skkn dạy học văn bản “đàn ghi ta của lorca” (thanh thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm - Pdf 35

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HƯNG YÊN
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG MỸ HÀO

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Dạy học văn bản
“Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo)
theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

Người thực hiện: Nguyễn Thị Thu Giang
Giáo viên trường THPT Mỹ Hào

Mỹ Hào, tháng 4 năm 2014


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU

Trang

1. Lí do chọn đề tài………………………………………………………………………2
1.1.Cơ sở lí luận…………………………………………………………………………..2
1.2. Cơ sở thực tiễn……………………………………………………………………….2
2.Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu……………………………………………4
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu………………………………………………………4
4.Phương pháp nghiên cứu……………………………………………………………….4
CHƯƠNG 1: VAI TRÒ CỦA CHẤT THƠ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH…….7
1.1. Quan niệm về chất thơ trong tác phẩm văn học………………………………………7
1.1.1. Chất thơ trong thơ trữ tình………………………………………………………………11
1.1.2. Chất thơ trong thơ mang dáng dấp tượng trưng, siêu thực……………………….13

trình ngữ văn 12, tập I từ năm 2008 đến nay đã thu hút được sự quan tâm của nhiều
nhà nghiên cứu văn học, giáo viên và học sinh. Đây là một bài thơ hay và độc đáo
cả về phương diện nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật, là một thi phẩm xuất
sắc nhất của Thanh Thảo đồng thời là một sáng tác tiêu biểu cho xu hướng cách tân
thơ Việt trong giai đoạn văn học sau 1975. Tác phẩm được viết theo khuynh hướng
thơ tượng trưng, siêu thực với cách biểu đạt mới lạ. Nhưng để cảm hiểu được cái
hay, cái mới của bài thơ này lại là một thách thức không nhỏ với người dạy và
người học.Chính vì vậy, việc giảng dạy của giáo viên, học tập của học sinh về bài
thơ trên không dễ thành công. Đối với học sinh, bài thơ trên khó học bởi lối biểu đạt
và cách sử dụng ngôn từ hết sức lạ của Thanh thảo khiến các em lúng túng trong
cách giải mã ngôn từ, dẫn đến khó liên tưởng, tưởng tượng nhiều chi tiết, hình ảnh
trong tác phẩm. Đối với giáo viên, bài thơ trên khó dạy ở chỗ: đây là bài thơ có lối
sử dụng hình ảnh táo bạo, ngôn ngữ giàu giá trị biểu trưng có khả năng mở ra nhiều
tầng bậc ý nghĩa và liên tưởng phong phú. Nhiều giáo viên đã dạy bài thơ này như
dạy một truyện vì mải mê hướng dẫn học sinh tìm hiểu vẻ đẹp của hình tượng Lorca
mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo, là tấc lòng tri âm, tiếng nói cảm thông
sâu sắc, sự đánh giá cao của Thanh Thảo với Lorca….. Việc xác định chủ đề tư
tưởng bài thơ và các tầng ý nghĩa của các hình ảnh thơ không hề đơn giản và không
dễ thống nhất nếu không đưa ra được cách cắt nghĩa, lí giải phù hợp. Thực tế cho
thấy đã có nhiều cách hiểu xa rời văn bản thậm chí sai lệch về giá trị đích thực của
bài thơ.
1.2. Cơ sở thực tiễn
Việc giảng dạy môn văn trong nhà trường phổ thông trung học hiện nay còn nhiều
vấn đề cần suy ngẫm. Một trong những vấn đề nổi cộm là làm thế nào đưa môn văn
về đúng vị trí và vai trò của nó- là một môn học khoa học xã hội và nhân văn giàu
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

2



Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

3


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

thơ của tác phẩm. Với mong muốn có những đóng góp cho việc học tập và giảng
dạy tác phẩm được thành công hơn.
2.Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.Mục đích nghiên cứu
-

Khẳng định giá trị về mặt nội dung tư tưởng và hình thức nghệ thuật của bài
thơ.

-

Đề xuất cách thức dạy bài thơ này có hiệu quả.

2.2.Nhiệm vụ nghiên cứu
-

Tìm hiểu chất thơ của tác phẩm Đàn ghi ta của Lorca (Thanh Thảo)

-

Hướng dẫn học sinh đọc, vận dụng chất thơ trong quá trình đọc- hiểu bài thơ
“Đàn ghi ta của Lorca”.

Phương pháp thực nghiệm sư phạm (điều tra, phỏng vấn, phương pháp
chuyên gia….)

Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

4


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

CHƯƠNG 1
VAI TRÒ CỦA CHẤT THƠ TRONG DẠY HỌC THƠ TRỮ TÌNH
1.1. Quan niệm về chất thơ trong tác phẩm văn học
Trong sáng tác văn học nghệ thuật, chất thơ được xem như một đặc tính quan
trọng đem lại sự cuốn hút kì diệu cho hình tượng nghệ thuật và tác phẩm. Chất thơ
biểu hiện ở cái đẹp của ngôn ngữ và âm điệu, cái đẹp của cảm xúc và ý tưởng…
Chất thơ chính là sự khám phá cuộc sống bằng nghệ thuật đa dạng, độc đáo đem lại
vẻ đẹp và xúc động tâm hồn cho người đọc. Thông thường người ta cho rằng chất
thơ là một thuộc tính chỉ riêng thơ mới có. Nhưng thực ra chất thơ có thể tìm thấy
trong cả những thể loại văn học khác như văn xuôi ( tiểu thuyết, truyện ngắn, tản
văn….), kịch… Chất thơ được tạo nên từ những hình ảnh đẹp, giàu sức biểu cảm, từ
những ngôn từ giàu nhạc điệu, bay bổng thanh thoát….Vậy là “ cái chất trữ tình bay
bổng, diệu kì của hình ảnh , âm điệu, ngôn ngữ…vốn là của thơ ca, đến một lúc nào
đó lại có thể tìm thấy trong hầu hết các thể loại”
Tác phẩm văn chương chính là sự thẩm thấu của nhà văn về cái đẹp trong
cuộc sống và nghệ thuật. Người ta thường nói đến chất thơ trong tác phẩm văn học
và trong đời sống, khi nói đến chất thơ là nói đến nhân tố thuộc nội dung, chất thơ
có thể nằm đây đó trong cuộc sống ở những mặt kết tinh tiêu biểu, hoặc ở trong văn
xuôi. Nhưng nói như thi hào Huy Gô, chất thơ bộc lộc một cách diễn cảm, mầu sắc
qua cấu trúc của ngôn ngữ thi ca.

Tuân nhận xét “Định nghĩa về chất thơ cho thật chính xác và toàn thập, tôi thấy nó
cúng khó như định nghĩa cho chất uymua (humour). Nhưng khi chúng ta quan niệm
“thơ không phải là cái gì thần bí, siêu việt, thơ gắn liền với cuộc sống, với tâm hồn
con người và năng lực sáng tạo của người nghệ sĩ thì việc tìm hiểu chất thơ lại là
cần thiết và quan trọng để làm cơ sở lí luận đi vào địa hạt thơ ca.”
Chất thơ trong tác phẩm văn học trước hết gắn liền với sự rung động và cảm
xúc trực tiếp. Nếu xem bản chất giàu cảm xúc là một năng lực tinh thần thuộc về
bản chất của người nghệ sĩ thì điều đó trước hết phải có ở người thi sĩ, Nói như
Xuân Diệu :
“Là thi sĩ nghĩa là ru với gió.
Mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây
Để linh hồn ràng buộc với muôn dây”
Cảm xúc là nhân tố quan trọng tạo nên hình tượng. Có nhiều cách để tạo nên
cảm xúc như qua miêu tả hình ảnh, hoặc qua liên tưởng, so sánh hoặc qua nghệ
thuật sử dụng ngôn ngữ. Nhưng điều quyết định chính là ở tấm lòng vì “thơ là tiếng

Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

8


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

lòng” (Ngô Giang Tiệp- đời Thanh) “Thơ từ trái tim đi và trở về với trái tim”
(Worthworth).
Chất thơ trước hết là ở tấm lòng nhưng chất thơ cũng bắt nguồn từ hiện thực
cuộc sống muôn màu. Một bức tranh thiên nhiên, một khung cảnh lao động của con
người, hay một cảnh đời lam lũ…. Cũng là tiền đề làm nên vẻ đẹp nên thơ của tác
phẩm văn học. Trong tác phẩm văn học nhất là trong thơ có nhiều câu được cấu tạo
nên chủ yếu bằng cảm xúc, bằng thuần túy chất liệu của tâm hồn

cách biệt nhau thành một nguồn mạch thống nhất. Trí tưởng tượng chắp cánh cho tâm
hồn bay lên vượt khỏi những giới hạn xác định của một địa điểm và thời điểm cụ thể
mà trở về với quá khứ, sống trong ước mơ với tương lai. Trí tưởng tượng là một động
lực tinh thần quyết định giờ phút nhổ neo cho con thuyền tìm về những mảnh đất xa
xôi và những bến bờ xa lạ, ở đấy một giấc mơ có khả năng trở thành một sự thực.
Tưởng tượng cũng chính là them vào cái có thật phần nên có và sẽ có, là sự chuẩn bị
tích cực cho một hành động sáng tạo và bản thân nó là một sự sáng tạo.
Nói đến thơ ca là nói đến sức tưởng tượng. Nhà thơ Sóng Hồng đã chỉ ra đặc
điểm quan trọng này của thơ “Thơ là nghệ thuật kì diệu bậc nhất của trí tưởng
tượng”. Apooline đã có lí khi nhận xét: “Cái lĩnh vực phong phú, ít được biết đến
nhất, cái lĩnh vực có một chiều rộng không ngờ là tưởng tượng, vì vậy không có gì
lạ nếu người ta đã dành danh hiệu nhà thơ chủ yếu cho những người đi tìm những
niềm vui mới rải rác trên những không gian đồ sộ của tưởng tượng”
Chất thơ cũng gắn liền với cái đẹp. Thơ không phải chỉ nói đến cái đẹp trong
cuộc sống mà nói về cuộc sống với một lí tưởng đẹp. Không phải ngẫu nhiên
Etgapô cho rằng: “Cái đẹp là địa hạt hợp pháp của thơ ca”. Còn Bô-đơ-le xem thơ là
“ước mong của con người vươn tới một cái cao đẹp cao thượng”. Chúng ta có thể kể
thêm nhiều quan niệm khác và cách nói nhiều khi thiếu mức độ và quá đi như quan
niệm của Seli “Thơ ca biến mọi vật thành đẹp, nó làm tăng vẻ đẹp của những cài gì
đẹp nhất, nó đem lại vẻ đẹpcho những cái gì xấu xí nhất”.Cái đẹp là phẩm chất và
cũng là quy luật chung của sự nhận thức và sáng tạo trong nghệ thuật.
Toàn bộ những phẩm chất trên hợp thành chất thơ trong sáng tạo của nghệ
thuật. Chất thơ của mỗi nhà thơ được hình thành với những đặc điểm riêng do trình
độ và năng lực tinh thần, do hoàn cảnh từng cá nhân qui định. Có thể thông qua
thành phần cấu tạo của chất thơ mà tìm hiểu những mặt nhất định của phong cách
thơ của từng tác giả. Cái đẹp trong thơ là sự thống nhất thẩm mĩ giữa những phẩm
chất của thực tại khách quan với cái đẹp trong tâm hồn người nghệ sỹ. Do đó, tuy có
nhiều quan niệm khác nhau về chất thơ trong văn học nhưng có thể tổng hợp các ý
kiến đó trong cách hiểu sau: “Với trí tưởng tượng phong phú và những rung động
sâu xa của tâm hồn, nhà thơ phản ánh hiện thực xã hội và tâm trạng con người

nặng tâm hồn hay thoáng qua trong giây lát đều gắn liền với một cái gì đó của đời
sống bên ngoài nhưng sâu xa hơn là tiếng nói thầm kín của trái tim và tâm hồn
người nghệ sĩ. Phải thâm nhập vào thế giới tâm hồn của chủ thể, hình dung được
trạng thái xúc cảm của tác giả trong quá trình hình thành văn bản chứ không phải
nhìn vào nội dung được nói tới của bài thơ ấy sau khi nó đã hoàn thành. Muốn thế
phải thâm nhập vào tiếng nói của chủ thể để cảm thông, lắng nghe, hình dung… và
phải đọc lên cho cảm xúc hiện ra trong hình ảnh, nhịp điệu. Thơ trữ tình chính là
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

11


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

những nỗi niềm tâm sự riêng của tác giả. Nhà thơ là nhân vật chính, là hình bóng
trung tâm, là cái tôi bao quát trong toàn bộ sáng tác. Có nhiều cuộc đời thi sĩ gắn
liền với đời thơ như hình với bóng, những sự kiện, hành động và tâm tình trong
cuộc đời riêng cũng in lại đậm nét trong thơ. Nói như Hàn Mặc Tử:
Người thơ phong vận như thơ ấy
Garxia Lorca cũng nói một cách cảm động về mối quan hệ giữa nhà thơ và
đời thơ
“Mỗi bài thơ mà hôm nay tôi trao vào tay bạn đọc thân mến là nảy sinh cùng
với mầm mống trên cái cây xao động của cuộc đời đang nở hoa. Coi thường quyển
sách này sẽ là tàn nhẫn bởi vì nó gắn liền khăng khít với bản thân cuộc đời tôi. Ở
ngay sự yếu đuối của nó, sự nghèo nàn mà tôi thừa nhận vẫn có một sức mạnh của
nó trong số những sức mạnh khác mà chỉ có tôi mới phát hiện được”.
Sự thống nhất giữa cuộc đời nhà thơ và cái tôi trữ tình trong sáng tác là một
hiện tượng khá phổ biến. Thơ trữ tình từ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm đến Hồ
Xuân Hương, Cao Bá Quát, Tú Xương, Phan Bội Châu, Tố Hữu ….đều biểu hiện rõ
nét sự thống nhất trên. Thái độ bất bình với những xấu xa và lố lăng của xã hội, nụ

Chủ nghĩa tượng trưng (Tiếng Pháp : le symbolism) ra đời ngay từ thời kì cuối
thế kỉ XIX với những tên tuổi lớn như Bô-đơ-le, Vec-len, Rim-bô, Ma-lac-me…..
Các nhà tượng trưng nhấn mạnh: Mọi nghệ thuật đều mang tính tượng trưng và
nhấn mạnh cái tượng trưng bao giờ cũng gắn với cái kinh nghiệm, cái trần thế gắn
với thế giới khác bằng sự trải nghiệm cá nhân thể hiện qua chiều sâu của tâm hồn,
của nhận thức và của cái vĩnh cửu. Hình tượng trong thơ tượng trưng mang tính
chất đa nghĩa, bất định vì nó ghi lại cảm xúc của con người trong sự tồn tại của “
khu vực bí ẩn” như cách nói của Ma-lac-mê hay như cách diễn đạt của Mê-tec-linh.
Thơ tượng trưng yêu cầu thơ “trước hết phải có nhạc tính” (Vec-len). “Quan niệm
tượng trưng như là hình tượng có khả năng không chỉ biểu đạt những sự tương hợp
của các khách thể và hiện tượng mà trước hết có khả năng truyền đạt “nội dung thể
nghiệm của ý thức” (Bê-Lưi). Về cấu trúc, thơ tượng trưng hay thơ siêu thực đều
không sử dụng hình thức tuyến tính mà chuyển sang hình thức bề nổi có thể cảm
nhận bằng kĩ thuật in ấn hay hình thức âm thanh , đi vào cấu trúc không gian với
cách thức biểu hiện là không vần (non ver), và cách thức đảo lộn ngữ pháp cổ điển,
cắt rời câu chữ để tạo một trật tự mới, tạo ra loại ngôn ngữ mang màu sắc mới trên
cơ sở các ngữ căn sẵn có.
Chủ nghĩa siêu thực (tiếng Pháp: le surealisme) xuất hiện vào năm 1922,
trước hết là tiếng nói phản kháng của lịch sử. Các giá trị đạo đức và tinh thần truyền
thống đang đứng trước nguy cơ tan vỡ hoặc sụp đổ; các cá nhân mà nhậy cảm nhất
là văn nghệ sỹ bị đặt trước một thực tế trần trụi phũ phàng. Họ không còn cách nào
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

13


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

khác là chạy trốn vào các giấc mơ, đi tìm một hiện thực khác, cao hơn (siêu thực)
nằm ngoài, nằm bên tren cái hiện thực đang tồn tại. Chủ nghĩa siêu thực đề ra một

14


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

nhạc truyền thống, các nhà thơ đã ảnh hưởng chủ nghĩa tượng trưng nên có xu
hướng biến mỗi từ trong thơ thành một bán âm của nhạc.
Một đặc điểm nổi bật của thơ tượng trưng, siêu thực là những biểu tượng đa
nghĩa được tác giả xây dựng dựa trên sự liên thông về ý nghĩa với nhau. Văn học
Việt Nam hiện đại sau năm 1975, từ các nhà thơ trưởng thành trong kháng chiến
chống Mĩ như Thanh Thảo, Y Phương đến các cây bút trẻ sau này như Nguyễn Việt
Chiến, Vi Thuỳ Linh, Nguyễn Vĩnh Tiến… đều có ảnh hưởng ít nhiều màu sắc
tượng trưng. Chính lối viết này đã thu hút được người đọc bởi khả năng biểu cảm và
tính đa nghĩa của hình tượng. Điều đó lí giải tại sao ngôn ngữ thơ mang mầu sắc
tượng trưng lại chiếm một số số lượng lớn trong các thi phẩm ở giai đoạn này. Nhà
thơ Thanh Thảo là một đại diện tiêu biểu cho khuynh hướng này và cũng là nhà thơ
sử dụng khá thành công ngôn ngữ thơ tượng trưng. Những biểu tượng đã thành kinh
điển trong thế giới nghệ thuật như: áo choàng đỏ, ghi ta, vầng trăng, đáy giếng đã
được làm mới, được gia cố, trang bị thêm những ý nghĩa mới để trở thành những
biểu tượng mới lạ. thể hiện khả năng biểu đạt của ngôn ngữ thơ tượng trưng: Tâyban-nha áo choàng đỏ gắt (gợi hình ảnh dũng sĩ đấu bò tót của Tây Ban Nha), tiếng
ghi ta nâu (gợi sức sống của nghệ thuật luôn gắn bó với cuộc sống ), giọt nước mắt
vầng trăng (gợi sự thương cảm của nhân loại với người nghệ sĩ Lorca sau khi ông bị
sát hại…)
Lối diễn đạt khác lạ bằng những cú pháp mới gợi chất tượng trưng
Thơ Việt Nam ở những giai đoạn trước thường có những kiểu cú pháp thơ đơn giản
như: Trời xanh đây là của chúng ta/ Núi rừng đây là của chúng ta (Nguyễn Đình
Thi); Em là con gái Bắc Giang/ Rét thì mặc rét, nước làng em lo (Tố Hữu). Đặc
điểm chung của những kiểu cú pháp này là khả năng cắt nghĩa, thuyết minh, tường
minh nghĩa hàm ẩn nhằm đạt hiệu quả thẩm mĩ. Hiệu quả thẩm mĩ đó được hiểu là
sức cổ vũ, tuyên truyền nhằm kêu gọi tinh thần yêu nước, gắn kết khối đoàn kết dân

sống của nhà văn. Vì thế trong tác phẩm văn chương cảm xúc thẩm mĩ được thể
hiện tập trung nhất, cô đọng, sâu sắc và mãnh liệt nhất. Và vì thế cảm xúc thẩm mĩ
trong tác phẩm văn chương có khả năng tác động mạnh đến cảm xúc thẩm mĩ của
người tiếp nhận.
Tác phẩm văn chương là nơi kết tinh, hội tụ cái đẹp trong đời sống,
trong thế giới tự nhiên. Bên cạnh đó trong quá trình sáng tác nghệ thuật các nhà văn
không chỉ sáng tạo, không chỉ thể hiện tài năng, sự nhạy cảm của bản thân trong tác
phẩm mà hơn ai hết họ đem đến cho tác phẩm của mình một tâm hồn giàu cảm xúc,
một trực giác nhạy bén. Bằng những rung động và cảm xúc mãnh liệt trước cuộc
sống người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn chương, xây dựng hình tượng văn học,
tạo nên mỗi dòng thơ, trang viết day dứt, xúc động lòng người. Điều ấy tạo nên sự
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

16


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

lôi cuốn hấp dẫn cho tác phẩm, khiến cho tác phẩm văn chương nhanh chóng có
được tiếng nói đồng cảm, đồng tình, đồng điệu với người đọc. Nếu nhà văn có tư
tưởng mới lạ,có cánh khám phá đời sống tinh tế, sâu sắc nhưng tác phẩm ấy không
được viết bằng cảm xúc chân thành mãnh liệt của người nghệ sĩ thì tác phẩm ấy sẽ
thật khô khan, nhạt nhẽo khó đến được với đông đảo người tiếp nhận, khó lay động
được những cảm xúc sâu sa trong lòng người đọc.
Chính vì thế tác phẩm văn chương có thể khơi dậy ở người đọc những cảm
xúc xã hội tích cực, thỏa mãn ở người đọc cái nhu cầu nếm trải sự sống. Chúng có
khả năng tác động, khơi gợi cảm xúc thẩm mĩ ở con người. Tác phẩm văn chương
không chỉ phản ánh cái đẹp trong tự nhiên, trong đời sống theo một quy tắc nhất
định mà chúng còn sáng tạo ra cái đẹp mới. Bên cạnh việc thõa mãn nhu cầu về cái
đẹp, tác phẩm văn học còn là trường học của những năng lực sáng tạo thẩm mĩ, là

người đọc, giữa người dạy văn với học sinh. Đây là một đòi hỏi da diết, mạnh mẽ và
sâu sắc , chẳng thế mà Nguyễn Du từng phải thốt lên: “ Bất tri tam bách dư niên
hậu.Thiên hạ hà nhân khấp Tố Như”. Trong dạy học văn vấn đề đồ ng cảm, hay
cộng hưởng cảm xúc có hay không là dấu hiệu của khả năng xóa bỏ được ngăn cách
trong cảm thụ. Đặt ra vấn đề về nhận thức một giờ dạy văn, tác phẩm văn chương
không phải là một thông tin thẩm mỹ, tình cảm mà chỉ còn là một vấn đề về lịch sử,
chính trị, luân lí, đạo đức, giờ văn chỉ tác động đến lí trí mà không lay động đến tâm
hồn, không rung động học sinh. Trong giờ văn HS lạnh lùng thờ ơ với số phận các
nhân vật, xa lạ với những rung động của nhà văn trước những số phận, trước những
cuộc đời con người. Vô hình chung giờ văn trở thành gánh nặng đối với tâm lí của
người học. Sức mạnh của văn học bị tước bỏ một cách vô ý thức từ năm học này
đến năm học khác, từ thầy cô này đến thầy cô khác. Và dĩ nhiên, học văn không còn
là một niềm say mê, hứng thú đối với học sinh. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để văn
chương trong nhà trường trở về đúng vị trí của nó là một bộ một khoa học xã hội và
nhân văn, một môn học về nghệ thuật ngôn từ.
Hứng thú tiếp nhận và cảm xúc thẩm mĩ mà chất thơ trong tác phẩm văn học
mang lại cho HS tập trung thể hiện ở hứng thú nhận thức, hứng thú đánh giá và
hứng thú thưởng thức cái đẹp mà văn chương mang lại cho tâm hồn các em. Điều
đó thể hiện ở sự rung động của các em trước vẻ đẹp của tác phẩm văn học, các em
nhận ra và biết rung động với vẻ đẹp của những bức tranh thiên nhiên, rung động
trước những số phận con người, những câu chuyện giàu tính nhân văn ….. Theo
thống kê phần lớn HS trong các lớp học không chuyên, các em có thể dễ dàng phát
hiện ra cái đẹp trong nghệ thuật, các em cảm thấy rung động trước những kiếp
người đau khổ, rung cảm trước những bản nhạc trữ tình, những bức tranh muôn
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

18


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

ngôn ngữ, hệ thống kí hiệu”. Do đó, cảm xúc thẩm mĩ mà chất thơ mang lại cho học
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

19


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

sinh trước hết thông qua kĩ năng đọc văn bản. Tại sao khẳng định như vậy vì văn
hóa đọc là hoạt động gắn với công dân, với xã hội, gắn bó với thói quen, tập tục,
phông tri thức văn hóa trong cảm nhận trong giao tiếp của mỗi người và toàn xã hội.
Kĩ năng đọc của HS liên quan đến đọc đúng vần, đúng ngữ điệu rồi đến giai điệu
hay giọng điệu của từng đoạn và của cả văn bản là tiền đề cho việc cảm nhận cái
hay, cái đẹp của hình tượng trong tác phẩm văn học. Phương pháp đọc sáng tạo
được sử dụng hầu như thường trực trong tiết dạy học ngay từ khi vào bài đến lúc kết
thúc tiết dạy. Trung tâm của phương pháp đọc sáng tạo là đọc diễn cảm, là đọc để
diễn tả sự cảm thụ chứ không chỉ dừng lại ở mức thể hiện cảm xúc, mà có cả sự
hiểu biết của người đọc, sự tri âm với tác giả. ….đọc diễn cảm thực chất là sự cộng
hưởng giữa tâm hồn và cảm xúc, hiểu biết của người đọc với tác phẩm thông qua hệ
thống kí hiệu nghệ thuật ở văn bản. Điều đó cho thấy chất thơ của tác phẩm văn học
được gợi lên ngay từ những con chữ tưởng như vô hình, nó kích thích sự tưởng
tượng của HS về hình tượng văn học qua kênh thính giác, khơi dậy năng lực văn
chương ở người dạy và người học. Hiệu quả cảm thụ chỉ có được khi khoảng cách
giữa nhà văn, người dạy và người học được xóa bỏ dần. Hay nói một cách khác, đọc
thành công trong một giờ dạy văn sẽ là con đường rút ngắn khoảng cách giữa tác
giả và học sinh.
Chất thơ trong tác phẩm văn học còn mang đến cho HS có cơ hội được nâng
cao sự trải nghiệm của bản thân. Có thể lấy ra đây một ví dụ về sự trải nghiệm của
HS khi đọc khổ thơ đầu bài thơ Đây thôn Vĩ Giạ của Hàn Mặc Tử. Trong khổ thơ
trên “anh” là đối tượng được nói tới xét trên bề mặt văn bản, vậy chủ thể trữ tình

được rung cảm trước cái đẹp của cuộc đời, được chia sẻ niềm yêu sống của thi
nhân, và cũng được xót xa nỗi đau của con người.
Chất thơ, sức mạnh của văn học nằm chính ở những điều đó. Nhiệm vụ của
người dạy văn là khơi gợi, đánh thức hứng thú và những cảm xúc thẩm mĩ của HS.
Bên cạnh việc thỏa mãn nhu cầu về cái đẹp, tác phẩm văn học còn là trường học của
những năng lực sáng tạo thẩm mĩ, là nơi bồi dưỡng cảm xúc, thị hiếu thẩm mĩ của
con người. Trong quá trình rèn luyện và sáng tạo nghệ thuật thị giác và thính giác
cùng các giác quan thẩm mĩ của con người ngày càng tinh tế nhạy bén. Các năng
lực quan sát, cảm nhận, khái quát ngày càng phát triển. Tác phẩm văn học cũng như
nghệ thuật nói chung là nơi nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mĩ của con người, nơi giữ gìn
và phát triển chất nghệ sĩ vốn có trong tâm hồn, khơi dậy và tiếp xúc cho những
rung động về cái đẹp, nơi giữ cho tâm hồn con người không chai sạn đi mà luôn
mới mẻ, nhạy cảm với cái đẹp.
1.2. Đánh giá thực trạng dạy học bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” ở trường
THPT chương trình sách giáo khoa ngữ văn (Ban cơ bản)

Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

21


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

Bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca” được lựa chọn và đưa vào chương trình ngữ văn
12 từ năm 2008 đến nay đã được 6 năm nhưng vẫm là một thi phẩm khó gây nhiều
tranh luận trong giới chuyên môn, thu hút được sự quan tâm của GV và HS. Có thể
khẳng định với lối thơ tượng trưng, siêu thực “Đàn ghi ta của Lorca” dường như khá
mới mẻ so với dòng thơ lãng mạn, hiện thực và cách mạng vốn quen thuộc với HS ở
bậc THPT. Do đó để cảm hiểu được vẻ đẹp của thi phẩm này cũng đòi hỏi tư duy thơ
sáng tạo và mới mẻ hơn. Nhưng trên thực tế phần lớn GV chưa thật sự đào sâu và


mà quên mất đây là bài thơ của Thanh Thảo, là tấc lòng tri âm, tiếng nói cảm thông
sâu sắc, sự đánh giá cao của Thanh Thảo với Lorca. Có giáo viên lại “tung hỏa mù”
theo kiểu lại đưa ra hàng loạt các ý kiến, cách hiểu khác nhau mà không hề hướng
cho học sinh.
Nhưng thực tế, nét độc đáo trong thi phẩm này là sự đan cài và nhiều khi là
song trùng 3 hình tượng: Cây đàn ghi ta, hình tượng Lorca và hình tượng cái tôi nội
cảm của nhà thơ. Vẻ đẹp của những hình tượng ấy được thể hiện qua ngôn ngữ và
hình ảnh giàu chất thơ, chất nhạc. Điều đó cho thấy thực trạng dạy học bài thơ Đàn
ghi ta của Lorca trong trường THPT hiện nay tuy đã hướng HS hiểu đúng bài thơ
nhưng chưa thấy được chất thơ trong hình tượng và ngôn ngữ nghệ thuật- vốn là vẻ
đẹp không thể thiếu trong một tác phẩm văn chương.
1.2.3. Về phía học sinh
Khi học bài thơ này nhiều em cảm thấy xa lạ và khó hiểu. Không có nhiều HS
hiểu cặn kẽ về giá trị của bài thơ (thường chỉ nắm bắt được tinh thần chung, đại khái
nhất là những hình ảnh tượng trưng, siêu thực, những câu thơ có nhiều chỗ “cong” thì
chưa hiểu đúng hoặc suy luận vô căn cứ. Có thể nói đây là điều có thể lí giải được vì
thực tế HS không có nhiều tài liệu liên quan đến Thanh Thảo, Lorca và thơ ông nên
nhận thức của các em rất thụ động. phần lớn những tri thức các em có được đều do GV
cung cấp và hướng dẫn nên các em thiếu không gian để tìm hiểu. Vì vậy thờ ơ và xa lạ
là điều dễ hiểu. nhưng có một thực tế khác mà chúng ta phải quan tâm là sau khi học
xong bài thơ, GV yêu cầu các em làm bài tập liên quan đến các vấn đề trong tác phẩm
như: Phân tích hình tượng đàn ghi ta và Lorca. HS cảm thấy rất lúng túng và thông
thường các em sẽ phân tích hai hình tượng này tách bạch. Do đó khi đọc bài làm của
HS, tôi có cảm giác hụt hẫng và mất đi tất cả cái hay, cái “dư ba” mà tác phẩm này
mang lại cho người đọc đó là sự ám ảnh khôn nguôi về người nghệ sĩ đã gửi linh hồn
vào cây đàn ghi ta- cây đàn chính là sinh mệnh của Lorca.
Điều đó, chỉ ra cho người dạy tác phẩm này cần phải định hướng về sự tiếp
cận văn hóa của bài thơ. Nên chăng chúng ta cần quay trở về cái gốc của văn
chương muôn thủa chính là chất thơ trong tác phẩm văn học. Chỉ có khai thác chất

bên nhau. Cũng nhờ tiếng thơ của ông, đất nước TBN hiện lên với chiều dài lịch sử
với những sắc màu độc đáo nồng nhiệt. Nhưng vẫn phảng phất đâu đó những nỗi
buồn. Nhân cách cao đẹp và số phận oan khốc của Lorca đã khiến Thanh Thảo
ngưỡng mộ và xúc động sâu sắc, tạo được sự đồng cảm giữa người sáng tác và
người đọc, gợi được những nét đặc trưng của văn hóa TBN, nơi nuôi dưỡng tâm
hồn của Lorca.
a. Hình tượng cây đàn trong thơ Lorca và trong bài thơ “Đàn ghi ta của Lorca”

Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

24


Dạy học văn bản “Đàn ghi ta của Lorca” (Thanh Thảo) theo hướng khai thác chất thơ của tác phẩm

Hình tượng trung tâm của tác phẩm là hình tượng đàn ghi ta và Lorca.Vì đàn
ghi ta chính là thơ Lorca, là bản mệnh của Lorca. Đọc thơ Lorca ta thương bắt gặp
hình tượng một chàng kĩ sĩ đi mải miết, vô định dưới vầng trăng khi đỏ, khi rạng
ngời, khi u tối, khi nồng nàn, khi buốt lạnh…Ta cũng thường ngập mình trong
phong vị, hương sắc riêng không thể nào quên được của miền quê Gra-na đa thuộc
xứ Anđa-lu-xi-a, ở đó có những chàng hiệp sĩ đấu bò tót khoác trên mình tấm áo
choàng đỏ, có những cô gái Digan nước da nâu gợi tình tràn trề sức sống, có những
vườn cam, những rặng ôliu xanh màu xanh huyền hoặc. Đặc biệt ở đó luôn vang
vọng tiếng đàn ghi ta âm thanh nức nở, thở than làm vỡ toang cốc rượu bình minh,
tựa tiếng hát của một con tim bị tử thương bởi năm đầu kiếm sắc, không gì có thể
bắt nó im tiếng (ý thơ trong bài Đàn ghi ta….) Thanh Thảo quả đã nhập thần vào
thế giới thơ Lorca để lẩy ra và đưa vào bài thơ của mình những biểu tượng ám ảnh
bồn chồn của chính thi hào Tây Ban Nha. Nhưng vấn đề không đơn giản chỉ là sự
trích dẫn tất cả những biểu tượng kia đã được tổ chức lại xung quang biểu tượng
trung tâm là cây đàn mà xét theo “nguồn gốc”, vốn cũng là một biểu tượng đặc biệt

về tiếng đàn trong bài thơ “tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan” “tiếng ghi ròng ròng
máu chảy” thì tiếng đàn với những âm thanh tuôn trào sôi động không chỉ là âm
thanh mà còn là tiếng kêu cứu của con người, của cái đẹp trong thời khắc bị đẩy tới
chỗ tuyệt diệt. Không có gì khó hiểu khi dưới ngòi bút Thanh Thảo , tiếng đàn cũng
có màu (nâu, xanh), có hình thù (tròn), có sinh mệnh (ròng ròng máu chảy), bởi
tiếng đàn chính là sự cảm nhận của nhà thơ nay về tiếng đàn xưa. Theo đó, tiếng
đàn không còn là tiếng đàn cụ thể nữa, nó là sự sống muôn màu hiện hình trong thơ
Lorca và là sinh quyển văn hóa, sinh quyển chính trị xã hội bao quanh cuộc đời, sự
nghiệp Lorca.
b.Hình ảnh “áo choàng đỏ gắt”
Một hình ảnh mang đậm bản sắc của TBN chính là hình ảnh áo choàng đỏ.
Hình ảnh “áo choàng đỏ” nhắc nhở môn đấu bò tót, một hoạt động văn hóa khiến
TBN nổi tiếng thế giới. Nhưng đây không phải đấu trường giữa đấu sĩ với bò tót mà
là đấu trường đặc biệt giữa khát vọng đấu tranh dân chủ của công dân Lorca với nền
chính trị độc tài của khát vọng cách tân nghệ thuật trong chàng nghệ sĩ Lorca với
nền nghệ thuật già nua. Màu áo đỏ gắt tráng lệ, bỗng biến thành bê bết đỏ, màu đỏ
đau thương đã nhốm máu thi nhân, đã hủy diệt cái đẹp. Màu đỏ gắt của tấm áo
choàng, không nghi ngờ gì, là sáng tạo của Thanh Thảo. Đây là hình ảnh có sự kết
hợp giữa cái thực là truyền thống đấu bò tót của Tây Ba Nha, mà theo đó các hiệp sĩ
đấu bò bao giờ cũng mặc áo choàng đỏ để chọc tức con bò hoang, để lôi nó vào
cuộc chiến. Nhưng cái khác thường là cái màu “đỏ gắt” là màu máu tươi, lại gắn với
cụm từ Tây Ban Nha ở đầu câu thì sẽ thấy tình hình chính trị với những cuộc đàn áp
Nguyễn Thị Thu Giang- GV trường THPT Mỹ Hào

26



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status