Đánh Giá Công Tác Bồi Thường Và Giải Phóng Mặt Bằng Dự Án Kè Bảo Bệ Bờ Sông Lô Thuộc Tổ 21 Phường Hưng Thành – Thành Phố Tuyên Quang - Tỉnh Tuyên Quang - Pdf 35

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-------------

ĐỖ VĂN TUYỂN

Tên đề tài:

ĐÁNH GIÁ CÔNG TÁC BỒI THƯỜNG VÀ GIẢI PHÓNG
MẶT BẰNG DỰ ÁN KÈ BẢO BỆ BỜ SÔNG LÔ THUỘC
TỔ 21 PHƯỜNG HƯNG THÀNH – THÀNH PHỐ TUYÊN
QUANG - TỈNH TUYÊN QUANG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành : Quản lý đất đai
Khoa

: Quản lý tài nguyên

Khóa học

: 2010 - 2014


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

Giảng viên hướng dẫn: TS. Phan Đỉnh Binh


LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian bốn năm học tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên, được sự quan tâm của nhà trường cùng toàn thể các thầy, cô giáo.
Đến nay tập thể lớp chúng em nói chung và bản thân em nói riêng đã hoàn
thành chương trình học. Trước hết cho phép em được gửi lời cảm ơn chân
thành đến Nhà trường, Ban giám hiệu, Phòng Đào tạo và tập thể các thầy, cô
giáo đã hết sức nhiệt tình tạo mọi điều kiện giảng dạy một cách tốt nhất để
em có được những kiến thức quý báu tạo những bước đầu tiên trong công
tác của em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Phan Đình Binh đã quan
tâm hướng dẫn em trong thời gian thực tập, viết báo cáo để em có điều kiện
hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn UBND thành phố Tuyên quang, cảm ơn
các cán bộ đang công tác và làm việc tại Phòng TNMT thành phố Tuyên
quang đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu thực
hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng dự án
kè bảo vệ bờ sông Lô thuộc tổ 21 phường Hưng Thành, thành phố Tuyên
Quang, tỉnh Tuyên Quang”.
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!
Tuyên Quang, ngày 16 Tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Đỗ Văn Tuyển


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TNMT

đoạn 2011 – 2013 ............................................................................. 36
Bảng 4.2. Diện tích tự nhiên và dân số thành phố Tuyên Quang năm
2013 ................................................................................................. 39
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang năm 2013 .... 40
Bảng 4.4. Quy mô dự án............................................................................... 43
Bảng 4.5: Xác định đối tượng được bồi thường, hỗ trợ và không được
bồi thường, hỗ trợ ............................................................................. 44
Bảng 4.6: Diện tích đất thu hồi theo kế hoạch .............................................. 45
Bảng 4.7: Diện tích đất phi nông nghiệp....................................................... 46
Bảng 4.8: Đơn giá đất ở................................................................................ 46
Bảng 4.9: Kết quả thực hiện bồi thường về cây cối hoa màu ........................ 48
Bảng 4.10: Kết quả bồi thường tài sản, vật kiến trúc .................................... 49
Bảng 4.11: Tình hình thu nhập của các hộ sau khi bị thu hồi đất .................. 52
Bảng 4.12: Tình hình an ninh trật tự xã hộisau khi thu hồi đất..................... 53
DANH MỤC CÁC HÌNH
Hình 4.1: Sơ đồ thành phố Tuyên Quang...................................................... 34
Hình 4.2: Cơ cấu diện tích đất đai thành phố Tuyên Quang năm 2013 ......... 41


MỤC LỤC

Trang
Phần 1 MỞ ĐẦU..................................................................................................... 1
1.1. Đặt vấn đề ............................................................................................. 1
1.2. Mục đích nghiên cứu ............................................................................. 3
1.3. Mục tiêu của đề tài ................................................................................ 3
1.4. Yêu cầu của đề tài ................................................................................. 3
1.5. Ý nghĩa của đề tài .................................................................................. 4
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU ....................................................................... 5
2.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng .................... 5

tác của em sau này.
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo TS. Phan Đình Binh đã quan
tâm hướng dẫn em trong thời gian thực tập, viết báo cáo để em có điều kiện
hoàn thành tốt đề tài tốt nghiệp.
Em xin chân thành cảm ơn UBND thành phố Tuyên quang, cảm ơn
các cán bộ đang công tác và làm việc tại Phòng TNMT thành phố Tuyên
quang đã tạo mọi điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian nghiên cứu thực
hiện đề tài: “Đánh giá công tác bồi thường và giải phóng mặt bằng dự án
kè bảo vệ bờ sông Lô thuộc tổ 21 phường Hưng Thành, thành phố Tuyên
Quang, tỉnh Tuyên Quang”.
Một lần nữa em xin trân trọng cảm ơn!
Tuyên Quang, ngày 16 Tháng 5 năm 2014
Sinh viên

Đỗ Văn Tuyển


Phần 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên, tài sản quốc gia quý báu, là địa
bàn để phân bố dân cư và các hoạt động kinh tế, xã hội quốc phòng, an ninh;
là nguồn vốn, nguồn nội lực để xây dựng và phát triển bền vững quốc gia.
Trong quá trình đổi mới ở nước ta, đặc biệt những năm gần đây việc xây
dựng cơ sở hạ tầng, khu công nghiệp, khu đô thị mới... đã phát triển nhanh
đáp ứng nhu cầu CNH - HĐH đất nước với mục tiêu đưa nước ta trở thành
một nước công nghiệp vào năm 2020.
Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện việc giao đất, cho
thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất để xây dựng các công trình
quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, công cộng, phát triển kinh tế là một

bằng, đảm bảo lợi ích hợp pháp của người bị thu hồi đất, góp phần thiết lập trật
tự, kỷ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi
thường giải phóng mặt bằng.
Trong thời gian qua, thành phố Tuyên Quang đã không ngừng phát triển
cả về không gian và tính chất đô thị; cụ thể là: đã điều chỉnh mở rộng địa giới
hành chính thêm 5 xã của huyện Yên Sơn, thành lập thêm 04 phường (năm
2008); được Bộ Xây dựng công nhận là đô thị loại III (năm 2009); Chính phủ
đã có Nghị quyết thành lập thành phố Tuyên Quang trực thuộc tỉnh (năm
2010). Hiện nay, thành phố Tuyên Quang là địa phương có nhiều lợi thế và
điều kiện lý tưởng để thu hút các nhà đầu tư thực hiện các dự án trên nhiều
lĩnh vực.
Để xứng đáng với vị trí là trung tâm kinh tế - chính trị, văn hoá - xã hội
của tỉnh, thành phố Tuyên Quang đã và đang được đầu tư xây dựng nhiều
hạng mục công trình nhằm phát triển cơ sở hạ tầng đô thị. Theo Nghị quyết
Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XV và Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố
lần thứ XVIII thì mục tiêu phấn đấu xây dựng thành phố Tuyên Quang cơ bản
đáp ứng các tiêu chí đô thị loại II vào năm 2015.
Từ thực tế trên, việc thu hồi đất bồi thường giải phóng mặt bằng để thực
hiện các công trình quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng,
phát triển kinh tế trên địa bàn thành phố Tuyên Quang là việc làm cần thiết,
có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển kinh tế - xã hội của thành phố theo


hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá kết hợp với việc sử dụng hợp lý, có hiệu
quả nguồn tài nguyên đất đai, bảo vệ cảnh quan và môi trường sinh thái của
thành phố. Công tác thu hồi đất giải phóng mặt bằng trong những năm tới đây
sẽ được coi là nhiệm vụ trọng tâm của cấp uỷ, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc
và các đoàn thể từ thành phố đến cơ sở.
Do đó, việc nghiên cứu làm rõ thực trạng công tác này sẽ rút ra được
những bài học kinh nghiệm và có các giải pháp để công tác giải phóng mặt

- Đề xuất các giải pháp mang tính cụ thể dựa trên các kết quả nghiên cứu.
1.5. Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu: Bổ sung những kiến thức đã học
trên lớp, học hỏi, tiếp nhận những kiến thức, kinh nghiệm thực tế. Hiểu rõ và
đóng góp ý kiến của mình để góp phần từng bước hoàn thiện công tác bồi
thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự ánkè bảo
vệ bờ sông lô từ cầu chả ra đến bờ sông lô thuộc tổ 21 phường Hưng
Thànhtrên địa bàn tỉnh Tuyên Quang nói chung và thành phố Tuyên Quang
nói riêng.
- Ý nghĩa trong thực tiễn: Từ quá trình nghiên cứu đề tài giúp tìm ra
được những thuận lợi, khó khăn của công tác BT & GPMB để từ đó rút ra
những giải pháp khắc phục, góp phần đẩy nhanh tiến độ BT & GPMB.


PHẦN 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lý luận về công tác bồi thường giải phóng mặt bằng
2.1.1. Khái niệm
Bồi thường là phạm trù kinh tế, phản ánh sự bồi hoàn, trả lại tương xứng
giá trị hoặc công lao động cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì một hành vi
của chủ thể khác.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị
quyền sử dụng đất, vật kiến trúc, hoa màu trên diện tích đất bị thu hồi cho
người bị thu hồi đất; trong đó giá trị quyền sử dụng đất là giá trị bằng tiền của
quyền sử dụng đất đối với từng loại đất trên một diện tích, vị trí đất và thời
hạn sử dụng đất xác định.
Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả cho người bị thu
hồi đất một khoản tiền hoặc thông qua đào tạo nghề mới để người sử dụng đất
có việc làm và cuộc sống ổn định sau khi bị thu hồi đất sản xuất hoặc phải di
chuyển chỗ ở đến địa điểm mới.

đổi nghề nghiệp sau khi bị thu hồi đất rất khó khăn nên người sử dụng đất
thường có tâm lý giữ đất sản xuất để đảm bảo an toàn lương thực hàng ngày.
Mặt khác, cây trồng, vật nuôi trên đất cũng đa dạng dẫn đến khó khăn trong
công tác tuyên truyền, vận động người bị thu hồi đất tham gia kiểm kê tài sản
trên phạm vi bị thu hồi cũng như việc nhận bồi thường, giải phóng mặt bằng.
Việc thu hồi đất nông nghiệp làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc làm của
người dân nên đồng thời với việc thu hồi đất nhà nước cần quan tâm đến
chuyển đổi nghề cho người bị thu hồi đất.
- Đối với đất ở:
+ Quyền sử dụng đất ở là tài sản có giá trị lớn đối với mỗi người dân, nó
gắn bó trực tiếp với đời sống và sinh hoạt hàng ngày và ảnh hưởng đến tâm lý
“an cư, lạc nghiệp” của người dân. Nên khi nhà nước thu hồi đất ở phải gắn
với việc xây dựng khu tái định cư cho người bị thu hồi đất.
+ Qua nhiều thời kỳ với chế độ quản lý đất đai không đồng bộ, thiếu chặt
chẽ, tình trạng lấn chiếm đất đai xây nhà trái phép diễn ra làm khó khăn trong
việc xác định nguồn gốc sử dụng đất ở để làm cơ sở xác định đối tượng và điều
kiện bồi thường.


+ Ở một số khu vực người dân sống chủ yếu bằng nghề buôn bán nhỏ ở
ven các trục đường giao thông, ven khu đô thị… đã tạo lập được một “thị
trường” riêng, nay bị thu hồi đất phải chuyển đến ở khu vực mới làm thay đổi
điều kiện, môi trường sống nên họ không muốn di chuyển.
Từ tính đa dạng và phức tạp của việc bồi thường giải phóng mặt bằng cho
thấy với mỗi dự án khác nhau thì công tác giải phóng mặt bằng được thực hiện
bằng các giải pháp khác nhau cho phù hợp với đặc điểm của khu vực và đối
tượng bị thu hồi đất.
2.1.2.3. Những yếu tố tác động đến công tác bồi thường và GPMB
Quá trình BT & GPMB nhanh hay chậm phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố,
tuy nhiên một số yếu tố chính mà chúng ta cần quan tâm trong khâu tổ chức

cửa trên đất.
Ở Trung Quốc, mục tiêu bao trùm lên chính sách giải phóng mặt bằng là
hạn chế đến mức tối đa diện tích và số lượng người bị ảnh hưởng bởi việc thu
hồi đất. Trong trường hợp phải giải phóng mặt bằng thì nhà nước phải có sự
chuẩn bị kỹ phương án đền bù trên cơ sở tính toán đầy đủ lợi ích của nhà
nước, tập thể và cá nhân và đảm bảo cho người bị thu hồi đất có thể khôi phục
lại hoặc cải thiện mức sống tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất.
Do đất đai thuộc sở hữu nhà nước nên không có chính sách đền bù thiệt
hại. Khi nhà nước thu hồi đất, kể cả đất nông nghiệp, tuỳ trường hợp cụ thể
nhà nước sẽ cấp đất mới cho các chủ sử dụng bị thu hồi đất. Về phương thức
đền bù thiệt hại, nhà nước thông báo cho người sử dụng đất biết trước việc họ
sẽ bị thu hồi đất trong thời hạn một năm. Người dân có quyền lựa chọn các
hình thức đền bù thiệt hại bằng tiền hoặc bằng nhà tại khu ở mới. Tại thủ đô Bắc
Kinh và thành phố Thượng Hải, người dân thường lựa chọn đền bù thiệt hại
bằng tiền và tự tìm chỗ ở mới phù hợp với công việc nơi làm việc của mình.
Về giá đền bù thiệt hại, tiêu chuẩn là giá thị trường. Mức giá này cũng
được nhà nước quy định cho từng khu vực và chất lượng nhà, đồng thời được
nhà nước có sự điều chỉnh rất linh hoạt cho phù hợp với thực tế .
Theo quy định của pháp luật Trung Quốc thì người được sử dụng đất sau
khi thu hồi có trách nhiệm bồi thường cho người bị thu hồi đất. Người bị thu
hồi đất được thanh toán các loại tiền: tiền bồi thường nhà cửa, tiền hỗ trợ về
tái định cư, tiền trợ cấp bồi thường hoa màu trên đất. Cách tính tiền bồi
thường về hoa màu và tiền trợ cấp tái định cư căn cứ theo tổng giá trị sản


lượng hoa màu trên đất của những năm trước đây rồi nhân với hệ số. Tiền bồi
thường cho các loại tài sản trên đất được tính theo giá cả hiện tại.
Mức bồi thường được thực hiện theo nguyên tắc đảm bảo cho người bị
thu hồi đất có cuộc sống bằng hoặc cao hơn nơi ở cũ. Việc quản lý giải phóng mặt
bằng được giao cho Cục quản lý tài nguyên đất đai ở địa phương đảm nhiệm.

chế thị trường điều tiết. Tuy nhiên, với những dự án do Chính phủ quản lý thì
việc bồi thường được tiến hành theo trình tự: tổ chức nghe ý kiến người dân;
định giá giá trị bồi thường cho người bị thu hồi đất.
Thái Lan là đất nước cho phép hình thức sở hữu cá nhân với đất đai, do
vậy về nguyên tắc khi Nhà nước hoặc các tổ chức lấy đất để làm bất cứ việc
gì đều phải có sự thoả thuận giữa chủ dự án và chủ đang sử dụng khu đất đó
trên cơ sở một hợp đồng. Về giá đất để làm căn cứ bồi thường thiệt hại, các
bên căn cứ mức giá do một Uỷ ban của chính phủ xác định trên cơ sở thực tế
giá thị trường chuyển nhượng bất động sản. Giá bồi thường phụ thuộc vào
từng khu vực, từng dự án; nếu dự án mang tính chiến lược quốc gia thì giá
đền bù rất cao so với giá thị trường. Nhìn chung, khi tiến hành thu hồi đất thì
nhà nước hoặc nhà đầu tư đều đền bù với mức cao hơn giá thị trường. Việc
bồi thường thiệt hại chủ yếu bằng tiền mặt, sau đó người bị thu hồi đất sử
dụng tiền này đi mua đất tại khu vực khác. Nếu phải di chuyển nhà ở đến nơi
ở mới, Uỷ ban này sẽ chỉ cho người dân biết mình được đến đâu, phải trả tiền
một lần, được cho thuê hay mua trả góp... Tất nhiên cũng có việc bên bị thu
hồi không chấp hành, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền sẽ kiểm tra và khẳng
định mức giá đền bù đã hợp lý chưa và dù đúng hay không đúng mà người bị
thu hồi không di chuyển thì sẽ bị cưỡng chế. Việc khiếu nại về bồi thường sẽ
do toà án giải quyết.
Việc tuyên truyền vận động đối với các đối tượng được di dời được thực
hiện rất tốt nên đa số các hộ dân đã hiểu và chấp hành chính sách, phương án
đền bù. giải phóng mặt bằng của Nhà nước. Việc chuẩn bị khu tái định cư
được chính quyền Nhà nước quan tâm đúng mức đáp ứng đầy đủ các nhu cầu
tái định cư. Việc thống nhất trong chỉ đạo, điều hành giải quyết khiếu kiện
của công dân cũng như sự thống nhất về chính sách; sự phân công nhiệm vụ,
phân cấp rõ trách nhiệm và sự phối hợp chặt chẽ trong quá trình giải quyết
vướng mắc đã góp phần đẩy nhanh tiến độ thực hiện công tác đền bù, giải
phóng mặt bằng
2.1.4. Chính sách bồi thường giải phóng mặt bằng ở Việt Nam qua các thời kỳ

- Đối với nhà cửa vật kiến trúc....thì được giúp đỡ xây dựng cái khác.
- Đối với hoa màu chưa thu hoạch... phải bồi thường thiệt hại đúng mức.
- Đối với mồ mả căn cứ vào tình hình cụ thể, phong tục tập quán của địa
phương mà giúp cho họ số tiền thích đáng làm phí tổn di chuyển...


Có thể nói, những nguyên tắc cơ bản của việc đền bù thiệt hại trong
Nghị định 151/TTg là rất đúng đắn, đáp ứng nhu cầu trưng dụng đất đai trong
những năm 1960. Tuy nhiên, Nghị định chưa quy định cụ thể mức đền bù
thiệt hại mà chỉ quan tâm đến sự thỏa thuận của các bên.
Sau đó, Ủy ban Kế hoạch nhà nước và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư
liên bộ quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất để làm địa điểm xây
dựng các công trình kiến thiết cơ bản với nguyên tắc phải đảm bảo kịp thời và
diện tích đủ cần thiết cho công trình xây dựng kiến thiết cơ bản, đồng thời
chiếu cố đúng mức quyền lợi và đời sống của người có ruộng đất. Đất thuộc
sở hữu tư nhân hoặc tập thể khi bị trưng dụng thì thuộc sở hữu của Nhà nước.
2.1.4.2. Thời kỳ 1987 đến 1993
Hiến pháp 1980 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước
thống nhất quản lý. Chính vì vậy mà khi nhà nước thu hồi đất thì người sử dụng
đất không được bồi thường về giá trị quyền sử dụng đất mà chỉ được bồi thường
những tài sản có trên đất hoặc những thiệt hại do việc thu hồi đất gây nên.
Luật Đất đai năm 1988 ban hành quy định về việc bồi thường cũng cơ
bản dựa trên những điều quy định tại Hiến pháp 1980.
Ngày 31/5/1990, Hội đồng Bộ trưởng ban hành Quyết định số
186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nông nghiệp, đất có rừng khi bị
chuyển mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. Căn cứ để
tính bồi thường thiệt hại về đất nông nghiệp và đất có rừng theo quyết định
này là diện tích, chất lượng và vị trí đất. Tổ chức, cá nhân được Nhà nước
giao đất nông nghiệp, đất có rừng để sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi
thường thiệt hại về đất nông nghiệp, đất có rừng cho Nhà nước. Khoản tiền


: Nghị định chính phủ

CNH – HĐH : Công nghiệp hóa ,hiện đại hóa


: Quyết định


- Điều 27 quy định: “Trong trường hợp thật cần thiết, Nhà nước thu hồi
đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công
cộng thì người thu hồi đất được đền bù thiệt hại”.
Như vậy, đất đai từ chỗ là sở hữu toàn dân, với quyền sử dụng thuộc Nhà
nước hoặc tập thể thì nay quyền sử dụng đã được trao cho hộ gia đình, cá
nhân sử dụng ổn định, lâu dài và cho phép người sử dụng đất được quyền
chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, thừa kế, thế chấp quyền sử dụng đất.
Người sử dụng đất ổn định được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
xác nhận thì được xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Trong trường
hợp thật cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh và lợi ích quốc gia, lợi ích
công cộng thì Nhà nước thu hồi đất, trưng mua, trưng dụng, có bồi thường tài
sản cho các người sử dụng đất.
Luật Đất đai năm 1993 quy định việc Nhà nước xác định giá các loại đất
để tính tiền khi giao đất, cho thuê đất và bồi thường thiệt hại khi thu hồi, theo
khung giá do Chính phủ quy định. Sau khi Luật Đất đai 1993 được ban hành,
Nhà nước đã ban hành rất nhiều các văn bản dưới luật như các Nghị định,
Thông tư và các văn bản pháp quy khác về quản lý đất đai nhằm cụ thể hoá
các điều luật như:
- Nghị định 90/CP ngày 17/9/1994 quy định cụ thể các chính sách và
phân biệt chủ thể sử dụng đất, cơ sở pháp lý để xem xét tính hợp pháp của
thửa đất được bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất để sử dụng và mục đích

thuộc đất công ích của xã hoặc đất của xã chưa giao cho ai sử dụng thì người
được Nhà nước giao đất, cho thuê đất phải đền bù thiệt hại bằng tiền cho ngân
sách xã. Người đang sử dụng đất công ích được đền bù thiệt hại những chi phí
đã đầu tư vào đất. Diện tích đất ở đền bù cho mỗi hộ gia đình theo hạn mức
đất ở do Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quy định,
nhưng không vượt quá diện tích đất bị thu hồi.
Về đền bù tài sản, tài sản trên đất hợp pháp và có khả năng hợp pháp hóa
được đền bù 100% giá trị tài sản; tài sản trên đất sử dụng bất hợp pháp sẽ
được hỗ trợ 70-80% mức đền bù hoặc không được hỗ trợ tuỳ theo mức độ bất
hợp pháp của quyền sử dụng đất và tài sản. Mức đền bù tài sản được đền bù
theo mức độ thiệt hại thực tế bằng giá trị hiện tại của nhà và công trình, cộng
thêm một khoản tính theo tỷ lệ (%) trên giá trị hiện có của nhà và công trình,
nhưng tổng mức đền bù tối đa không lớn hơn 100% và không nhỏ hơn 60%
giá trị của nhà, công trình theo giá xây dựng mới. Riêng đối với nhà cấp 4,


nhà tạm và công trình phụ độc lập thì mức đền bù thiệt hại được tính bằng giá
trị xây dựng mới.
Nghị định số 22/1998/NĐ-CP đã đưa ra chính sách hỗ trợ ổn định sản
xuất và đời sống xã hội đối với những người phải di chuyển chổ ở trong thời
gian 06 tháng đối với các nhân khẩu trong hộ, với mức tương đương 30kg
gạo/tháng. Đối với người phải di chuyển đến khu tái định cư của tỉnh khác thì
được trợ cấp một năm và hưởng chính sách đi vùng kinh tế mới. Nghị định
còn quy định việc hỗ trợ theo chế độ trợ cấp ngừng việc cho cán bộ, công
nhân viên của doanh nghiệp phải di chuyển địa điểm mới trong thời gian
ngừng sản xuất, kinh doanh; hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nông
nghiệp phải chuyển nghề khác và ưu tiên tuyển dụng lao động cho các đối
tượng có đất bị thu hồi.
Ngoài ra, Nghị định còn quy định hỗ trợ đối với những người đang
hưởng trợ cấp xã hội của Nhà nước phải di chuyển chỗ ở và trợ cấp khuyến

Tháng 10/1999, Cục quản lý Công sản - Bộ Tài chính đã tiến hành dự
thảo lần thứ nhất về sửa đổi bổ sung Nghị định 22/1998/NĐ-CP về việc bồi
thưòng thiệt hại khi Nhà nước thu hồi đất đề nghị sửa đổi một số nội dung
như xác định mức đất để tính bồi thường, giá bồi thường, lập khu tái định cư,
quyền và nghĩa vụ của người bị thu hồi đất phải chuyển đến nơi ở mới, các
chính sách hỗ trợ và các điều kiện bắt buộc phải có của khu tái định cư, về
Hội đồng bồi thường giải phóng mặt bằng và thẩm định Phương án bồi
thường giải phóng mặt bằng.
- Thông tư số 145/1998/TT-BTC của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành
Nghị định 22/1998/NĐ-CP đưa ra các phương pháp xác định hệ số K trên cơ sở
quan hệ tỷ lệ giữa giá đất tính theo khả năng sinh lợi với giá đất do UBND tỉnh,
thành phố quy định, nội dung và chế độ quản lý, phương án bồi thường và một
số nội dung khác.
Việc xác định hệ số K trên cơ sở quan hệ tỷ lệ giữa giá chuyển nhượng
quyền sử dụng đất thực tế với giá đất do UBND cấp tỉnh, thành phố quy định
khi có sự chênh lệch giá chuyển nhượng quyền sử dụng đất ở khu vực bồi
thường diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, giá đất tính đền bù thiệt hại trong trường
hợp này chỉ bằng giá đất đền bù tính theo khả năng sinh lợi cộng thêm một
khoản tiền tối đa bằng 30% phần chênh lệch giữa giá đất tính theo giá chuyển
nhượng quyền sử dụng đất với giá đền bù tính theo khả năng sinh lợi của
mảnh đất đó.


DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 4.1: Thực trạng phát triển kinh tế của thành phố Tuyên Quang giai
đoạn 2011 – 2013 ............................................................................. 36
Bảng 4.2. Diện tích tự nhiên và dân số thành phố Tuyên Quang năm
2013 ................................................................................................. 39
Bảng 4.3: Hiện trạng sử dụng đất của thành phố Tuyên Quang năm 2013 .... 40


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status