A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong quá trình dạy học, kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là
một khâu quan trọng nhằm xác định thành tích học tập và mức độ chiếm lĩnh
kiến thức kĩ năng của học sinh.
Đối với học sinh, nhân vật trung tâm của quá trình dạy học, kiểm tra đánh
giá có tác dụng thúc đẩy quá trình học tập phát triển không ngừng. Qua kết quả
kiểm tra, học sinh tự đánh giá mức độ đạt được của bản thân, để có phương pháp
tự mình ôn tập, củng cố, bổ sung nhằm hoàn thiện học vấn với hệ thống thao tác
tư duy của chính mình.
Đối với giáo viên, kết quả kiểm tra, đánh giá giúp mỗi giáo viên tự đánh
giá quá trình giảng dạy của mình. trên cơ sở đó không ngừng nâng cao và hoàn
thiện mình về trình độ chuyên môn, về phương pháp giảng dạy.
Kết quả kiểm tra đánh giá còn giúp các nhà quản lí giáo dục có cơ sở để
xây dựng đội ngũ giáo viên, xây dựng phương hướng đổi mới nội dung, phương
pháp và hình thức tổ chức giáo dục cho phù hợp với đặc thù của trường mình
Cùng với việc đổi mới chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp
giảng dạy thì vấn đề đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu hết sức quan trọng trong
quá trình giảng dạy và học tập nói chung, cũng như quá trình giảng dạy và học
tập môn Tiếng Anh nói riêng. Đổi mới phương pháp dạy học và đổi mới kiểm
tra đánh giá là hai hoạt động có liên quan chặt chẽ với nhau . Đổi mới kiểm tra
đánh giá là động lực của đổi mới phương pháp dạy học, góp phần thực hiện mục
tiêu giáo dục đào tạo. Đổi mới kiểm tra đánh giá bao gồm nhiều khâu, nhiều nội
dung, nhiều công đoạn trong đó việc đổi mới kiểm tra miệng là khâu hết sức
quan trọng vì đây là một hoạt động diễn ra thường xuyên liên tục. Kiểm tra
miệng là một hoạt động quan trọng. Hoạt động đó không chỉ diễn ra ở thời gian
đầu của mỗi tiết học mà còn có thể diễn ra xuyên suốt trong một tiết học. Nếu
giáo viên lơ là không thực hiện tốt việc kiểm tra miệng thì quá trình tiếp thu kiến
thức của học sinh sẽ bị gián đoạn, các em sẽ bị hổng các kiến thức, kỹ năng cần
có trong mỗi tiết học. Điều này sẽ ảnh hưởng đến kết quả của các bài kiểm tra
định kỳ (1 tiết, học kỳ,...) . Trên thực tế việc kiểm tra miệng trong các tiết học
Tiếng Anh hiện nay còn nhiều bất cập do áp lực của lượng kiến thức , kỹ năng
và toàn xã hội ngày nay. Kiểm tra đánh giá đúng thực tế, chính xác và khách
quan sẽ giúp người học tự tin, hăng say, nâng cao năng lực sáng tạo trong học
tập. Chính vì vậy, để thực hiện một cách hiệu quả quá trình kiểm tra đánh giá ở
các môn học nói chung và ở môn Tiếng Anh nói riêng, mỗi giáo viên cần phải
hiểu rõ và nắm vững một số kiến thức liên quan đến quá trình kiểm tra đánh giá.
I.1. Khái niệm kiểm tra, đánh giá trong quá trình dạy học.
I.1.1. Kiểm tra
Trong Đại từ điển Tiếng Việt, Nguyễn Như Ý định nghĩa kiểm tra là xem
xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, kiểm tra là soát
xét lại công việc, kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét.
Còn theo Trần Bá Hoành, kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, những thông tin
làm cơ sở cho việc đánh giá.
Như vậy, các nhà khoa học và các nhà giáo dục đều cho rằng kiểm tra với
nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế
để đánh giá và nhận xét.
I.1.2. Đánh giá
Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả
công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những
mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện
thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu qủa công việc.
Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống là quá trình thu thập và
xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục. Căn cứ
vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động
trong giáo dục tiếp theo. Cũng có thể nói rằng đánh giá là quá trình thu thập
phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt
2
đến của các mục tiêu giáo dục về phía học sinh. Đánh giá có thể thực hiện bằng
I.3. Những yêu cầu sư phạm cần tuân thủ khi đánh giá kết quả học tập của
học sinh.
Khi đánh giá cần phải tuân thủ những yêu cầu sau:
Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học.
Công cụ đánh giá phải đảm bảo mức độ chính xác nhất định.
Đánh giá phải mang tính khách quan, toàn diện, có hệ thống và công khai.
Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện của việc sử dụng công cụ đánh giá.
I.4. Những nguyên tắc để đánh giá kết quả học tập của học sinh.
Để đánh giá kết quả học tập cần dựa vào những nguyên tắc sau đây
- Đánh giá là quá trình tiến hành, có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của
các mục tiêu đề ra. Vậy, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá là gì.
3
- Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được biểu
hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được.
- Giáo viên cần phải biết rõ những hạn chế của từng công cụ đánh giá để sử
dụng chúng có hiệu quả.
- Khi đánh giá giáo viên phải biết nó là phương tiện để di đến mục đích, chứ bản
thân không phải là mục đích. Mục đích đánh giá là để có nhưng quyết định đúng
đắn, tối ưu nhất cho quá trình dạy học.
- Đánh giá bao giờ cũng gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên
phải chú ý đến việc học tập của học sinh. Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học
tập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm số.
- Đánh giá bao giờ cũng đi kèm theo nhận xét để học sinh nhận biết những sai
sót của mình về kiến thức kỹ năng, phương pháp để học sinh nghiên cứu, trao
đổi thêm kiến thức.
- Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để phát
hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay đổi cách
là cơ sở để chọn phương pháp và quy trình đánh giá kết quả học tập của học
sinh. Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận
được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục.
I.6. Quy trình của việc đánh giá kết quả học tập.
- Căn cứ vào mục tiêu dạy học và mục đích học tập để xác định mục tiêu đánh
giá;
- Lượng hóa các mục tiêu dạy học để đặt ra các mức độ cần đạt về kiến thức, kỹ
năng, thái độ... nhằm xác định nội dung và các tiêu chí đánh giá;
- Lựa chọn phương pháp đánh giá phù hợp với mục tiêu, nội dung đã đề ra trên
cơ sở các đặc điểm của đối tượng được đo lượng, thẩm định và trên cơ sở hoàn
cảnh xã hội;
- Soạn thảo công cụ: Viết câu hỏi, đặt bài toán dựa trên mục tiêu đề ra và nội
dung cần đánh giá;
- Sắp xếp câu hỏi, bài toán tù dễ đến khó, chú ý đến tính tương đương của các đề
(nếu có nhiều đề) và duyệt lại đáp án;
- Tiến hành đo lường;
- Phân tích kết quả, đánh giá độ tin cậy và độ giá trị của bài thi;
- Điều chỉnh, bổ sung để hoàn thiện công cụ đánh giá bài thi.Đánh giá trong giáo
dục là một vấn đề hết sức phức tạp và khó khăn vì nó mang tính tổng hợp nhiều
yếu tố. Vì vậy để đánh giá chính xác một học sinh, một lớp, hay một khóa học,
điều đầu tiên người giáo viên phải làm là xây dựng quy trình, lựa chọn một
phương pháp cũng như thu thập các thông tin cần thiết cho việc đánh giá. Như
vậy, quy trình đánh giá có thể bao gồm bốn bước: đo, lượng giá, đánh giá và ra
quyết định.
II. THỰC TRẠNG.
Với những hiểu biết cụ thể về cơ sở lí luận của quá trình kiểm tra đánh
giá, tôi đã tích cực quan sát và tìm hiểu từ cả giáo viên và học sinh ở trường tôi
cũng như những trường lân cận để nhận thức rõ về thực trạng của quá trình kiểm
Tất cả những yếu tố trên làm cho học sinh lười nhác, thụ động trong học
tập, dẫn đến chất lượng dạy và học không cao.
Từ việc nhận thức rõ thực trạng trên đây, tôi đã dành thời gian tìm hiểu,
nghiên cứu, trăn trở tìm ra những biện pháp mới trong khâu kiểm tra miệng tại
các tiết dạy Tiếng Anh, tạo ra những thay đổi đáng kể trong quá trình đánh giá
học sinh, thúc đẩy quá trình dạy học bộ môn Tiếng Anh theo hướng tích cực, từ
đó nâng cao chất lượng giáo dục ở trường tôi nói chung.
III. GIẢI PHÁP VÀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN.
Kiểm tra miệng là hình thức kiểm tra đầu tiên, cơ bản trong bốn hình thức
kiểm tra của quá trình kiểm tra đánh giá. Kiểm tra miệng cung cấp cơ sở ban đầu
nhưng lại mang tính chất thường xuyên cho quá trình kiểm tra đánh giá. Đối với
bộ môn Tiếng Anh thì kiểm tra miệng lại có vai trò càng đặc biệt hơn. Việc đổi
mới kiểm tra miệng ngay tại lớp không những giúp không khí học tập sinh động
mà còn giúp học sinh tránh được lối học vẹt, học thụ động, học đối phó từ đó
phát huy được tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh và đem lại hiệu quả
cao trong giảng dạy và học tập.
Để kiểm tra miệng trong các tiết dạy Tiếng Anh đạt được hiệu quả tối đa,
tôi đã tổ chức thực hiện những giải pháp sau đây:
III.1. Đổi mới khâu chuẩn bị cho kiểm tra miệng.
- Công việc chuẩn bị trước hết là phải xác định thật chính xác cần kiểm tra
những gì. Tôi xác định mức độ tối thiểu kiến thức và kỹ năng mà học sinh đã thu
nhận được trong quá trình học tập ở ngay tiết học tại lớp, ở tiết học trước hoặc
những tiết học trước, từ đó chuẩn bị câu hỏi kiểm tra miệng cho phù hợp.
- Câu hỏi chuẩn bị đặt ra cho học sinh phải chính xác, rõ ràng để học sinh không
hiểu thành hai nghĩa khác nhau dẫn đến việc trả lời lạc đề.
- Nếu lấy cơ sở là những yêu cầu, bài tập đã có trong sách giáo khoa, tôi thiết kế
lại các yêu cầu, bài tập đó hoặc ra các bài tập tương tự để tránh việc các em sử
dụng các "keys" trong sách “ Hướng dẫn học tốt Tiếng Anh” nhằm đối phó với
giáo viên.
- Câu hỏi chuẩn bị cho học sinh, tôi trình bày trong giáo án rồi đọc cho học sinh
vừa sức với từng đối tượng học sinh. Đối với những câu hỏi khó, tôi thường
dành cho những học sinh có mực độ học khá và những câu hỏi dễ hơn, tôi
thường đặt ra cho những học sinh có lực học trung bình hoặc yếu hơn.
III.4. Đổi mới phương thức nhận xét.
- Người thực hiện nhận xét:
Trước đây, tôi thường là người thực hiện đa số nhận xét, nhưng năm học
này, tôi đã mạnh dạn khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá.
Tôi chỉ thực hiện vai trò nhận xét đánh giá cho điểm cuối cùng hoặc trong
những trường hợp khó quyết định. Sau mỗi câu trả lời hoặc bài tập mà học sinh
được gọi kiểm tra miệng đã đưa ra, tôi không nhận xét, mà thường khích lệ,
dành phần nhận xét đó cho những học sinh khác. Từ đó vừa đánh giá được học
sinh trực tiếp trả lời, vừa đánh giá được sự chú ý và kiến thức của những học
sinh còn lại. Và tôi cho điểm cả những học sinh trực tiếp trả lời hoặc làm bài, cả
những học sinh nhận xét. Đôi khi, tôi yêu cầu chính những học sinh vừa trả lời
nhận xét, đánh giá câu trả lời của mình.
Tôi đã phối hợp các cách kiểm tra và cùng một lúc có thể kiểm tra được
nhiều học sinh : trong lúc gọi một số học sinh lên bảng thì tôi ra cho các học
sinh ở dưới lớp câu hỏi khác sau đó sẽ thu vở nháp của một số em để chấm.
7
- Ngôn ngữ và thái độ nhận xét:
Sau khi học sinh đưa ra câu trả lời, giáo viên phải đưa ra nhận xét và cho
điểm. Nhận xét và điểm số của giáo viên giúp học sinh biết mức độ đúng sai của
câu trả lời, từ đó nhận thức rõ lượng kiến thức mà mình đã nắm được. Hơn thế
nữa, những lời nhận xét của giáo viên góp phần tạo động lực học tập cho học
sinh, vì vậy, sau mỗi câu trả lời (dù đúng hoàn toàn, đúng một phần hoặc không
đúng) tôi vẫn tìm những lời nhận xét mang tính khích lệ học sinh để đưa ra nhận
xét cuối cùng cho học sinh.
8
Ví dụ: Sổ điểm miệng riêng của lớp 11C9 (Học kỳ 2 - Năm học: 2012 - 2013)
Số
Họ và tên học sinh
M1
M2
M
TT
1
Nguyễn Văn Anh
8
9
8.5
2
Lê Văn Bắc
9
9
9
3
Nguyễn Văn Bình
5
7
6
4
Nguyễn Thị Chung
8
8
8.5
…..
III.6. Một số cách kiểm tra miệng cụ thể.
Như ta đã biết , kiểm tra miệng là việc diễn ra thường xuyên, liên tục
trong các tiết dạy Tiếng Anh. Vì vậy hoạt động này phải đa dạng để tránh sự
nhàm chán đơn điệu, tạo không khí sôi nổi trong lớp học và giúp học sinh học
tập tự giác hơn, sáng tạo hơn, chủ động hơn và hiệu quả hơn.
Tuỳ theo mỗi tiết học và tuỳ theo từng yêu cầu về kiểm tra kiến thức, kỹ
năng mà tôi đã áp dụng các cách kiểm tra miệng như sau:
III.6.1. Đối với việc kiểm tra từ vựng.
Cách 1: Gọi một lượt 4 học sinh lên bảng. Giáo viên đưa ra câu hỏi chung cho
tất cả, học sinh nào trả lời được trước thì giáo viên cho phép. Các học sinh còn
lại sẽ trả lời các câu hỏi phụ hoặc bổ sung cho bạn trả lời trước
Ví dụ: Kiểm tra từ vựng của tiết Reading Unit 11- English 11
Yêu cầu mà GV đưa ra: “ Write a word in English that means : vô tận”
HS 1 : đưa từ (infinite)
HS 2 : xác định từ loại (adjective)
HS 3 : đưa ra từ đồng nghĩa (unlimited)
Hs 4: đưa ra từ trái nghĩa ( limited)
Với cách này học sinh sẽ bớt đi tâm lý lo sợ, e ngại khi kiểm tra miệng và có
được nhiều sự lựa chọn hơn
Cách 2: Gọi 8 học sinh lên ngồi các dãy bàn đầu, mỗi học sinh mang theo 1 tờ
giấy có đánh số thứ tự từ 1 đến 10, những học sinh trong lớp còn lại sẽ dùng vở
nháp để ghi các từ do giáo viên yêu cầu. GV đọc các từ lần lượt từ 1 đến 10
bằng tiếng Việt và yêu cầu học sinh ghi các từ đó tương ứng bằng tiếng Anh
Sau đó thu bài của 8 em này và 1 vài bài của các em ngồi bên dưới để chấm
điểm. Mỗi từ đúng tương ứng với 1 điểm
Cũng bằng cách này , GV cũng có thể kiểm tra phần "Pronunciation" của học
sinh bằng cách phát các "handouts" có một số từ và yêu cầu học sinh chọn từ có
học sinh kỹ năng này sẽ có tác dụng rất lớn đối việc khuyến khích các em học
môn Tiếng Anh. Tuy nhiên tùy theo trình độ của các em mà giáo viên nên có
những yêu cầu phù hợp nhằm khuyến khích và động viên các em thực hành
tiếng . Trong giờ Speaking tùy theo các task mà tôi sẽ yêu cầu các em thực hành
theo cặp, nhóm hoặc cá nhân. Tôi cũng cho học sinh điểm thực hành của kỹ
năng này. Đối với kỹ năng này tôi chỉ áp dụng những task vừa sức với các em.
Hoặc có thể cho điểm cọng cho các em xung phong thực hành trước lớp theo
cặp hoặc nhóm
Ví dụ: Task 3- Speaking - Unit 6: Competitions - English 11
Works in pair. Talking about a competition or contest you have recently joined
or seen. Use the suggestions below:
1. Where and when did you see or take part in?
2. What type of competition/ contest was it?
3. Who organized it?
4. Who participated in it?
5. Who won the competition / contest?
10
6. Did you enjoy it? Why/ why not?
Sau khi hướng dẫn, gợi ý và làm mẫu với một học sinh khá trong lớp, tôi
yêu cầu học sinh thực hành theo cặp, một em hỏi và một em trả lời. Trong thời
gian các em đang thực hành, tôi có thể đi quanh để giúp đỡ các em nếu thấy cần
thiết. Sau khoảng 8- 10 phút tôi gọi một số cặp đứng lên thực hành, sau đó nhận
xét và cho điểm
III.6.4. Đối với tiết học Listening.
Đây là kỹ năng khó vì vốn từ của các em còn hạn chế và các em cũng
không quen với giọng người bản xứ nên kiểm tra các em kỹ năng này ngay trong
giờ bài mới là rất khó thực hiện. Thay vào đó, tôi sẽ kiểm tra miệng các em
bộ các bài của cả lớp và chọn ngẫu nhiên bài của một số em sau đó giáo viên gọi
học sinh cầm những câu hỏi đó để làm bài kiểm tra miệng của mình.
11
III.6.5. Đối với tiết học Writing.
Kỹ năng này ít được áp dụng vào các bài kiểm tra thường xuyên ở lớp vì
chiếm thời gian lớn và không phù hợp với kiểu đề trắc nghiệm .Vì vậy để giúp
các em tích cực hơn trong việc học kỹ năng Writing, giáo viên có thể thiết kế lại
một số nội dung của bài viết để tránh tình trạng học sinh sử dụng sách tham
khảo để đối phó hoặc đưa ra các dạng bài tập phù hợp hơn như sentence
building, sentence transformation .... để các em làm rồi sau đó giáo viên sửa và
cho điểm một số em, hoặc cho điểm theo nhóm.
Ví dụ : Writing - Unit 12 - English 11: Guided sentence building
Cách thực hiện: sau khi gợi ý giúp học sinh có được từ vựng và các ý tưởng cần
thiết, tôi yêu cầu học sinh làm việc cá nhân, mỗi học sinh sẽ lựa chọn cho mình
3 câu để hoàn thành, và 3 câu này không được giống với người bên cạnh
1. We / have / a lot/ things/ do/ prepare/ coming Asian Games
2. We/ build/ one / National stadium/ sports building/ car park
3. We/ widen/ training areas/ roads / sports buildings
4. We/ equip/ hotels/ guest houses/ modern facilities
5. We/ promote/ advertise/ preparations / the Asian Games / the radio/ TV
6. We/ hold / competition / choose an offcial song
7. We/ recruit/ volunteers/ be/ good/ English/ serve the Games
III.6.6. Đối với tiết học ngữ pháp ( Language Focus).
+ Đối với tiết học bài mới:
Tôi thường thiết kế lại một số bài tập trong sách giáo khoa (để tránh tình
trạng học sinh dùng sách hướng dẫn để trả lời ) đồng thời ra thêm một số bài tập
trắc nghiệm trong phần production, sau đó gọi học sinh lên bảng làm để lấy
giúp cho học sinh có điều kiện ôn tập, củng cố và rèn luyện kỹ năng giải bài tập
về ngữ âm và ngữ pháp cũng như phần biến đổi câu ( đây là phần được gặp rất
nhiều trong các đề thi, kiểm tra định kỳ)
Trong tiết này tôi sẽ phát bài tập gồm 10 câu trắc nghiệm khách quan cho
cả lớp làm trong 10 phút, đồng thời gọi 2 học sinh lên bảng, mỗi em làm 3 câu
tự luận ( thường là biến đổi câu hay viết lại câu dùng từ gợi ý cho sẵn …) Sau
10 phút tôi thu bài của 5 em học sinh bất kỳ và giao cho 5 em khác chấm, 2 em
học sinh trên bảng vẫn tiếp tục giải trong khi giáo viên sửa 10 câu trắc nghiệm.
Sau đó giáo viên thu lại bài của 5 em được chấm và kiểm tra lại, ghi điểm vào
cột M2. Tiếp tục hướng dẫn cách làm bài tự luận trên bảng và yêu cầu 2 học
sinh chấm chéo cho nhau, giáo viên vừa sửa cho cả lớp vừa quan sát để cho
điểm.
Như vậy đây là hình thức kiểm tra phát huy được tính chủ động, tích cực
của học sinh, giảm bớt áp lực căng thẳng trong kiểm tra miệng vừa phát huy
được việc đổi mới kiểm tra đánh giá cả 2 hình thức tự luận và trắc nghiệm, vừa
kiểm tra miệng, vừa ôn tập.
IV. KIỂM NGHIỆM.
Để đánh giá khách quan và chính xác những đổi mới trong kiểm tra miệng
có ảnh hưởng như thế nào đến chất lượng điểm miệng, đến kết quả học tập của
học sinh, đến hiệu quả giảng dạy của các giờ Tiếng Anh, tôi đã mạnh dạn thực
nghiệm những đổi mới này tại lớp 11C9, và so sánh với lớp 11G9, lớp không áp
dụng những đổi mới trong kiểm tra miệng.
1. Kết quả ở lớp 11G9 - Lớp không kiểm nghiệm đổi mới trong kiểm tra miệng.
- Điểm kiểm tra miệng của các em không cao, có nhiều em bị điểm dưới trung
bình và điểm o do các em lười học bài cũ, hoặc do các câu hỏi kiểm tra bài cũ
đơn điệu, hoặc câu hỏi quá khó.
- Điểm trung bình môn học kỳ của các em thấp hơn.
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ II năm học 2012 - 2013
Lớp
Tổng số
2. Kết quả ở lớp 11C9 - Lớp kiểm nghiệm những đổi mới trong kiểm tra miệng.
- Sau một năm áp dụng phương pháp mới này, hầu hết học sinh của tôi có điểm
kiểm tra miệng cao hơn năm trước và cao hơn so với các lớp khác cùng khối 11,
không có em bị điểm dưới trung bình và điểm 0.
- Điểm trung bình môn học kỳ cũng được tăng lên rõ rệt.
13
Số liệu thống kê điểm kiểm tra miệng học kỳ II năm học 2012-2013
Tổng số
8-10
6-7
4-5
1-3
0
Lớp
học sinh
điểm
điểm
điểm
điểm điểm
11C9
40
20
15
5
0
0
Số liệu thống kê điểm trung bình môn học kỳ II năm học 2012-2013
kiểm tra miệng, thì sang năm học này các em đã thấy thật sự thoải mái và có
phần thích thú khi ngay giữa giờ dạy, với một câu trả lời đơn giản cho một câu
hỏi không khó, các em được nhận ngay 8, 9 hoặc 10 điểm. Kết quả học tập của
học sinh đã được cải thiện đáng kể. Chính điều đó cũng là động lực giúp giáo
viên nhiệt tình, phấn chấn hơn trong các giờ dạy.
Thêm vào đó, Thông qua các hình thức kiểm tra miệng thường xuyên này ,
giáo viên sẽ phát hiện được khả năng của học sinh cũng như biết được em nào
còn yếu kém để kịp thời giúp đỡ các em bổ sung kiến thức và kỹ năng. Ngoài ra
còn giúp giáo viên điều chỉnh quá trình dạy học của mình cho phù hợp với trình
độ hiểu biết, nhận thức của học sinh.
Tuy nhiên để áp dụng những cải tiến này một cách hiệu quả, đòi hỏi sự
chuẩn bị rất chu đáo của giáo viên. Giáo viên phải thiết kế lại các Exercise, các
Task trong sách giáo khoa và ra thêm các dạng bài tập sát với các đề kiểm tra,
đề thi. Ngoài ra giáo viên phải đánh giá thật công bằng, khách quan, thái độ cư
xử phải tế nhị, khuyến khích, động viên các em kịp thời và phải nhạy cảm về
mức độ khó - dễ của câu hỏi khi đưa ra cho từng đối tượng học sinh. Trong khi
kiểm tra bài của học sinh thì giáo viên phải có cách để thu hút được các học
sinh khác cùng tham gia để giải quyết vấn đề, tránh tình trạng giáo viên hỏi đáp
với một người. Giáo viên đặt hệ thống câu hỏi để cho cả lớp cùng suy nghĩ và
huy động kiến thức, như thế thì có khả năng kiểm tra trình độ hiểu biết của các
học sinh trong lớp.
Qua thực tế giảng dạy và thực hiện đề tài này tôi xin được kiến nghị một số
việc như sau:
- Chương trình sách giáo khoa nên được giảm tải để giáo viên có thời gian hơn
trong việc kiểm tra miệng học sinh
- Hình thức đánh giá và thi cử nên được cải tiến, các đề kiểm tra không nên
100% trắc nghiệm, vì như vậy sẽ không đánh giá được các kỹ năng "Speaking,
Writing"... của học sinh. Qua đó hạn chế tính lại, lười nhác của học sinh trong
việc tích luỹ kiến thức, kỹ năng, từ vựng….đồng thời giúp học sinh thấy được
kết quả phản ánh đúng với khả năng thực của các em.
Đơn vị công tác: Trường THPT Lê Viết Tạo
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Tiếng Anh
THANH HÓA, NĂM 2013
17
18