LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU
I. Lời mở đầu
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm gần đây thế giới đã được chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ
xu thế hội nhập kinh tế thế giới. Xu thế này đang là hướng phát triển chính của các
nền kinh tế lớn trong tương lai. Và Việt Nam với tư thái của một nước đang phát
triển theo con đường hội nhập với kinh tế thế giới và để bắt kịp sự phát triển với
các nước khác sẽ không thể tránh khỏi tác động này. Điều này sẽ làm cho sự hợp
tác giữa các nước trên thế giới ngày càng mở rộng, không còn bó buộc trong một
khu vực hay một vùng nhất định, hàng hóa có thể được mua bán ở bất cứ thị trường
nào. Những nước xuất khẩu có khả năng tiêu thụ hàng hóa của mình ở những thị
trường xa xôi hơn. Ngược lại nước nhập khẩu có điều kiện lựa chọn các thị trường
cung cấp hàng hóa rộng rãi hơn. Sự mở rộng thị trường trong buôn bán quốc tế tạo
điều kiện cho ngành vận tải của các quốc gia trên thế giới phát triển.
Với lợi thế địa lý, Việt Nam có đường biển kéo dài hơn 3.260 km và có vị trí
chiến lược nằm gần các tuyến hàng hải quốc tế quan trọng, Việt Nam hội tụ nhiều
điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển ngành kinh tế biển nói chung và ngành
hàng hải nói riêng. Chính vì vậy, trong nền kinh tế của nước ta hiện nay, vị thế của
ngành vận tải nói chung và vận tải biển nói riêng trong nền kinh tế quốc dân ngày
càng nâng cao. Không chỉ tạo ra sự chủ động cho quan hệ kinh tế đối ngoại mà còn
làm tăng nguồn thu ngoại tệ nhờ việc phát triển mạng lưới vận tải. Thêm vào đó,
vận tải biển cũng tăng cường quá trình xuất nhập khẩu hàng hóa, tạo động lực thúc
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 1
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
đẩy quan hệ sản xuất phát triển, từ đó tạo cơ hội cho các ngành nghề khác trong xã
hội. Vì thế, ngành vận tải biển là một trong những ngành trọng điểm quốc gia cần
2.Mục tiêu nghiên cứu
Đề tài nhằm khảo sát, tìm hiểu rõ hơn về các hoạt động của công ty trong quy
trình vận chuyển hàng hóa bằng đường biển, nghiên cứu các vấn đề chủ yếu của
quy trình và thực trạng của hoạt động vận chuyển, từ đó có cái nhìn khái quát hơn
về quy trình vận chuyển của công ty trong thời gian qua, những thuận lợi và khó
khăn còn tồn tại. Qua đó đưa ra một số giải pháp, kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn
nữa quy trình vận chuyển của công ty trong thời gian tới, góp phần vào sự phát
triển của công ty.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng của đề tài nghiên cứu là quy trình vận chuyển hàng hóa bằng đường
biển của công ty cổ phần vận tải và thương mại Diêm Điền. Phạm vi chủ yếu mà đề
tài nghiên cứu là quy trình vận chuyển hàng rời và hàng bao từ cảng đến cảng của
công ty theo hợp đồng vận chuyển tàu chuyến.
4.Phương pháp nghiên cứu
Thông qua các kiến thức thực tế được tiếp xúc tại cảng, tàu và kinh nghiệm
của các nhân viên tại công ty Diêm Điền kết hợp với kiến thức đã được học trong
trường , em đã nắm rõ hơn quy trình vận chuyển hàng hóa mà công ty đang áp
dụng.
-Phương pháp phân tích và tổng kết kinh nghiệm: nghiên cứu và xem xét
những hoạt động thực tiễn của công ty trước đây để rút ra kết luận về hoạt động của
công ty, những điều mà công ty đã đạt được cũng như những phần mà công ty chưa
hoàn thành.
-Phương pháp logic: Tổng hợp, đánh giá về quy trình hoạt động cũng như đưa
ra giải pháp trên cơ sở khoa học và manh tính thực tiễn cao.
5.Kết cấu của khóa luận
Nội dung của khóa luận gồm có 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quy trình vận chuyển hàng hóa
Chương 2: Giới thiệu về công ty cổ phần vận tải và thương mại Diêm Điền.
Chương 3: Đánh giá quy trình vận chuyển của công ty và đề xuất một số biện
pháp khắc phục.
quốc tế.
-Vận tải biển thích hợp với việc chuyên chở trên cự ly rất dài, khối lượng lớn.
-Các tuyến đường vận tải trên biển hầu hết là những tuyến đường giao thông
tự nhiên, do đó không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về vốn.
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 4
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
-Năng lực chuyên chở của vận tải đường biển rất lớn do khả năng thông qua
của đường biển không bị hạn chế và sức chở của tàu biển rất lớn, có thể lên đến
hàng trăng ngàn tấn.
-Vận tải biển không thích hợp với chuyên chở những hàng hóa đòi hỏi thời
gian giao hàng nhanh.
-Trong chuyên chở đường biển thường gặp nhiều rủi ro và nguy hiểm, do luôn
chịu tác động của điều kiện tự nhiên.”
(Tài liệu học sinh,10)
b) Ưu nhược điểm
• Ưu điểm:
"-Năng lực vận chuyển rất lớn, khả năng thông qua của đường biển không bị
hạn chế, tàu biển thường có trọng tải lớn, trên cùng một tuyến đường có thể chạy
nhiều tàu cùng thời gian.
-Thích hợp với hầu hết các loại hàng hóa trong thương mại quốc tế. Đặc biệt
thích hợp với các loại hàng rời có giá trị thấp như: than, quặng, dầu mỏ, nguyên
liệu sản xuất, vật liệu xây dựng…
-Chi phí đầu tư xây dựng các tuyến đường hàng hải thấp: hầu hết là sử dụng
các tuyến đường tự nhiên, trừ việc xây dựng kênh đào và hải cảng.
-Giá cước vận tải thấp, bằng 1/10 so với đường hàng không. 1/8 so với đường
bộ, 1/4 so với đường sắt. Nguyên nhân chủ yếu là do trọng tải tàu biển lớn, cự ly
chuyên chở trung bình dài, năng suất lao động cao do đó giá thành vận tải được coi
là thấp nhất. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật và sự không ngừng hoàn thiện cơ chế
được rút ngắn thì lượng hàng tiêu thụ trên thị trường càng lớn.”
“Vận tải biển là một phương thức vận tải rẻ tiền, có khả năng mở rộng thị
trường bởi chuyên môn hóa, bằng cách đưa ra dịch vụ đối với cả các loại hàng rẻ
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 6
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
tiền bằng bất cứ giá nào. Phát triển kinh tế thế giới có liên quan chặt chẽ với thương
mại hàng hải quốc tế.
Hiện nay, vận tải biển giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong chuyên chở hàng
hóa trên thị trường thế giới, theo thống kê của UNCTAD hàng năm vận tải biển
đảm nhận chuyên chở khoảng 80% lượng hàng trong buôn bán quốc tế.”
(Tài liệu sinh viên, 12)
II. Dịch vụ vận tải biển
1.Khái niệm
“Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm thay đổi vị
trí của hàng hóa và bản thân con người từ nơi này đến nơi khác bằng phương tiện
vận tải.
Dịch vụ vận tải là dịch vụ mà trong đó người vận tải thực hiện yêu cầu của
khách hàng theo sự thỏa thuận để vận chuyển hàng hóa và bản thân con người từ
nơi này đến nơi khác nhằm thu được lợi nhuận kinh tế.
2.Đặc điểm của dịch vụ vận tải
Vận tải là ngành sản xuất vật chất đặc biệt. Vì thế, ngoài điểm chung với các
ngành sản xuất khác, vận tải còn có những điểm riêng biệt sau:
-Quá trình sản xuất trong vận tải là tác động về mặt không gian lên đối tượng
chuyên chở chứ không phải quá trình tác động về mặt kỹ thuật lên đối tượng lao
động.
-Sản xuất trong vận tải không tạo ra sản phẩm mới, mà sản phẩm của ngành
vận tải là sự dịch chuyển hàng hóa trong không gian.
-Sản phẩm vận tải không làm thay đổi hình dạng, kích thước và tính chất lý
• Cảng biển
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 8
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
“Cảng biển là cơ sở vật chất kỹ thuật quan trọng của hệ thống vận tải đường
biển. Theo quan điểm kinh tế vận tải thì cảng biển được coi là đầu mối liên kết các
loại hình vận tải khác nhau. Tại đó hàng hóa được chuyển từ phương tiện này sang
phương tiện khác.
Cảng biển có nhiều loại khác nhau nhưng về mặt kinh tế, người ta chia cảng
biển thành hai loại cơ bản dựa vào quy mô và hiệu suất của chúng, gồm:
-Cảng tổng hợp: là loại cảng phục vụ xếp dỡ cho tất cả các loại hàng hóa khác
nhau do kết cấu mặt hàng qua cảng rất đa dạng. Đây là những cảng có quy mô lớn
nhưng năng suất bình quân thấp, thời gian tàu đỗ cảng dài.
-Cảng chuyên dụng: là loại cảng có trang bị kỹ thuật phục vụ chủ yếu cho một
loại hàng xác định hoặc một nhóm hàng hóa xác định. Các cảng chuyên dụng có
năng suất làm hàng rất cao, rút ngắn thời gian tàu đỗ tại cảng.”
(Tài liệu sinh viên, 15)
• Hệ thống kho bãi và trang thiết bị ở cảng.
“Để phục vụ cho việc giải phóng tàu nhanh cũng như đáp ứng nhu cầu lưu kho
bãi của chủ hàng, các cảng phải có hệ thống kho bãi phù hợp với luồng hàng qua
cảng.
Kho bãi cảng phải có nhiều loại khác nhau, tùy theo công dụng của chúng mà
có thể bao gồm các loại như: kho kín, kho bán lộ thiên, các bãi bảo quản hàng
ngoài trời…”
(Tài liệu sinh viên, 15)
“Trang thiết bị của cảng bao gồm:
-Trang thiết bị phục vụ cho tàu ra vào, tàu chờ đợi, tàu leo đậu, nhóm thiết bị
này gồm: luồng lạch, hệ thống phao tiêu, tín hiệu, phao nổi, cầu tàu…
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 10
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
giao hàng cung cấp để đóng hàng được vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng
hóa bằng đường biển.”
(Điều 145 Bộ luật Hàng hải 2015)
2.Các hình thức vận chuyển hàng hóa bằng đường biển
• Hình thức tổ chức tàu định tuyến:
“Vận tải định tuyến là hình thức cung cấp dịch vụ thường xuyên trên các
tuyến cố định, giữa các cảng cố định theo một lịch trình chạy tàu đã lập và công bố
trước.
Người khai thác tàu sẽ tổi chức một vòng lặp (loop) giữa các chuyến đi trong
cùng một chuyến cố định. Một con tàu sẽ chuyên chở nhiều loại hàng cho nhiều
chủ hàng trong cùng một chuyến đi.
Đây là phương thức vận tải mà hàng hóa liên quan được chuyên chở phải
mang đến tàu. Các tàu sẽ chạy theo lịch trình lập và công bố trước, giữa các cảng
xác định. Dịch vụ vận tải định tuyến cần có đủ một số lượng các tàu nhằm để duy
trì lịch vận hành đã lập sẵn và quảng bá từ trước. Dịch vụ cần có sự kết nối giữa
các tuyến gom hàng với các tuyến chính chạy giữa các cảng trung chuyển quốc tế.
Giá cước vận tải tàu chợ tương đối ổn định do chủ tàu hoặc hiệp hội đưa ra,
cước này thường cao hơn so với tàu chuyến, bao gồm cả chi phí sản xuất.”
(Tài liệu sinh viên, 26)
Hình thức vận tải định tuyến thường ký kết các hợp đồng vận chuyển theo
chứng từ vận chuyển (Bill of Lading, Sea way bill,…). “Hợp đồng vận chuyển
hàng hóa theo chứng từ vận chuyển là hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường
biển được giao kết với điều kiện người vận chuyển không phải dành cho người thuê
vận chuyển nguyên tàu hoặc một phần tàu cụ thể mà chỉ căn cứ vào chủng loại, số
lượng, kích thước hoặc trọng lượng của hàng hóa để vận chuyển.”(Khoản 1 điều
146 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
3.Các bên chính trong quy trình vận chuyển
“-Người thuê vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác
giao kết hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người vận chuyển.
-Người vận chuyển là người tự mình hoặc ủy quyền cho người khác giao kết
hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển với người thuê vận chuyển.
-Người vận chuyển thực tế là người được người vận chuyển ủy thác thực hiện
toàn bộ hoặc một phần việc vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
-Người giao hàng là người tự mình hoặc được người khác ủy thác giao hàng
cho người vận chuyển theo hợp đồng vận chuyển hàng hóa bằng đường biển.
-Người nhận hàng là người nhận hàng theo quy định trong vận đơn hoặc theo
hợp đồng vận chuyển.”
(Điều 147 Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015)
VI. Trách nhiệm của các bên chính trong quy trình vận chuyển
1.Người vận chuyển
-Trách nhiệm của người vận chuyển theo điều 150 Bộ luật Hàng hải Việt Nam
2015 là: “Người vận chuyển phải mẫn cán để trước và khi bắt đầu chuyến đi, tàu
biển có đủ khả năng đi biển, có thuyền bộ thích hợp, được cung ứng đầy đủ trang
thiết bị và vật phẩm dự trữ; các hầm hàng, hầm lạnh và khu vực khác dùng để vận
chuyển hàng hóa có đủ các điều kiện nhận, vận chuyển và bảo quản hàng hóa phù
hợp với tính chất của hàng hóa.”
-Miễn trách người vận chuyển theo điều 151 của Bộ luật Hàng Hải Việt Nam
2015 là:
“Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với mất mát,
hư hỏng hàng hóa do việc tàu biển không đủ khả năng đi biển, nếu đã thực hiện đầy
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 13
o) Hàng hóa không được đóng gói đúng quy cách;
p) Hàng hóa không được đánh dấu ký, mã hiệu đúng quy cách hoặc không phù hợp;
q) Khuyết tật ẩn tỳ của tàu biển mà những người có trách nhiệm không phát hiện
được, mặc dù đã thực hiện nhiệm vụ một cách mẫn cán;
r) Bất kỳ nguyên nhân nào khác xảy ra mà người vận chuyển không có lỗi hoặc
không cố ý gây ra tổn thất hoặc không phải do người làm công, đại lý của người
vận chuyển có lỗi gây ra. Trường hợp có người được hưởng quyền miễn hoàn toàn
trách nhiệm của người vận chuyển theo quy định của pháp luật hoặc theo sự thỏa
thuận ghi trong hợp đồng thì người đó phải chứng minh rằng người vận chuyển đã
không có lỗi, không cố ý hoặc những người làm công, đại lý của người vận chuyển
cũng không có lỗi hoặc không cố ý gây ra sự mất mát, hư hỏng của hàng hóa.
Chậm trả hàng là việc hàng hóa không được trả trong khoảng thời gian đã
thỏa thuận theo hợp đồng hoặc trong khoảng thời gian hợp lý cần thiết mà người
vận chuyển mẫn cán có thể trả hàng đối với trường hợp không có thỏa thuận.
Người vận chuyển không phải chịu trách nhiệm đối với việc chậm trả hàng trong
trường hợp sau đây:
a) Đi chệch tuyến đường khi đã có sự chấp thuận của người giao hàng;
b) Nguyên nhân bất khả kháng;
c) Phải cứu người hoặc trợ giúp tàu khác đang gặp nguy hiểm khi tính mạng con
người trên tàu có thể bị đe dọa;
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 15
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
d) Cần thời gian để cấp cứu cho thuyền viên hoặc người trên tàu.”
2.Người giao hàng
-Trách nhiệm của người giao hàng trong vận chuyển hàng hóa theo điều 154
Bộ luật Hàng hải Việt Nam như sau:
“Người giao hàng phải bảo đảm hàng hóa được đóng gói và đánh dấu ký, mã
hiệu theo quy định. Người vận chuyển có quyền từ chối bốc lên tàu biển những
Trong một chuyến tàu, một hầm tàu, một chuyến phương tiện vận tải hay một
lô, một vận đơn thông thường hay có cùng một loại trọng lượng đồng nhất và số
lượng bao tương đối nhiều. Vì vậy, đối với hàng bao thì trong xếp dỡ vận chuyển
và bảo quản cần phải cẩn thẩn thực hiện đúng quy trình quy tắc kỹ thuật. Sử dụng
các công cụ, phương tiện xếp dỡ phù hợp với hàng bao để tránh, hạn chế hàng bị
rách, bị thủng, vỏ bao bị bẩn, ướt, ngấm nước ngấm dầu. Trong giao nhận hàng bao
thuận lợi KMH hàng hóa ít, không phức tạp chủ yếu là kiểm đếm chính xác số
lượng và phân biệt được loại hàng nguyên vẹn, còn tốt và loại hàng bao bì bị hư
hỏng.” (Tài liệu sinh viên, 53)
2.Hàng rời
“Hàng rời là tất cả các loại hàng không được đóng gói, ở dạng rời trong quá
trình vận chuyển xếp dỡ, giao nhận và bảo quản vẫn ở dạng nguyên rời của nó.
Hàng rời như than, quặng, các loại ngũ cốc, phân bón ở dạng rời.
Trong xếp dỡ, giao nhận ở cảng ta thường gặp hàng rời ở hai dạng sau:
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 17
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
-Hàng rời được chuyên chở, vận chuyển nguyên cả lô, cả vận đơn, cả hầm tàu
hay nguyên cả một chuyến tàu.
-Hàng rời do những bao hàng bị rách, số lượng bao bị rách vỡ nhiều không có
khả năng đóng gói được kịp thời nên khi xếp dỡ và giao nhận phải tiến hành thực
hiện trong điều kiện hàng rời như: xi măng, gạo, bột mì.
Hàng rời thường tổn thất ở các dạng sau: đóng bánh, dính chặt vào nhau, mất
phẩm chất, ẩm ướt, mốc thối.” (Tài liệu sinh viên, 58)
VI. Các chứng từ trong quy trình vận chuyển
1.Danh mục hàng hóa (Cargo List)
“Danh mục hàng hóa là chứng từ về chi tiết hàng hóa trong kiện hàng mà
cấp cho người gửi hàng nhằm xác nhận việc hàng hóa đã được xếp lên tàu hay tiếp
nhận hàng hóa để vận chuyển dùng trong nội thủy.” (luận văn.net)
7.Biên bản xác nhận hàng hóa hư hỏng (Cargo outtur report)
“Trong quá trình xếp dỡ hàng hóa, nếu thấy hàng bị hư hỏng, đổ vỡ thì các
bên cùng nhau lập biên bản về tình trạng của hàng hóa gọi là COR. Nó là thông báo
tổn thất, cung cấp thông tin về loại hàng hóa đã bị đổ vỡ, hư hỏng trên tàu trong
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 19
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
quá trình vận chuyển hoặc dỡ hàng ra khỏi tàu và là chứng từ quan trọng trong bộ
chứng từ khiếu nại hãng tàu hoặc cảng.” (Tài liệu sinh viên, 62)
8.Biên bản kết toán nhận hàng với tàu (Report on receipt of cargo)
“Biên bản kết toán nhận hàng với tàu là biên bản được lập giữa cảng với tàu
sau khi đã dỡ xong hàng hoặc toàn bộ số hàng trên tàu để xác nhận số hàng thực tế
đã giao nhận tại cảng dỡ hàng quy định.” (Tài liệu sinh viên, 62)
CHƯƠNG II: GIỚI THIỆU CHUNG VỀ CÔNG TY CỔ PHẦN
VẬN TẢI VÀ THƯƠNG MẠI DIÊM ĐIỀN
I.Lịch sử hình thành
1.Thông tin chung:
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 20
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
Công ty cổ phần vận tải và thương mại Diêm Điền có trụ sở được đặt tại số
132 Nguyễn Văn Linh, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.
Số điện thoại: 0313764405
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
Họ và tên: Bùi Ngọc Diệp – MSV: 47159Trang: 23
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP NGÀNH KINH TẾ VẬN TẢI BIỂN
a) Giám đốc: Điều hành chung hoạt động của công ty.
Giám đốc tổ chức điều hành mọi hoạt động của công ty đưa ra các quyết sách
về phương hướng hoạt động, quyết định bổ nhiệm, tuyển dụng của công ty và giải
quyết các tranh chấp lớn xảy ra trong quá trình hoạt động. Giám đốc là người chịu
trách nhiệm trước ban hội đồng quản trị của công ty và trước pháp luật trong việc
điều hành công ty.
b) Phó giám đốc: Giúp đỡ giám đốc trong việc điều hành công ty.
Điều hành sản xuất khai thác kinh doanh, nghiên cứu thị trường, điều phối,
nắm bắt nguồn hàng, xây dựng các phương án kinh doanh, đề xuất với giám đốc kí
kết các hợp đồng vận tải hàng hóa và các phương án hợp tác với các công ty khác
để nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty.
c) Phòng kế toán:
Là phòng thực hiện các hoạt động tài chính, hạch toán kinh tế và hạch toán kế
toán trong công ty, quản lý kiểm soát các thủ tục thanh toán. Các công việc chính
của phòng như sau:
-Thực hiện công tác khai báo thuế cho chi cục thuế về tình hình hoạt động sản
xuất của công ty cũng như các cơ quan có thẩm quyền về các hoạt động khác của
công ty.
-Tổng hợp các số liệu, báo cáo hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty,
tình hình sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn đảm bảo quyền chủ động trong kinh
doanh và tự chủ về tài chính.