một chi tiết, một
lời nói, một hành động, một nhân vật hoặc một khía cạnh tác phẩm. Qua những lời
bình giá của học sinh để các em nâng cao năng lực tiếp nhận văn chương
Ví dụ: Em hiểu gì về tiếng khóc của ông Phán mọc sừng “Hứt! hứt! hứt”?
Định hướng: Âm thanh tiếng khóc của ông Phán nó kỳ lạ, phức điệu và đa
nghĩa làm sao, cả đám ma chỉ có 1 tiếng khóc ấy, song nó đểu giả, dối trá và hài
hước. “Hứt! hứt! hứt” hay là “lấp! lấp! lấp!” nhanh cái xác chết ấy đi, “vứt! vứt!
vứt” cái xác chết ấy đi và nhiều từ còn có thể thay thế cho tiếng khóc của ông Phán.
9
Có thể nói hệ thống câu hỏi là một phương tiện quan trọng nhất trong quá
trình đổi mới phương pháp giúp học sinh chiếm lĩnh tri thức, kích thích khả năng
nhận thức, khám phá và sáng tạo và đi đến nâng cao năng lực cảm thụ văn chương
và hình thành kỹ năng đọc văn trong mỗi học sinh.
c. Trích ngang giáo án “Hạnh phúc của một tang gia”- Tiểu thuyết “Số đỏ” của
Vũ Trọng Phụng.
Hoạt động của thầy và trò
Nội dung cần đạt
I. Tìm hiểu chung. Tiết 1
Tiết 2
- Hình thức bên ngoài và bên trong mâu thuận
nhau.
+ Bề ngoài: Họ tưng bừng đi đưa giấy cáo phó,
gọi phường kèn, thuê xe đám ma, đi tìm lang
băm đông, lang băm tây, lang tì, lang phế…Đặc
biệt là đốc tờ Xuân.
10
- Chia lớp làm 4 nhóm thao
luận.
- Nhóm 1 thảo luận:
- Cái chết của cụ Tổ mang lại
niềm vui như thế nào cho mọi
người?
+ Chỉ ra và phân tích những
biểu hiện và tâm trạng của
từng thành viên trong gia đình
cụ cố Tổ , khi cụ cố tổ qua đời
+ Cách miêu tả có chân thực
không? có phóng đại không?
Tiếng cười trào phúng bật ra
từ đâu?
+ Em thích nhất chi tiết nào?
vì sao ?
- Đại diện nhóm trình bày vấn
đề.
+ Họ vui mừng vì cái chúc thư đi vào thời kì thực
hành.
hạ mình chưa đánh mất cả chữ trinh, được mặc
quần áo ngây thơ, khiêu dâm.
=> Biến đám tang thành buổi dạ hội.
* Cháu nội: cậu (Tú Tân)
- Sướng điên người lên vì có cơ hội khoe tài
chụp ảnh .
=> Bất hiếu vì những sở thích tầm thường, phù
phiếm.
11
*Ông TYPN
- Hồi hộp chờ đợi giây phút sp chế tạo của
mình ra mắt công chúng
* Đứa cháu rể (ông Phán mọc sừng)
-Vui mừng vì cái sừng hươu vô hình trên đầu.
- Vui vì khoản thừa kế được chia, ông ta nghĩ
ngay đến cuộc doanh thương với Xuân.
=> mỗi người có niềm hp riêng nhưng đều có
chung một thái độ:
+ sốt ruột, điên lên, bực mình… háo hức chờ
phát tang như chờ đón lễ hội
+ Hồi hộp chờ chia gia tài kếch xù của người
chết
-> Bọn chúng là một lũ vô nhân đạo, bất hiếu,
háo danh, trái với truyền thống đạo lí .
c. Niềm vui của những thành viên ngoài gia
Nhóm 2 thảo luận:
- Niềm vui của những người đình
ngoài gia đình? Nhận xét về xã * Xuân tóc đỏ
=> bằng bút pháp trào phúng hiện thực tác giả
vạch trần bộ mặt giả rối, rởm đời, chó đểu của xã
hội đương thời.- xã hội suy đồi đạo đức.
Nhóm 3 thảo luận
- Đám tang diễn ra như thế đ. Cảnh đám ma gương mẫu
nào?(Nghi thức, quang cảnh, - Nghi thức: Ta, Tàu, Tây. Hàng trăm câu đối,
không khí)
vòng hoa, lợn quay đi lọng, kiệu bát cống, vài
trăm người đi đưa, ảnh chụp như hội chợ, quần
áo như buổi dạ hội…
=> Quá đầy đủ, long trọng nhưng hổ đốn, bát
nháo cốt để khoe sang, giàu một cách lố bịch và
hợm hĩnh (Thật là một đám ma to tát khiến người
chết cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không
gật gù cái đầu)
- Không khí:
+ Sôi nổi hỗn loạn
+ Vui vẻ, đông đúc, nhộn nhịp. Đám đi tới đâu
- Nhận xét về điệp ngữ “Đám huyên náo tới đó => như một lễ hội
cứ đi”?
* Đám cứ đi: lặp lại và ngắt xuống dòng
- Diễn tả tốc độ chậm chạp đến dềnh dàng của
đám tang chủ yếu để cố ý khoe sang, giàu của
gia đình cụ cố Hồng. Tác giả không muốn người
- Thái độ của tác giả trước đọc nhầm lẫn đám tang thanh đám hội.
thực trạng ấy?
=> tác giả xót xa tố cáo sự vô đạo đức của mọi
- Đại diện nhóm trình bày vấn người trong gia đình cụ cố Hồng, xã hội đương
đề.
thời.
chiếu nhằm tránh sự nhàm chán trong giờ dạy, ở đây giáo viên dùng sơ đồ hóa để
tóm tắt tiểu thuyết Số đỏ, dùng tư liệu phim để trình chiếu một số trích đoạn ngắn
như: Lúc cụ Cố tổ hấp hối, cảnh đám ma gương mẫu hoặc cảnh hạ huyệt. Khi phân
tích các nhân vật cần trình chiếu ảnh chân dung (cắt từ phim) về các nhân vật.
Song để tránh tình trạng “chiếu – xem ” thì giáo viên cũng cần kết hợp với
việc ghi bảng, trong khi trình chiếu cần dành thời gian nhất định cho học sinh quan
sát và suy ngẫm.
Có thể nói việc sử dụng công nghệ thông tin và đồ dùng dạy học trong mỗi
tiết học là cách thức góp phần làm tăng hiệu quả giờ dạy. Đây là một việc rất cần
thiết để tiết học còn thêm phần sinh động.
4. Kết quả thực nghiệm
Qua việc thực hiện phương pháp dạy học đoạn trích “Hạnh phúc một tang
gia” theo đặc trưng thể loại tiểu thuyết trào phúng bằng việc khai thác theo hướng
từ những yếu tố nghệ thuật trào phúng trong việc kết hợp với việc sử dụng các
phương tiện dạy học tôi nhận thấy tiết học sôi nổi hơn, mỗi em học sinh hứng thú
hơn trong việc xây dựng bài mới và đặc biệt hơn nữa các em được quyền sáng tạo
trong tiếp nhận tác phẩm. Đặc biệt hơn khi dạy đoạn trích “Hạnh phúc của một
tang gia” trích Tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng ở hai lớp 11E và lớp 11N
(học lực của 2 lớp tương đương nhau) đã đem lại kết quả khác nhau.
- Cụ thể: Lớp 11E tôi vận dụng phương pháp theo đề tài này, còn lớp 11N thì
thực hiện theo cách dạy cũ.
Học sinh nắm được mức độ kiến thức ngay sau tiết dạy
Lớp
Tốt- Khá
Trung bình
Dưới trung bình
11E/45 HS
65%
25%
10%
11N/45 HS
12 (26,6%)
25 (55,5%)
8 (17,7%)
0%
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Có thể nói, dạy học theo đặc trưng thể loại trong môn Ngữ văn là một vấn đề
cần có sự bàn luận thấu đáo từ nhiều phía, từ các nhà nghiên cứu phương pháp dạy
học, từ các nhà giáo tâm huyết để rút ra phương pháp luận dạy học cho từng thể
loại. Qua đề tài của tôi là muốn góp một tiếng nói vào phương pháp dạy học văn,
có thể nó chỉ phù hợp với một thời điểm và một số đối tượng nhất định, song chúng
tôi đã cố gắng hoàn thành và đã có những kết quả nhất định. Rất mong sự góp ý từ
bạn bè, đồng nghiệp để đề tài được hoàn thiện hơn.
Cần quán triệt trong nhận thức và hành động trong mỗi giáo viên việc dạy
học theo đặc trưng thể loại là một khoa học về phương pháp dạy học văn chứ
không phải chỉ là hình thức. Đó là con đường duy nhất trong việc trả văn bản về
với nơi sinh thành, phát triển nó, đồng thời còn hình thành kỹ năng đọc hiểu văn
bản văn học cho học sinh.
Cần vận dụng một cách linh hoạt, sáng tạo các phương tiện dạy học sao cho
vừa đảm bảo tính hấp dẫn của giờ học vừa không mất đi chất văn.
Học sinh cần có sự chuẩn bị bài chu đáo, không lệ thuộc vào tài liệu.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Thanh Hóa, ngày 18 tháng 5 năm 2013
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
MỤC LỤC
TT
Mục
Tr
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19
20
21
2
2
2
3
3
4
4
5
6
6
7
8
8
8
10
14
14
15
16
17
17