ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------------------------------------------------
NGUYỄN THỊ THUỶ
“NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA HOẠT ĐỘNG SẢN XUẤT
RAU TỚI MÔI TRƯỜNG ĐẤT, NƯỚC VÀ SỨC KHỎE NGƯỜI
SẢN XUẤT TẠI KHU VỰC CHUYÊN CANH RAU CỦA THÀNH
PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN”
Chuyên ngành : Khoa học Môi trường
Mã số ngành: 60.44.03.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS. Nguyễn Thế Đặng
Thái Nguyên - 2014
LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập tại khoa Sau đại học - Trường Đại học Nông Lâm
Thái Nguyên tôi đã được các thầy, cô giáo truyền đạt những kiến thức cơ bản nhất
để có thể đem những kiến thức đã được học ở trường góp một phần công sức của
mình vào xây dựng đất nước.
Xuất phát từ nguyện vọng của bản thân, được sự nhất trí của Trường Đại học
Nông Lâm, phòng QLĐT Sau Đại Học và dưới sự hướng dẫn tận tình của GS.TS>
Nguyễn Thế Đặng đã cho phép, tạo điều kiện, hướng dẫn tôi thực hiện và hoàn
thành bản khóa luận này.
Trước tiên, tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám Hiệu trường Đại học Nông
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................5
1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên Thế giới và Việt Nam .......................5
1.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới ..........................................5
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam ...........................................7
1.2. Vị trí và tầm quan trọng của rau..................................................................10
1.2.1. Giá trị dinh dưỡng của rau xanh............................................................... 11
1.2.2. Giá trị kinh tế........................................................................................... 13
1.3. Rau an toàn và các vấn đề an toàn thực phẩm .............................................14
1.3.1. Khái niệm rau an toàn..............................................................................14
1.3.2. Ảnh hưởng của rau không an toàn đến sức khoẻ con người......................14
1.3.3. Hàm lượng kim loại nặng trong rau và ảnh hưởng của chúng...................18
1.4. Các yếu tố gây nhiễm trong sản xuất rau.....................................................20
1.4.1. Ô nhiễm môi trường đất...........................................................................20
1.4.1.1. Ô nhiễm đất do sự tích luỹ kim loại nặng từ khu công nghiệp. ..............20
1.4.1.2. Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng phân bón và hóa chất bảo
vệ thực vật.........................................................................................................22
1.4.1.3. Ô nhiễm kim loại nặng trong đất do sử dụng nước tưới bị ô nhiễm .......23
1.4.2. Ô nhiễm môi trường nước........................................................................24
1.4.2.1. Ô nhiễm môi trường nước do tích luỹ kim loại nặng ............................. 25
1.4.2.2. Ô nhiễm môi trường nước do sử dụng phân bón....................................25
1.4.2.3. Ô nhiễm nguồn nước do sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật....................26
Chương 2. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......................... 28
2.1. Địa điểm, thời gian và phạm vi nghiên cứu.................................................28
2.2. Nội dung nghiên cứu ..................................................................................28
3.3. Ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khu vực sản
xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên....................................................... 49
3.3.1. Môi trường đất trồng rau tại Thành phố Thái Nguyên .............................. 49
3.3.1.1. Môi trường đất trồng rau tại Túc Duyên................................................50
3.3.1.2. Môi trường đất trồng rau tại Đồng Bẩm ................................................51
3.3.2. Môi trường nước tại Thành phố Thái Nguyên ..........................................52
3.3.2.1. Môi trường nước ngầm tại Thành phố Thái Nguyên.............................. 52
3.3.2.2. Môi trường nước mặt tại Thành Phố Thái Nguyên ................................ 53
3.3.2.3. Hiện trạng sử dụng nước trong sinh hoạt của các hộ gia đình tại khu
vực chuyên canh rau của Thành Phố Thái Nguyên ............................................55
3.4. Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản
xuất rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên.................56
3.4.1. Đánh giá sức khoẻ của người dân sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên ...56
3.4.2. Hiểu biết của người dân địa phương về sản xuất rau an toàn ....................58
3.4.3. Chương trình tập huấn về sản xuất rau an toàn tại địa phương .................59
3.5. Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của
người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên ....................................................... 60
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ .............................................................................62
1. Kết luận.........................................................................................................62
2. Đề nghị..........................................................................................................63
TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................................................64
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BVTV
:
Tổng sản phẩm
KLN
:
Kim loại nặng
PTNT
:
Phát triển nông thôn
QCVN
:
Quy chuẩn Việt Nam
RAT
:
Rau an toàn
TP
:
Bộ nông nghiệp Hoa Kỳ
VSATTP
:
Vệ sinh an toàn thực phẩm
WHO
:
Tổ chức y tế thế giới
FAO
:
Tổ chức Lương thực và
Nông nghiệp Liên Hiệp Quốc.
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Trang
Bảng 1.1: Hàm lượng kim loại nặng trong một số nguồn sản xuất nông nghiệp .....23
Bảng 3.1: Diện tích, năng suất, sản lượng rau của thành phố Thái Nguyên
qua các năm........................................................................................... 41
Bảng 3.2: Diện tích, năng suất, sản lượng rau năm 2013 của Thành phố
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay sự gia tăng về dân số thế giới cũng như Việt Nam, kéo theo nhu
cầu gia tăng về lương thực thực phẩm, cụ thể là cung cấp trong các bữa ăn hàng
ngày, rau là thực phẩm không thể thiếu, là nguồn thức ăn bổ dưỡng nuôi sống con
người, cung cấp một lượng lớn sinh tố A, B, C, …, còn cung cấp một phần các
nguyên tố vi, đa lượng, rất cần thiết trong cấu tạo tế bào, rau còn là nguồn dược liệu
quý bảo vệ sức khỏe con người. Trước nhu cầu của người tiêu dùng tăng cao người
làm nông nghiệp đẩy mạnh nâng cao năng suất nhưng chưa chú trọng đến chất
lượng, độ an toàn của thực phẩm, và việc sử dụng các thuốc bảo vệ thực vật đã làm
giảm chất lượng các sản phẩm nông nghiệp, ngoài ra các sản phẩm nông nghiệp còn
bị ảnh hưởng bởi các nguồn chất thái của các nhà máy xí nghiệp, khu công nghiệp
và nước thải đô thị, đặc biệt là ở các thành phố lớn.
Thái Nguyên là một trung tâm công nghiệp ở khu vực phía Bắc Việt
Nam. Ở đây tập trung các nhà máy xí nghiệp lớn nhỏ của đất nước. Với mật độ
dân số đông, đây là một thị trường quan trọng để tiêu thụ các sản phẩm nông
nghiệp. Từ nhiều năm nay Thành phố đã hình thành vành đai sản xuất thực
phẩm trong đó cây rau được coi là sản phẩm quan trọng nhất. Cùng với sự tăng
trưởng nông nghiệp nói chung, sản xuất rau Thái Nguyên đã đáp ứng được nhu
cầu về số lượng, khắc phục dần tình trạng giáp vụ, nhiều chủng loại rau chất
lượng cao đã được bổ sung trong bữa ăn hàng ngày của người dân. Hiện nay,
sản xuất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đạt được nhiều thành tựu lớn trên các
lĩnh vực, trong đó sản xuất rau có bước tăng trưởng không ngừng cả về diện
tích, chủng loại và sản lượng cung cấp trên thị trường. Riêng năm 2010, toàn
tỉnh đã trồng được 8.925 ha rau các loại, tăng gần 1.900 ha so với năm 2005.
Các loại rau được đưa vào trồng chủ yếu là su hào, cải các loại, bí xanh, súp lơ,
rau thơm, rau muống, dưa chuột, cà chua…. Năng suất rau đạt 156,3 tạ/ha/năm,
sản lượng đạt gần 140 nghìn tấn, tăng hơn 50 nghìn tấn so với 5 năm trước. Với
3
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu tổng quát
- Đánh giá được ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các
khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên.
- Đánh giá được ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản
xuất rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên.
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của
người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của Thành phố Thái Nguyên tác
động đến sản xuất rau.
- Đánh giá thực trạng sản xuất rau tại Thành phố Thái Nguyên.
- Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến môi trường đất, nước tại các khu
vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên
- Nghiên cứu ảnh hưởng của canh tác rau đến sức khoẻ của người dân sản xuất
rau tại khu vực sản xuất rau chính của Thành phố Thái Nguyên
- Đề xuất giải pháp nhằm phát triển sản xuất rau và đảm bảo sức khoẻ của
người sản xuất tại Thành phố Thái Nguyên
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
- Đóng góp về mặt lý luận cho việc giải thích các mối tương quan giữa hàm
lượng các kim loại nặng trong đất, trong nước và những ảnh hưởng đến sức khoẻ
người sản xuất rau.
- Đối với các sinh viên và các nhà nghiên cứu nghiên cứu này sẽ phục vụ như
là tài liệu tham khảo để nghiên cứu thêm về hàm lượng kim loại nặng trong đất
trồng, nước tưới trên địa bàn thành phố Thái Nguyên và là cơ sở để nghiên cứu hàm
nơi với thời gian sinh trưởng ngắn, hiệu quả kinh tế cao. Vì vậy rau được coi là loại
cây trồng chủ lực trong cơ cấu sản xuất nông nghiệp ở nhiều quốc gia
1.1.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau trên thế giới
Hiện này, cùng với sự gia tăng dân số, nhu câu cung cấp lương thực thực
phẩm cho loài người cũng ngày càng gia tăng mạnh mẽ. Tuy nhiên cùng với việc
phát triển kinh tế cũng đã kéo théo hàng loạt những vấn đề môi trường. Do sự
phát triển mạnh mẽ của đô thị và công nghiệp cũng như sự gia tăng lượng phân
hóa học và thuốc trừ sâu trong sản xuất nông nghiệp đã gây ô nhiễm môi trường
và ảnh hưởng đến sức khỏe con người. Trong những năm gần đây các tổ chức
quốc tế như tổ chức Nông lương (FAO), tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổ
chức khác về vấn đề môi trường đã đưa ra các khuyến cáo, hạn chế việc sử dụng
hóa chất nhân tạo vào nông nghiệp, xây dựng các quy trình sản xuất theo công
nghệ sạch, công nghệ sinh học, công nghệ sử dụng nguồn năng lượng tái tạo
(Nguyễn Xuân Thành, 1997) [21]. Tổ chức Y tế thế giới đã ước tính rằng mỗi
năm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang phát triển bị nhiễm
độc thuốc bảo vệ thực vật. Trong thập kỷ 90 của thể kỷ XX ở Châu phi hàng năm
có khoảng 11 triệu trường hợp bị ngộ độc. Ở Malaixia 7% nông dân bị ngộ độc
6
hàng năm, 15% người bị ngộ độc thuốc bảo vệ thực vật ít nhất một lần trong đời
(Hồ Thị Lam Trà, 2005)[24]. Chính vì vậy, từ quy trình công nghệ sản xuất rau
truyền thống, các nước này đã cải tiến ứng dụng công nghệ sản xuất rau an toàn
ngày càng phổ biến rộng rãi trên thế giới.
Ở các nước phát triển công nghệ sản xuất rau được hoàn thiện ở trình độ cao.
Sản xuất rau an toàn trong nhà kính, nhà lưới, trong dung dịch đã trở nên quen
thuộc. Ở Đức có hàng ngàn của hàng bán rau “xanh sinh thái” và “trái cây sinh thái”
để phục vụ nhu cầu rau quả cho người tiêu dùng. Vì vậy rau an toàn là nhu cầu
không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của các nước này. Những năm gần đây
khẩu quả nhiệt đới toàn cầu. EU vẫn là khu vực nhập khẩu quả nhiệt đới lớn nhất
thế giới với Pháp là thị trường tiêu thụ chính và Hà Lan là thị trường trung chuyển
lớn nhất châu Âu.
Ngoài Hoa Kỳ và EU, Nhật Bản, Canada và Hồng Kông cũng là những thị
trường nhập khẩu quả nhiệt đới lớn. Đối với các loại quả có múi, tốc độ tăng sản
lượng sẽ không cao do khâu chế biến không thuận lợi. Sao Paolo của Brazil và
Florida của Mỹ là những khu vực cung cấp quả có múi lớn nhất thế giới.
1.1.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ rau ở Việt Nam
Ở Việt Nam rau xanh được sản xuất và tiêu dùng rất phổ biến và ngày càng
gia tăng. Ở xung quanh hầu hết các thành phố lớn đều hình thành các vùng chuyên
canh rau để cung cấp cho dân cư đô thị, ước tính có khoảng 113.000 ha tương ưng
khoảng 40% diện tích và 48% sản lượng rau toàn quốc
Việt nam có lịch sử trồng rau từ lâu đời, với điều kiện khí hậu rất thích
hợp cho sinh trưởng, phát triển và tạo hạt của các loại rau, kể cả rau có nguồn
gốc á nhiệt đới và ôn đới. Tuy nhiên tình hình sản xuất rau ở Việt Nam phụ
thuộc rất nhiều vào thời tiết, mùa vụ và các vùng khác nhau. Năng suất rau cũng
rất biến động theo các vùng địa lý, ví dụ như ở Đà Lạt – Lâm Đồng năng suất đạt
20.500kg/ha, trong khi đó, ở Quảng Trị năng suất chỉ là 4.500kg/ha vào năm
1993. Diện tích trồng rau tập trung ở 2 vùng chính là vùng đồng bằng Sông
Hồng và vùng đồng bằng Nam Bộ. Trong các loại rau thì rau muống được trồng
phổ biến nhất trên cả nước, tiếp đến là bắp cải được trồng nhiều ở miền Bắc. Đối
với nông dân, rau là loại cây trồng cho thu nhập quan trọng cho nông hộ (Hồ
Thanh Sơn và cs, 2005)[20]
8
Một vấn đề quan trọng trong sản xuất và tiêu thụ rau xanh ở nước ta hiện nay
là không chỉ nhằm đáp ứng về số lượng ngày càng tăng mà cần phải đảm bảo về
chất lượng rau cung cấp trên thị trường. Nhưng sản xuất rau của Việt Nam chủ yếu
gia sản xuất, lượng rau sạch không đáp ứng được đại bộ phận người tiêu dùng có
thu nhập thấp nên rất khó mở rộng.
+ Thứ hai là mô hình phát triển rau an toàn trên diện rộng ngay tại đồng
ruộng, bằng cách đầu tư chuyển giao kỹ thuật cho nông dân. Nhược điểm cơ bản là
không trồng được rau trái vụ, hay bị tác động bất lợi của thời tiết, nhưng có ưu điểm
là nhiều nông dân có thể tham gia áp dụng, diện tích và sản lượng thu hoạch lớn nên
đáp ứng được nhu cầu của đông đảo người tiêu dùng, khai thác được các ưu thế của
thời tiết nhiệt đới, giá thành thấp, tác động tích cực nhanh đến nông nghiệp, môi
trường và cộng đồng xã hội, dễ mở rộng quy mô sản xuất. Đây được gọi là mô hình
“sản xuất rau sach cộng đồng” đã được nghiên cứu ứng dụng và khởi xướng từ tỉnh
Vĩnh Phúc thời kỳ 2000 – 2003, từ đó lan ra khá nhiều địa phương như Hà Nội,
Thái Nguyên, Hải Dương, Bắc Ninh, Bình Định, Khánh Hoà, Đà Lạt… Mô hình
này hiện nay tỏ ra thích hợp, có hiệu quả.
Tuy nhiên hiệu quả và năng suất rau an toàn còn thấp so với các loại rau
cũng loại không được sản xuất an toàn, Có rất nhiều nguyên nhân khiến cả người
tiêu dùng và các cơ quan quản lý nhà nước nghi ngờ độ an toàn của rau, trong đó có
2 nguyên nhân chính:
+ Nguyên nhân thứ nhất là người nông dân sản xuất nhỏ lẻ, chưa áp dụng
đầy đủ qui trình kỹ thuật trồng rau quả an toàn. Hiện tại ngay cả trên 40% vùng sản
xuất rau an toàn của cả nước lượng vi sinh vật, hoá chất độc hại, kim loại nặng và
thuốc bảo vệ thực vật tồn dư trong rau an toàn vẫn tồn tại, trong đó khoảng 4% vượt
mức cho phép
+ Nguyên nhân thứ hai là qui hoạch vùng sản xuất rau an toàn chưa hoàn
thiện, ruộng rau an toàn vẫn bố trí xen kẽ với các thửa ruộng không theo qui trình.
Bất cập nhất hiện nay là ruộng sản xuất rau theo đúng qui trình kỹ thuật nhưng lại
nằm ngay trong vùng môi trường canh tác bị ô nhiễm. Hiện nay các vùng sản xuất
rau an toàn vẫn còn manh mún rất khó cho việc tổ chức sản xuất cũng như kiểm tra
và tiêu thụ sản phẩm. Ngay như Hà Nội là một địa phương có tốc độ qui hoạch
vùng rau an toàn nhanh hơn rất nhiều các địa phương khác nhưng diện tích rau an
cải như là nguồn lương thực cho con người. Theo FAO, hiện nay nhiều nước trên thế
giới trồng rất nhiều chủng loại rau với diện tích rất lớn. Tại các nước phát triển tỷ lệ
11
cây rau so với cây lương thực là 2/1 còn các nước đang phát triển thì tỷ lệ này là 1/2
(Lê Trần Đức, 1997)[5].
1.2.1. Giá trị dinh dưỡng của rau xanh
Rau xanh là loại thực phẩm cần thiết cho cuộc sống hàng ngày và không thay
thế được, rau không chỉ cung cấp một lượng dinh dưỡng nhất định đặc biệt là chất
khoáng và các loại vitamin trong khẩu phần ăn hàng ngày mà còn cung cấp
cellulose giúp cho cơ thể tiêu hoá thức ăn dễ đào thải nhanh colesterolle và các chất
độc khác ra khỏi cơ thể, rau còn là nguồn dược liệu quí làm tăng sức khoẻ và kéo
dài tuổi thọ của con người.
Có thể thấy nguồn dinh dưỡng từ rau xanh rất phong phú, chúng bao gồm:
Vitamin, protein, lipit, gluxit, các chất khoáng và chất xơ,… đáng chú ý là vitamin
và chất khoáng có trong rau ưu thế hơn một số cây trồng khác (Nguyễn Thúy Hà và
cs, 2010)[6].
So sánh thành phần dinh dưỡng của cây rau và cây ngũ cốc, A.F.M.Sharfuddin và
M.A.Sididque (1985) (Trần Văn Lài – Lê Thị Hà, 2002)[15] cho biết rau, đặc biệt là
rau ăn lá có hàm lượng vitamin và các khoáng chất cao hơn lúa mỳ và lúa nước rất
nhiều lần.
Các loại vitamin có trong rau như: Vitamin A, B1, B2, C, E, PP, ... có tác dụng
quan trọng trong quá trình phát triển của cơ thể, cùng các chất khoáng trong rau chủ
yếu như K, Mg, Ca, Fe, vi lượng, ... là những chất rất cần thiết để cấu tạo nên máu và
xương (Lê Trần Đức, 1997)[5]. Hiện nay, trong khẩu phần ăn của con người, rau xanh
đã cung cấp khoảng 90 - 99% nguồn vitamin A, 60 - 70% nguồn vitamin B2 và gần
100% vitamin C. Vitamin giúp cho các hoạt động sinh lý diễn ra bình thường trong cơ
thể, nếu thiếu bất kỳ một loại vitamin nào sẽ gây rối loạn chức năng hoạt động sống
Một số cây rau được sử dụng như những cây dược liệu quí như: Tỏi ta,
Gừng, Nghệ, Tía tô, Hành tây, Lá lốt,... được coi là dược liệu tốt cho hệ tiêu
hoá của người và động vật. Rau ngót, Mướp đắng, Khoai sọ, Đậu đen là thuốc
bổ âm làm mát cơ thể. Mướp hoang, Rau diếp là thuốc thông mạch điều kinh
tan kết tụ. Bí đỏ, Rau sam là thuốc trị lị, trừ giun rất tốt ... (Trần Văn Lài – Lê
Thị Hà, 2002)[13]. Theo quan điểm của các nhà dinh dưỡng học thì mỗi người
cần 250 - 300g rau xanh/ngày để đáp ứng cho sự hoạt động bình thường của
con người.
13
1.2.2. Giá trị kinh tế
Ngoài giá trị dinh dưỡng rau là loại cây trồng mang lại hiệu quả kinh tế cao.
Rau là loại cây có thể trồng được ở nhiều vùng sinh thái khác nhau. Mặt khác rau là
loại cây trồng có thời gian sinh trưởng ngắn và có thể trồng nhiều vụ trong năm do
vậy rau được coi là loại cây trồng chủ lực trong việc chuyển dịch cơ cấu cây trồng
xoá đói giảm nghèo cho nông dân Việt Nam. Vào những năm 1986 - 1990 kim
ngạch xuất khẩu đã đạt trên 70 triệu USD/năm. Từ năm 1991 đến nay lượng rau
xuất khẩu là 10,000 tấn. So với lúa gạo, giá trị đem lại từ xuất khẩu rau quả gấp 1,5
- 3 lần. Năm 1997 kim ngạch xuất khẩu rau của nước ta đạt 140 triệu USD tăng
170% so với năm 1985 và chiếm 1,6 % tổng kim ngạch xuất khẩu trong cả nước.
Đài Loan thu nhập tính bằng tiền trên 1 ha rau hơn hẳn các cây trồng
khác.Theo số liệu thống kê trên toàn nước Mỹ năm 1997 cho thấy, tổng giá trị thu
được trên 1 ha trồng rau cao hơn so với lúa nước và lúa mỳ, trong đó trồng cà chua
cho thu nhập cao hơn hơn khoảng 4 lần so với lúa nước và 20 lần so với lúa mỳ
(G.W. Ware, Mocollum, 1980) (dẫn theo Nguyễn Đình Mạnh, 2002)[15].
Theo số liệu điều tra của Viện kinh tế nông nghiệp (dẫn theo Trần Văn
Lài)[13] năm 1996 tại 4 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Nam Định và Thái Bình cho thấy
tổng thu nhập trên 1 ha của ngô là 3.333.000 đồng, khoai tây 15.641.000 đồng, bắp
các chỉ tiêu trong từng loại rau phải đạt dưới mức cho phép theo tiêu chuẩn của
FAO/WHO
1.3.2. Ảnh hưởng của rau không an toàn đến sức khoẻ con người
Rau là nguồn thực phẩm không thể thiếu trong mỗi bữa ăn hàng ngày của con
người phần lớn các khoáng chất, Vitamin và các chất dinh dưỡng khác.
Theo nghiên cứu của các nhà dinh dưỡng học thì hàng ngày chúng ta cần
2.300 - 2.500 calo cho năng lượng để hoạt động sống và làm việc. Để đủ số năng
lượng đó thì mỗi người cần bổ sung thêm khoảng 300g rau mỗi ngày (Sylvia
S.Mader, 2004)[30]. Từ những nhu cầu về rau hàng ngày càng gia tăng, mỗi người
nông dân đã không ngừng nâng cao năng suất rau nhờ áp dụng những biện pháp
thâm canh tăng vụ và tác dụng của phân bón và hoá chất bảo vệ thực vật làm cho
năng suất và sản lượng các loại rau hàng ngày càng tăng mạnh. Bên cạnh đó việc sử
dụng một lượng lớn và không đúng quy định về phân bón và hoá chất bảo vệ thực
vật đã làm giảm chất lượng của các loại rau. Ngoài ra do quá trình đô thị hoá và
15
chất thải các nhà máy xí nghiệp công nghiệp đã dẫn đến tình trạng nhiễm bẩn đất,
nước, các loại sản phẩm nông nhiệp đặc biệt là ở khu công nghiệp tập trung và ở
các thành phố lớn.
Hiện nay do sự phát triển mạnh mẽ của quá trình đô thị hoá và công nghiệp
hoá cùng với sự phát triển mạnh mẽ của các ngành công nghiệp hoá chất và nông
nghiệp. Trong những năm gần đây các tổ chức quốc tế như FAO, WHO và các tổ
chức môi trường đã có rất nhiều cố gắng trong việc hạn chế việc sử dụng hoá chất
nhân tạo vào trong nông nghiệp, xây dựng các qui trình sản xuất theo công nghệ
sạch, công nghệ sinh học, ... Trong những thập kỷ 80 lượng thuốc trừ sâu sử dụng ở
các nước Indonesia, Pakistan, Philippin, Srilanka đã tăng hơn 10% hàng năm. WHO
đã ước lượng rằng mỗi năm có 3% nhân lực lao động nông nghiệp ở các nước đang
phát triển bị nhiễm thuốc trừ sâu. Ở đầu thập kỷ 90 ở Châu Phi mỗi năm có khoảng
cấp cứu ngộ độc thực phẩm (Vietnamnet, 2004)[27].
Theo Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 6 tháng đầu năm 2003, trên địa
bàn thành phố đó xảy ra 9 vụ ngộ độc tập thể làm 844 người bị ngộ độc, không có
tử vong. So với cùng kỳ năm 2002, đó giảm 5 vụ.
Tại phiên họp lần thứ 21 diễn ra ngày 21/08/2004 theo Báo cáo giám sát của
Uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường cho thấy tất cả các khâu từ sản xuất
và chế biến đều có vấn đề, hệ qủa là số vụ ngộ độc cứ tăng theo hàng năm với các
triệu chứng hết sức nguy kịch. Minh chứng cụ thể là năm 2000 chỉ có 7 vụ ngộ độc
với 297 người mắc, năm 2002 có tới 29 vụ với 930 người mắc cho tới năm 2003 thì
số vụ ngộ độc chỉ có 22 vụ nhưng lại báo động về số người mắc lên tới 1.158 người.
Theo thống kê của Bộ y tế từ năm 1999 - 2004 trên toàn quốc xảy ra 1.245 vụ ngộ
độc làm cho 28.014 người mắc trong đó 333 người tử vong.
Theo Chủ nhiệm uỷ ban Khoa học - Công nghệ và Môi trường Hồ Đức Việt
(Vietnamnet, 2004) 27 khi kiểm tra có tới 30 - 60% mẫu rau quả tươi đều có dư
lượng hoá chất bảo vệ thực vật, 100% mẫu đậu đỏ ở Hà Nội và Hà Tây, 66,6% mẫu
rau cải ở Thành phố Hồ Chí Minh và Đồng Nai có dư lượng NO3- vượt quá giới hạn
cho phép, 22 - 23% mẫu rau ở Hà Nội và Hà Tây có hàm lượng As, và 25,4% mẫu
hoa quả lưu thông trên thị trường bị nhiễm chất bảo quản độc hại vượt quá tiêu
chuẩn cho phép. Kiểm tra dư lượng thuốc trừ sâu trên hơn 3.100 mẫu rau củ quả các
loại lấy từ các địa bàn sản xuất rau, chợ đầu mối, những đơn vị cung ứng rau quả...