MỞ ĐẦU
Với sự phát triển của lực lượng sản xuất và mở rộng thị trường thế giới trong
thế kỷ XX, sự phát triển mạnh mẽ của cách mạng khoa học – công nghệ và toàn
cầu hóa hiện nay đã tạo ra lực lượng sản xuất hiện đại và đồ sộ hơn nhiều và do đó
càng làm sáng tỏ nhận thức và đánh giá của C.Mác và Ăngghen. Sau này, khi
Lênin đã lãnh đạo thành công cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười ở
nước Nga, cho rằng chỉ có lực lượng sản xuất hiện đại mới tạo ra năng suất lao
động cao. “ Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu
nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới” 1. Đó chính là ánh sáng soi đường cho
đất nước ta trên con đường công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Việc phát triển, xây
dựng lực lượng sản xuất đóng vai trò hết sức quan trọng và then chốt trong việc
thúc đẩy phát triển nền kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kì đổi mới, đồng
thời đạt được những thành quả nhất định.
Trên cơ sở tiếp thu bài học và tiếp cận tài liệu tham khảo, em đã quyết định
chọn đề bài “Quan niệm củ a chủ nghĩa Mác – Lênin về lự c lư ợng sả n xuấ t và
quá tr ình xây dự ng lự c lư ợng sả n xuấ t tr ong thời kì đổi mới ở Việt Nam” để
làm rõ hơn vấn đề nêu trên.
NỘI DUNG
I. Quan niệm củ a chủ nghĩa Mác - Lênin về lự c lư ợng sả n xuấ t
1. Khái niệm lự c lư ợng sả n xuấ t
Lực lượng sản xuất là toàn bộ các nhân tố vật chất, kĩ thuật của quá trình sản
xuất, chúng tồn tại trong nhiều mối quan hệ biện chứng với nhau tạo ra sức sản
xuất làm cải biến các đối tượng trong quá trình sản xuất, tức tạo ra năng lực thực
tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhất định
1
V.I.Lênin: toàn tập, Nxb Tiến bộ, Mátxơcơva, 1977, t.39, tr.25.
2
Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà nội – 2009, tr. 133.
3
V.I.Lênin: toàn tập, Nxb. Tiến bộ, Mátxơ cơva, 1997, t.38, tr. 430.
2
2
của mọi biến đổi xã hội. Trình độ phát triển của công cụ lao động là thước đo trình
độ chinh phục tự nhiên của con người, là tiêu chuẩn phân biệt các thời đại kinh tế
trong lịch sử. Nếu xem xét quá trình lao động sản xuất không phải với tư cách trực
quan là quá trình lao động đơn lẻ, riêng biệt của mỗi cá nhân độc lập mà là tổng thể
quá trình lao động của một xã hội thì các yếu tố tư liệu sản xuất và người lao động
cần phải được phân tích là tổng thể kết hợp giữa các loại và trình độ phát triển của
tư liệu sản xuất cũng như giữa các loại và trình độ phát triển của người lao động
trong tính toàn thể xã hội của nó. Trong đó có sự kết hợp giữa các loại lao động
phát triển ở những trình độ kinh tế khác nhau (lao động trí óc và lao động chân tay,
lao động trực tiếp và lao động gián tiếp…). Cách hiểu đó mới có thể thấy sự phát
triển của lực lượng sản xuất của thời đại ngày nay.
Một trong những đặc điểm lớn nhất của thời đại ngày nay là có sự phát triển
nhanh chóng của các ngành khoa học tự nhiên gắn liền với quá trình phát minh
sáng chế kỹ thuật mới, từ đó làm xuất hiện và phát triển nhanh chóng của các
nghành công nghệ cao như: công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công
nghệ sinh học, công nghệ vũ trụ… các nghành công nghệ đó càng đóng vai trò then
chốt, trụ cột trong sự phát triển của lực lượng sản xuất ở các nước có công nghiệp
hiện đại. Với sự phát triển đó, tất yếu đòi hỏi quá trình phát triển ngày càng cao
của người lao động trong xã hội công nghiệp hiện đại. Xu hướng sử dụng trình độ
lao động có đào tạo và được đào tạo ở trình độ chuyên môn cao và theo chiều sâu
của trình độ chuyên môn hóa để có thể thích ứng với việc sử dụng kĩ thuật mới
nghiệp hóa càng bức thiết.
Năm 1954 Miền Bắc được giải phóng và bước vào thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội. Đại hội III của Đảng (9 – 1960) xác định công nghiệp hóa xã hội chủ
nghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ, tiến hành cách mạng kỹ
4
Giáo trình Triết học, Nxb. Đại học sư phạm, Hà nội – 2014, tr. 244 – 245.
4
thuật xây dựng nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, văn hóa và khoa
học tiên tiến. Xác lập và củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa. Với đường
hướng đó, mặc dù trong điều kiện phải tiến hành kháng chiến chống Mỹ, cứu nước,
lực lượng sản xuất ở miền Bắc đã tăng gấp nhiều lần về cơ sở vật chất - kỹ thuật,
chế độ phân phối theo lao động, có tính đến một phần về đóng góp tư liệu sản xuất
(ruộng 5%). Sau khi miền Nam được giải phóng, đất nước thống nhất và xây dựng
chủ nghĩa xã hội trên cả nước. Đại hội IV của Đảng (12-1976) tiếp tục đường lối
đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa và coi cách mạng khoa học - kỹ thuật
là then chốt để phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất. Trong hơn 10 năm xây
dựng chủ nghĩa xã hội trên cả nước, dù bị bao vây, cấm vận và chiến tranh biên
giới với những tổn thất nặng nề, song lực lượng sản xuất vẫn phát triển đáng kể:
“đã hoàn thành mấy trăm công trình tương đối lớn và hàng nghìn công trình vừa
và nhỏ, trong đó có một số cơ sở quan trọng về điện, dầu khí, xi măng, cơ khí, dệt,
đường, thủy lợi, giao thông…” 5.
Với nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan nên Việt Nam đã lâm vào
khủng hoảng từ năm 1979. Một trong những nguyên nhân đó là nóng vội, duy ý
chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và quan hệ sản xuất mới bộc lộ nhiều hạn chế,
viên ra trường là 233.966 trong đó sinh viên tốt nghiệp đại học là 152.272; sinh
viên tốt nghiệp cao đẳng là 81.694. Số trí thức có trình độ thạc sĩ, tiến sĩ cũng tăng
nhanh. Theo thống kê cả nuớc đến 2008 có hơn 14 nghìn tiến sĩ và tiến sĩ khoa học
và đang đặt mục tiêu trong 10 năm tới sẽ có 20000 tiến sĩ. Năm 2008 nước ta có
275 trường Trung cấp chuyên nghiệp, 209 trường cao đẳng, 160 trường Đại học và
có tới 27.900 trường phổ thông, 226 trường dân tộc nội trú…Nhìn vào những con
số này cho thấy lực lượng trí thức và công chức thực sự là một nguồn lực quan
trọng đối với sự phát triển kinh tế đất nước.
Lực lượng lao động nước ta hiện nay khoảng 52.207.000 người; hàng năm trung
bình có khoảng 1,5-1,6 triệu thanh niên bước vào tuổi lao động. Thể lực và tầm
vóc của nguồn nhân lực đã được cải thiện và từng bước được nâng cao.
Về trình độ chuyên môn kỹ thuật, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo trong toàn bộ lực
lượng lao động từ 15 tuổi trở lên là 17,9%, trong đó ở thành thị là 33,7%, gấp 3 lần
6
tỷ lệ này ở khu vực nông thôn là 11,2%, phân theo giới tính tỷ lệ này là 20,3% đối
với nam và 15,4% đối với nữ; tỷ lệ nhân lực được đào tạo trình độ cao (từ đại học
trở lên) trong tổng số lao động qua đào tạo ngày càng tăng (năm 2010 là 5,7%,
năm 2012 là 6,4%, sơ bộ năm 2013 là 6,9% ).
Gần 30 năm đổi mới, cơ sở vật chất kỹ thuật phát triển, nhiều công trình lớn của
đất nước được xây dựng và đi vào hoạt động. Đó là nhà máy thủy điện Yaly, Sơn
La, Tuyên Quang cùng với Hòa Bình, Trị An trước đó, hệ thống tải điện Bắc Nam,
cùng với các nhà máy thủy điện vừa và nhỏ, nhiệt điện đã là thành tựu lớn của điện
khí hóa toàn quốc. Công nghiệp dầu khí với khu công nghiệp lọc dầu Dung Quất,
khí điện đạm Phú Mỹ, Cà Mau. Hiện đại hóa ngành khai thác than và khoáng sản.
Tiếp tục phát triển công nghiệp gang thép, cơ khí. Phát triển công nghệ thông tin
và viễn thông. Nâng cấp hệ thống đường giao thông. Xây mới các cầu hiện đại: Mỹ
Thuận, Cần Thơ, các cầu ở Đà Nẵng, cầu Thanh Trì, Vĩnh Tuy ở Hà Nội và nhiều
nuôi ong trở thành một ngành sản xuất hàng hóa và đã xuất 450 tấn mật ong sang
thị trường một số nước khối EU và Mỹ, thu 13 tỷ đồng/năm. Tại Quảng Ninh, việc
chuyển giao tiến bộ kỹ thuật đã giúp một đơn vị tiếp nhận, làm chủ được công
nghệ sản xuất giống và nuôi tu hài thương phẩm. Trước khi thực hiện dự án doanh
thu công ty chỉ đạt hai tỷ đồng/năm, sau khi triển khai thực hiện dự án một năm
(năm 2007) doanh thu của công ty đã tăng lên 10 tỷ đồng, đến năm 2009 đạt 150 tỷ
đồng và dự kiến năm 2010 đạt 200 tỷ đồng. Ðến nay, việc nhân giống và nuôi
thương phẩm tu hài đã được nhân rộng ra toàn huyện đảo Vân Ðồn (Quảng Ninh)
và các tỉnh Hải Phòng, Nghệ An, Thanh Hóa...
3. Hạ n chế tr ong quá tr ình xây dự ng lự c lư ợng sả n xuấ t hiện nay ở Việt Nam;
Nguyên nhân và một số phư ơng hư ớng góp phầ n phát tr iển lự c lư ợng sả n
xuấ t tr ong thời gian tới
a. Hạ n chế tr ong quá tr ình xây dự ng lự c lư ợng sả n xuấ t ở nư ớc ta
- Chất lượng đào tạo, cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực, sự phân bố theo vùng,
miền, địa phương của nguồn nhân lực chưa thực sự phù hợp với nhu cầu sử dụng
của xã hội, gây lãng phí nguồn lực của Nhà nước và xã hội. Đội ngũ nhân lực chất
lượng cao, công nhân lành nghề vẫn còn rất thiếu so với nhu cầu xã hội.
8
- Số lao động kém về năng lực thực hành và khả năng thích nghi trong môi
trường cạnh tranh công nghiệp; Khả năng làm việc theo nhóm, tính chuyên nghiệp,
năng lực sử dụng ngoại ngữ là công cụ giao tiếp và làm việc của nguồn nhân lực
còn rất hạn chế.
- Tinh thần trách nhiệm làm việc, đạo đức nghề nghiệp và công dân, ý thức văn
hoá công nghiệp, kỷ luật lao động của một bộ phận đáng kể người lao động chưa
cao; Năng suất lao động còn thấp so với nhiều nước trong khu vực và thế giới.
- Năng lực khoa học và công nghệ còn nhiều yếu kém: còn thiếu đội ngũ cán bộ
khoa học và công nghệ giỏi; trình độ công nghệ của nhiều ngành sản xuất còn thấp
- Ba là , cần tập trung cải cách hệ thống giáo dục – đào tạo – dạy nghề và xây
dựng xã hội học tập, đẩy mạnh đào tạo tại doanh nghiệp và tổ chức, gắn đào tạo
với sử dụng, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ và tập trung tăng
cường thế lực và nâng cao tầm vóc của nguồn lao động.
- Thứ tư là , chủ động hội nhập quốc tế để phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam cũng như tạo cơ hội, điều kiện thuận lợi để người lao động có cơ hội trao đổi
kinh nghiệm học tập, làm việc với bạn bè quốc tế.
Để thực hiện thành công các giải pháp trên, cần đẩy mạnh công tác tuyên
truyền, làm cho cán bộ, công chức của toàn bộ hệ thông chính trị các cấp, các tầng
lớp nhân dân, các nhà trường, các doanh nghiệp, tổ chức hiểu rõ vai trò và trách
nhiệm đào tạo và sử dụng nhân lực, cải tiến tư liệu lao động, phát triển khoa học
công nghệ hiện đại, biến thách thức thành lợi thế để phát triển kinh tế, xã hội và
nâng cao vị thế quốc gia trên trường quốc tế.
KẾT LUẬN
Như vậy, với sự phát triển của lực lượng sản xuất đã xác định ở trên, chúng ta
có thể thấy sự đổi mới về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc
vận dụng quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng
sản xuất. Thực hiện các đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa; phát triển nhanh nguồn nhân lực, xây dựng hệ thống
10
kết cấu hạ tầng đồng bộ, với một số các công trình hiện đại. Quá trình đổi mới, tái
cơ cấu và thực hiện các đột phá đó cũng chính là thúc đẩy hơn nữa sự phát triển lực
lượng sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất tiến bộ, phù hợp và nhanh chóng đưa
nước ta đến năm 2020 trở thành một nước công nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo trình Những nguyên lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, Nxb. Chính
trị quốc gia, Hà nội – 2009