PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC SINH KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG BÀI 9 THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA THEO HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC - Pdf 26

SỞ GD&ĐT HÀ TĨNH
TRƯỜNG THPT NGUYỄN VĂN TRỖI
SÁNG KIẾN
KINH NGHIỆM
Tên đề tài: PHƯƠNG PHÁP HƯỚNG DẪN HỌC
SINH KHAI THÁC KÊNH HÌNH TRONG BÀI 9
THIÊN NHIÊN NHIỆT ĐỚI ẨM GIÓ MÙA THEO
HƯỚNG DẠY HỌC TÍCH CỰC
Họ và tên : NGUYỄN THỊ LOAN
Tổ: SỬ- ĐIẠ- GDCD
Năm học: 2011-2012
Phần I . ĐẶT VẤN ĐỀ
Theo các nhà nghiên cứu, trong phương pháp dạy học tích cực, phương
pháp trực quan tích cực hơn phương pháp dùng lời. Trong sách giáo khoa địa lí
không chỉ có kênh chữ mà kênh hình cũng được đánh giá rất cao trong dạy học
tích cực vì nó khiến học sinh dễ tiếp thu bài học, giờ học sinh động hơn, học
sinh dễ ghi nhớ kiến thức hơn.
Kênh hình trong sách giáo khoa không chỉ có chức năng minh họa mà
còn chứa đựng một lượng kiến thức lớn của bài học. Việc khám phá, tìm tòi
kiến thức từ kênh hình là nhiệm vụ quan trọng của người học sinh trong học
tập. Do vậy, việc hình thành và rèn luyện cho học sinh kỹ năng làm việc với
kênh hình là nhiệm vụ rất quan trọng của người giáo viên. Bởi thực hiện việc đó
cũng chính là “ bồi dưỡng cho các em phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng
vận dụng kiến thức vào thực tiễn” ( điều 24 luật Giáo dục).
Tuy nhiên, trên thực tế dạy học ở trường THPT thời gian qua, việc hướng
dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình còn nhiều hạn chế. Hầu hết giáo
viên không quan tâm đến việc khai thác kênh hình hoặc có khai thác thì cũng
chỉ mới dừng lại ở việc mô tả, không đi sâu khám phá nội dung bản chất của
kênh hình. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân
là giáo viên chưa có phương pháp để hướng dẫn học sinh khai thác kênh hình.
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy môn địa lí tại trường THPT khá

học sinh trong học tập, nhờ đó học sinh hiểu và nắm kiến thức, kỹ năng của
bài học một cách đầy đủ, vững chắc hơn. Đồng thời phát triển ở học sinh tư
duy địa lí: tư duy liên hệ tổng hợp, phát triển năng lực tự học của học sinh.
II. Thực trạng sử dụng kênh hình trong dạy học địa lí ở bài 9 :”thiên
nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”.
Theo các nhà nghiên cứu, để nâng cao hiệu quả dạy học thì cả giáo viên
và học sinh đều phải hiểu sâu sắc về kênh chữ cũng như kênh hình trong
sách giáo khoa. Tuy nhiên, việc khai thác nội dung kênh hình trong sách
giáo khoa là biện pháp quan trọng để nâng cao chất lượng dạy học lại chưa
được quan tâm đầy đủ.
Điển hình trong bài 9” thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” là một bài học
chứa đựng nhiều kênh hình với nội dung phong phú thì chất lượng khai thác
kênh hình lại không được đảm bảo. Trong giờ dạy, vẫn còn nhiều giáo viên
coi việc sử dụng kênh hình nhằm minh họa cho giờ học thêm sinh động,
hoặc có khai thác thì phương pháp và nội dung chưa phù hợp. Vì vậy, việc
khai thác kênh hình chưa được chú trọng phát huy. Nguyên nhân chủ yếu
như sau:
- Thứ nhất: Giáo viên chỉ chú ý đến kênh chữ của sách giáo khoa. Coi
đây là nguồn kiến thức địa lí duy nhất trong dạy học mà không thấy
rằng kênh hình không chỉ cung cấp nguồn kiến thức quan trọng mà
còn chứa đựng một khối lượng thông tin đáng kể. Thậm chí nếu học
sinh khai thác tốt kênh hình sẽ nhớ bài học lâu hơn, tốt hơn mà không
cần phải học thuộc lòng kênh chữ như vẹt
- Thứ hai: Không ít giáo viên không hiểu rõ xuất xứ, nội dung, ý nghĩa
của kênh hình nên ngại hoặc lúng túng khi sử dụng trong giờ học
- Thứ ba: Có nhiều giáo viên nhận thức đầy đủ giá trị, nôi dung của
kênh hình nhưng ngại sử dụng vì sợ mất thời gian, sử dụng qua loa, sơ
sài cho có. Hoặc có sử dụng thì thường là giờ thao giảng, còn giờ học
bình thường để học sinh tự tìm hiểu.
- Thứ tư: Trong một số trường hợp giáo viên khai thác xong kênh chữ,

vượt sang cả nữa cầu Nam. Vào nữa sau mùa đông trên biển hình thành
hạ áp Alêut hút gió mùa Đông Bắc lệch hướng qua biển thổi vào nước ta.
+ Hướng gió: Do tác động của lực Côriôlit và vị trí của áp cao
Xibia nên hướng của gió mùa mùa đông ở Đông Nam Á chủ yếu là
hướng Bắc và Đông Bắc.
+ Tính chất của gió:
. Nữa đầu mùa đông: tính chất lạnh, khô do di chuyển quảng
đường dài trên lục địa.
. Nữa sau mùa đông: lạnh, ẩm, có mưa phùn do di chuyển qua biển
trước khi tác động vào nước ta.
- Hình 9.2: Gió mùa mùa hạ ở khu vực Đông Nam Á
Hình 9.2 thể hiện hoạt động của gió mùa mùa hạ ở khu vực Đông Nam Á
với một số đặc điểm như sau:
+ Nguồn gốc: của gió mùa mùa hạ khá phức tạp, có thể chia theo 2
khoảng thời gian chính:
. Nữa đầu mùa hạ: xuất phát từ áp cao Bắc Ấn Độ Dương qua Vịnh
Bengan vào nước ta.
. Giữa và sau mùa hạ: xuất phát từ áp cao cận chí tuyến Nam ( áp
cao Nam Ấn Độ Dương, áp cao ôxtrâylia) vượt xích đạo đổi hướng di
chuyển lên.
+ Hướng gió: chủ yếu là hướng Tây Nam ( Nam Bộ, Tây Nguyên,
Duyên Hải Miền trung, Tây Bắc) và hướng Đông Nam ( Đồng Bằng Bắc
Bô, Đông Bắc).
+ Tính chất: gió mùa mùa hạ có tính chất nóng ẩm và đem mưa lớn
đến khu vực mà nó tác động. Tuy nhiên, do bức chắn địa hình của dãy
Trường Sơn nên vào đầu mùa hạ ở Duyên Hải Miền Trung và phía Nam
của Tây Bắc chịu ảnh hưởng của hiệu ứng phơn khô nóng.
- Hình 9.3: bản đồ khí hậu Việt Nam
Nội dung hình 9.3 rất đa dạng, dưới đây là một số nội dung chính:
+ Các miền khí hậu: khí hậu nước ta được chia thành 2 miền chính

. Tần suất bão ở các khu vực của nước ta không đồng đều: khu vực
chịu tác động mạnh mẽ nhất của bão là Bắc Trung Bộ ( tần suất 1,3 đến
1,7 cơn/ tháng); khu vực chịu tác động của bão với tần suất thấp là Đông
Bắc, cực Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ ( tần suất 0,3 đến 1 cơn bão/
tháng). Riêng Nam Bộ hầu như không chịu tác động của bão.
III.2. Một số gợi ý khi hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng
kênh hình trong bài 9 “ thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”
So với sách giáo khoa củ, sách giáo khoa hiện hành có sự tăng lên
đáng kể về số lượng và chất lượng kênh hình. Các kênh hình trong sách
giáo khoa hiện nay có hình thức phong phú, nền màu đẹp nên kích thích
tinh thần say mê học tập địa lí của học sinh. Với cách biên soạn này, các
nhà biên soạn đã nhằm định hướng cho hoạt động dạy- học theo hướng
rèn luyện kỹ năng cho học sinh hơn là ghi nhớ lý thuyết. Như vậy, hướng
dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình là đã đi theo chuẫn kiến
thức- kỹ năng theo hướng dạy học tích cực. Vậy dạy học bài 9 “ thiên
nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” bằng phương pháp hướng dẫn học sinh khai
thác và sử dụng kênh hình theo hướng tích cực là làm như thế nào?
Đầu tiên, giáo viên phải hiểu rõ nội dung địa lí trong các kênh
hình 9.1;9.2;9.3. Khi dạy bài này giáo viên cần hướng dẫn cho học sinh
biết cách khai thác lượng thông tin phong phú mà kênh hình truyền tải:
đó là đặc điểm các loại gió ở nước ta (gió mùa mùa đông và gió mùa mùa
hạ với sự khác nhau về nguồn gốc, hướng gió, phạm vi hoạt động, tính
chất); hệ quả của gió mùa đến sự phân mùa khác nhau của các miền khí
hậu nước ta; đặc điểm chế độ nhiệt và chế độ mưa ở các vùng khí hậu;
hoạt động của bão ở Việt Nam
Để sử dụng kênh hình trong bài này có hiệu quả, kích thích không
khí học tập tích cực của học sinh, giáo viên cần sử dụng linh hoạt các
phương pháp như phương pháp đàm thoại gợi mở, phương pháp động
não, phương pháp phát vấn, phương pháp làm việc theo nhóm Đồng
thời giáo viên nên chuẩn bị hệ thống câu hỏi phù hợp khi sử dụng kênh

hạ, giáo viên nên yêu cầu học sinh kết hợp kênh chữ và kênh hình để nêu
lên được các trung tâm áp cao tạo nên gió mùa mùa hạ ở Việt Nam ( đầu
mùa xuất phát từ áp cao Bắc Ấn Độ Dương; giữa và cuối mùa xuất phát
từ áp cao cận chí tuyến Nam). Đồng thời khẳng định cho học sinh thấy
được hình 9.2 đã thể hiện nguồn gốc chính của gió mùa mùa hạ là từ áp
cao cận chí tuyến Nam và đây cũng là nguồn gốc chính tạo nên gió mùa
mùa hạ chính thống ở Việt Nam.
- Hình 9.3: Khí hậu Việt Nam
Do bài 9 có nhiều hình phải phân tích và nội dung của hình 9.3 cũng rất
phong phú, cần khai thác nhiều. Tuy nhiên do giới hạn về thời gian nên
trong quá trình dạy học, giáo viên chỉ nên chọn lọc một số câu hỏi nhằm
khai thác nội dung chính của kênh hình như:
+ Khí hậu nước ta được chia thành mấy miền? Nêu đặc điểm khí hậu cơ
bản của mỗi miền? Sau khi học sinh trả lời, giáo viên nhấn mạnh dưới tác
động của gió mùa đã tạo nên sự phân mùa khác nhau của các miền khí
hậu nước ta.
+ Nêu các loại gió và hướng gió thịnh hành ở nước ta
+ Trình bày hoạt động của bão ở nước ta ( gợi ý trả lời về thời gian hoạt
động, phạm vi của bão)
Yêu cầu cần đạt của các câu trả lời của học sinh nằm ở phần III.1. nội
dung
IV. Vai trò, hiệu quả của việc hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng
kênh hình trong bài 9 “ Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa”
Bài 9 “ Thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa” là một bài có nhiều kênh hình
với nội dung tương đối khó. Vì vậy, nếu giúp học sinh khai thác và sử
dụng kênh hình hiệu qủa sẽ có nhiều ý nghĩa.
Trước hết, việc hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình
trong bài 9 theo hướng tích cực sẽ giúp giáo viên dạy học đạt chuẩn kiến
thức- kỹ năng. Nghĩa là giáo viên đã hình thành cho học sinh kỹ năng
khai thác kênh hình phục vụ nội dung bài học, giúp học sinh phát triển tư

- Át lat địa lí Việt Nam
- Tài liệu chuẩn kiến thức - kỹ năng, tài liệu tham khảo khác.
C. Tiến trình dạy học
1. Ổn định lớp
2. Giáo viên nhận xét bài kiểm tra 1 tiết của học sinh
3. Bài mới
* Khởi động: Giáo viên yêu cầu học sinh nhắc lại hệ tọa độ địa lí nước ta.
Sau đó giáo viên khẳng định vị trí địa lí đã quy định đặc điểm cơ bản nhất
của thiên nhiên Việt Nam là thiên nhiên nhiệt đới ẩm gió mùa. Tính chất
nhiệt đới ẩm gió mùa thể hiện qua tất cả các thành phần tự nhiên trong đó
quan trọng nhất là thành phần khí hậu. Ở tiết học này chúng ta sẽ tìm hiểu về
khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa của nước ta
Hoạt động của GV& HS Nội dung chính
Hoạt động l: Cặp đôi
CH: Dựa vào SGK và kết hợp bảng số
liệu, quan sát bản đồ khí hậu, em hãy
nhận xét tính chất nhiệt đới của khí
hậu nước ta?
- Tổng bức xạ, cân bằng bức xạ.
- Nhiệt độ trung bình năm.
- Tổng số giờ nắng.
CH: Giải thích vì sao nước ta có nền
nhiệt độ cao?
Một HS trả lời, các HS khác bổ sung.
Chuyển ý: Là một quốc gia nằm ở khu
vực nội chí tuyến nhưng nước ta lại có
cảnh quan thiên nhiên trù phú khác hẳn
các nước có cùng vĩ độ ở Bắc Phi. Vì
sao vậy?
Hoạt động 2: Cả lớp.

năm chịu ảnh hưởng cuả gió tín phong
nhưng trên thực tế nước ta lại chịu ảnh
hưởng của gió mùa.
Hoạt động 3: Cả lớp.
- GV đặt câu hỏi: Em hãy cho biết
nguyên nhân nào làm nước ta có sự
hoạt động mạnh của gió mùa?
- HS trả lời, bổ sung
- GV: Sự chênh lệch nhiệt độ của lục
địa Á – Âu rộng lớn với đại dương
Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương đã
hình thành nên các trung tâm khí áp
thay đổi theo mùa, lấn át ảnh hưởng
của gió mậu dịch, hình thành chế độ
- Lượng mưa trung bình năm cao từ:
1500 – 2000mm. Mưa phân bố không
đều, sườn đón gió 3500 - 4000mm.
- Độ ẩm không khí cao trên 80%.
* Nguyên nhân: do nước ta giáp biển
Đông và có nền nhiệt cao nên bốc hơi
lớn
c. Gió mùa
* Nguyên nhân: Do sự nóng lên và
lạnh đi không đều giữa lục địa Á- Âu
và các đại dương theo mùa
gió mùa đặc biệt của nước ta
Hoạt động 4: Nhóm
• Bước 1: Giáo viên chia
lớp thành các nhóm nhỏ
( mỗi nhóm 4-6 HS) và giáo

Bước 3: Gv cho các nhóm trình bày,
nhóm khác nhận xét. GV chuẩn kiến
thức và đặt thêm câu hỏi cho các nhóm
( yêu cầu học sinh quan sát bản đồ khí
hậu trên bảng hoặc hình 9.3sgk)
CH: Khí hậu nước ta được chia thành
mấy miền? Nêu đặc điểm khí hậu cơ
bản mỗi miền? Tại sao miền Nam hầu
như không chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc?
CH: Nêu các loại gió, phạm vi hoạt
động và hướng gió thịnh hành ở nước
ta?
CH: Tại sao khu vực ven biển miền
Trung có kiểu thời tiết nóng, khô vào
đầu mùa hạ?
CH: Trình bày hoạt động của bão ở
nước ta?
Giáo viên yêu cầu học sinh lên bảng
chỉ bản đồ và trình bày câu trả lời
- Sau đó giáo viên yêu cầu HS nêu kết
• Hệ quả: Tạo ra sự phân
luận hệ qủa của gió mùa đến khí hậu
nước ta?
mùa khác nhau của khí
hậu:
- Miền Bắc: mùa đông lạnh,
khô, ít mưa; mùa hạ nóng
ẩm, mưa nhiều
- Miền Nam: có 2 mùa mưa-

Gió
mùa
Nguồn
gốc
Thời gian
hoạt
động
Phạm vi
hoạt động
Hướng gió
Kiểu thời tiết
đặc trưng
Gió
mùa
đông
Áp cao
Xibia
Tháng
11- 4
Miền Bắc Đông Bắc
- Tháng 11, 12, 1 lạnh khô
- Tháng 2, 3,4 lạnh ẩm
Gió
mùa
Hạ
Áp cao
Ấn Độ
Dương
Tháng
5 -6

cũng có tính khả thi trong việc vận dụng vào các bài dạy địa lí khác ở trường
THPT. Tác giả đã thực hiện việc khảo sát kết quả trên 2 vấn đề: Dạy học bằng
phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình theo hướng
tích cực và dạy học theo phương pháp dùng lời. Từ bảng thống kê sau chúng ta
sẽ thấy những ưu điểm cũng như vai trò, ý nghĩa của việc dạy học bằng phương
pháp hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình theo hướng tích cực.
BẢNG THỐNG KÊ THỰC NGHIỆM KHOA HỌC
Lớp Tổng số Dạy học bằng
phương pháp hướng
dẫn học sinh khai
thác và sử dụng
kênh hình theo
hướng dạy học tích
Dạy học truyền
thống bằng phương
pháp dùng lời
Ghi chú
cực
Số HS
tích cực
hoạt
động,
hứng thú
với bài
học
Số Hs
không
tích cực
hoạt
động,

Nói cách khác, phương pháp dạy học và phương tiện dạy học có sự thống nhất
với nhau, hòa vào nhau trong một số khía cạnh nào đó. Như vậy nghĩa là việc
hướng dẫn học sinh khai thác và sử dụng kênh hình theo hướng tích cực cũng là
đã thực hiện việc đổi mới phương pháp dạy học. Do đó, đề tài sáng kiến này
mong đóng góp một phần nhỏ bé vào việc gợi dẫn, định hướng cho giáo viên
quan tâm nhiều hơn đến việc hình thành kỹ năng cho học sinh, tránh lối dạy học
dựa vào sách giáo khoa, lối dạy học đọc chép truyền thống. Đồng thời hình
thành cho học sinh kỹ năng phân tích, tìm tòi, tổng hợp vấn đề, kỹ năng nghiên
cứu khoa học và tự học suốt đời.
Mặc dù phạm vi đề tài chỉ đi sâu trình bày về phương pháp hướng dẫn
học sinh khai thác và sử dụng kênh hình trong một bài dạy học địa lí lớp 12.
Song với hệ thống cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn mà tác giả nêu ra trong đề tài,
hy vọng nó sẽ làm nền tảng để có thể áp dụng cho các bài học địa lí khác có sử
dụng kênh hình.
Trong thực tiễn dạy học địa lí ỏ trường THPT một số năm, tôi nhận thấy
sâu sắc rằng mỗi giáo viên nên có một cách nhìn toàn diện về đổi mới phương
pháp dạy học. Mỗi môn học, mỗi bài học, mỗi đối tượng học sinh lại cần có
những phương pháp dạy học riêng không giống nhau. Người dạy học địa lí khác
các môn học khác là phải hình thành cho học sinh tư duy địa lí, đây không đơn
thuần là tư duy lí thuyết mà phải là tư duy thực tiễn, gắn với sự phân bố của đối
tượng. Để đạt mục đích đó, thiết nghĩ điều quan trọng trước hết là giáo viên
phải hình thành cho học sinh kỹ năng khai thác và sử dụng kênh hình trong sách
giáo khoa. Chính tiết học này tôi đã vận dụng cho nhiều đối tượng học sinh và
thấy có nhiều hiệu quả tích cực nên muốn trình bày cho các thầy cô giáo có thể
lấy làm tham khảo cho các tiết học tương tự. Theo tôi, khi dạy học địa lí nên sử
dụng nhiều phương pháp dạy học phù hợp với phương tiện dạy học đặc trưng ở
từng bài học cụ thể thì bài học sẽ sinh động hơn, hấp dẫn được sự hứng thú, tích
cực học tập của học sinh. Điều này đồng nghĩa với việc học sinh sẽ học tập với
kết quả tối ưu.
Bên cạnh những kết quả đã đạt được, do hạn chế về thời gian và kinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status