HỌC VIỆN TƯ PHÁP
KHOA ĐÀO TẠO LUẬT SƯ
BÀI TIỂU LUẬN
LUẬT SƯ VÀ NGHỀ LUẬT SƯ
Chuyên đề: Mối
quan hệ giữa Luật sư và các cơ quan, người
tiến hành tố tụng – Thực trạng và giải pháp
Họ và tên: Nguyễn Thúy Diễm
Sinh ngày 11 tháng 12 năm 1984
SBD:08 / Lớp: LS khóa XIV
Cần Thơ, ngày 28 tháng 07 năm 2013
1
MỤC LỤC
1. GIỚI THIỆU
Luật sư là một nghề đang được xã hội quan tâm, đặc biệt là trong điều kiện
kinh tế thị trường bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay. Luật sư được hiểu như
một nghề dựa trên sự am hiểu pháp luật và áp dụng pháp luật 1, họ gánh vác sứ mệnh
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của khách hàng nhưng đồng thời cũng có trách
nhiệm tôn trọng tính tối cao của pháp luật, bảo đảm pháp chế. Với thiên chức của
nghề, người luật sư đòi hỏi cần phải nhận thức và ứng xử một cách có đạo đức trong
xã hội, về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, tuân thủ những giá
ứng xử của luật sư trong mối quan hệ này.
2.1 Vai trò, nhiệm vụ của Luật sư:
Theo điều 3 của Luật luật sư (2006) cũng như Luật sửa đổi, bổ sung một số điều
của Luật luật sư (2012) đã khẳng định rất rõ ràng chức năng xã hội của luật sư là góp
phần bảo vệ công lý, các quyền tự do, dân chủ của công dân; quyền, lợi ích hợp pháp
của cá nhân, tổ chức; phát triền kinh tế, xã hội; xây dựng nhà nước pháp quyền Việt
Nam xã hội chủ nghĩa, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh.
Với vai trò cao quý đó, Luật sư được hành nghề trong các hoạt động như: tham
gia tố tụng với tư cách là người bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo hoặc là
người bảo vệ quyền lợi của người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có
quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án hình sự; tham gia tố tụng với tư cách là
người đại diện hoặc là người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn,
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ án về tranh chấp dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, hành chính, việc về yêu cầu dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động và các vụ, việc khác theo
quy định của pháp luật; thực hiện tư vấn pháp luật; đại diện ngoài tố tụng cho khách
3
hàng để thực hiện các công việc có liên quan đến pháp luật; thực hiện dịch vụ pháp lý
khác theo quy định của Luật này (Quy định tại điều 22 Luật luật sư năm 2006).
Như vậy, từ những quy định trên pháp luật, luật sư quả là được hành nghề trong
phạm vi khá rộng, đại diện cho mọi mặt của đời sống pháp lý hiện tại để nhằm xây
dựng và bảo vệ nhà nước pháp quyền Việt Nam. Song trên thực tế, Luật sư có được
tạo điều kiện đề thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình hay không?
2.2 Bản chất mối quan hệ giữa Luật sư với CQTHTT, NTHTT
2.2.1 Quan hệ giữa luật sư với người tiến hành tố tụng là quan hệ giữa những
đồng nghiệp trong công tác pháp luật.
Luật sư, thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên… về thực chất là những đồng
tìm ra chân lý, tuy nhiên đó cũng chỉ là sự bất đồng về quan điểm pháp lý, chứ không
nên và không thể là sự bất đồng, mâu thuẫn đối kháng giữa những cá nhân và tổ chức
cơ quan. Không thể đem những bất đồng về quan điểm pháp lý vào cuộc sống đời
thường, vào những quan hệ thường nhật của những đồng nghiệp. Pháp đình phải
là “ngôi nhà chung” của những người làm công tác pháp luật.
2.2.3 Quan hệ giữa luật sư với các cơ quan tiến hành tố tụng còn là quan hệ
phụ thuộc và hỗ tương nhau.
Khi xác định hoạt động luật sư là hoạt động bổ trợ tư pháp thì cũng đã hàm ý
hoạt động này phải có sự liên kết, phải mang yếu tố phụ thuộc, phải được sự hỗ trợ từ
nhiều phía. Ngược lại, các cơ quan tiến hành tố tụng cũng không thể thiếu sự bổ trợ
tư pháp từ luật sư.
Luật sư không phải là những người tiến hành tố tụng nhưng hoạt động tố tụng
không thể thiếu vắng luật sư. Sự có mặt của luật sư không chỉ do yêu cầu của đương
sự… mà trong nhiều trường hợp là do sự trưng cầu của Tòa án hoặc Viện kiểm sát
hoặc do cơ quan điều tra… Trong nhiều trường hợp, sự hiện diện của luật sư là bắt
5
buộc, không thể thiếu. Nếu thiếu vắng luật sư thì hoạt động tố tụng sẽ bị đình trệ,
gián đoạn, không tiến hành được.
2.3 Nhận diện phạm vi mối quan hệ giữa luật sư với CQTHTT và NTHTT
Theo quy định của pháp luật về tố tụng, Luật sư tham gia tố tụng với tư cách
là người bào chữa cho bị can, bị cáo hoặc người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
các đương sự khác trong vụ án. Trong mối quan hệ của luật sư với các CQTHTT thì
mối quan hệ giữa luật sư và tòa àn, luật sư và thẩm phán là thường xuyên và quan
trọng hơn hết. Với tư cách là một người bảo vệ công lý thì luật sư phải cân bằng
quyền lợi của khách hàng và tính nghiêm minh của pháp luật.
Từ thực tiễn tham gia tố tụng, có thể nhận thấy mối quan hệ giữa luật sư với
CTHTT chủ yếu tập trung vào các hành vi ứng xử theo các phạm vi sau đây:
suốt về quy trình, thời hạn giải quyết, giới hạn của việc tư vấn và khả năng đáp ứng
yêu cầu của khách hàng. Mặt khác, mối quan hệ này cũng tiềm ẩn những xung đột
tiềm tàng, do không được thỏa mãn yêu cầu, khách hàng dễ bị kích động dẫn đến
khiếu nại, tố cáo vượt cấp, không đúng sự thật, làm ảnh hưởng đến quá trình giải
quyết, cũng như uy tín của NTHTT. Việc tuân thủ và vận dụng đúng đắn các quy tắc
đạo đức và ứng xử sẽ gầy dựng niềm tin của khách hàng đối với việc hành nghề của
luật sư, đồng thời cũng dành được sự tôn trọng của NTHTT đối với luật sư.
2.4 Các quy định về quy tắc ứng xử của Luật sư trong mối quan hệ với
CQTHTT, NTHTT
Nghề luật sư vốn dĩ gắn bó mật thiết với số phận con người, đòi hỏi phép ứng
xử chuẩn mực, mang tính chuyên nghiệp và dựa trên nền tảng cơ bản của đạo đức
nghề nghiệp. Việc hình thành các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư
trong mối quan hệ với CQTHTT, CQNN khác có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong
việc đánh giá vị thế, vai trò và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của luật sư.
Chính vì tầm quan trọng này nên Điều 5 của Luật luật sư năm 2007 đã quy
định rõ 6 nguyên tắc hành nghề của luật sư trong đó việc tuân thủ hiến pháp và pháp
luật và quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư được xem là 2 nguyên tắc
quan trọng hàng đầu, theo sau là nguyên tắc độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật
khách quan.
7
Trên cơ sở các nguyên tắc hành nghề này, chương IV Quy tắc đạo đức và ứng
xử nghề nghiệp luật sư Việt Nam của Hội đồng luật sư toàn quốc (Ban hành kèm theo
quyết định số 68/QĐ-HĐLSTQ ngày 20/7/2011) đã dành 2 quy tắc để nói về quan hệ
của Luật sư với CQTHTT.
Trong quy tắc 23, ứng xử của luật sư trong quan hệ với các CQTHTT chủ yếu
được quy định trong việc chấp hành nội quy, khi trao đổi ý kiến với người tiến hành
tố tụng cũng như cách hành xử của luật sư tại phiên tòa, trong khi làm nhiệm vụ bảo
vệ quyền lợi của thân chủ.
hợp pháp của mình, nhưng cũng phải kịp thời điều chỉnh, ghi nhận quan điểm có căn
cứ cùa người buộc tội hoặc của luật sư bảo vệ cho khách hàng có quyền lợi đối lập
với khách hành của mình, để tránh tình trạng bị coi là “bào chữa bằng mọi giá”, bất
chấp sự thật khách quan.
Song song với việc quy định các quy tắc về đạo đức ứng xử, luật sư còn phải
lưu tâm đến một số việc luật sư không được làm trong quan hệ với các cơ quan tiến
hành tố tụng theo quy tắc 24.
Xét về tổng thể, nội dung của điểm 1 và điểm 2 của quy tắc 24 phù hợp với
điều 9 Luật luật sư 2007 và tinh thần của BLTTHS. Khái niệm “bất hợp pháp” trong
điểm 3 có thể bao gồm việc luật sư biết rõ yêu cầu trì hoãn, kéo dài việc giải quyết vụ
việc là không có căn cứ pháp luật, nhưng vẫn tự mình hoặc xúi giục khách hàng thực
hiện nhằm trì hoãn hoặc gây khó khăn cho CQTHTT.
Bên cạnh đó, cũng cần nhận thức đúng đắn về chức năng xã hội của luật sư,
khi hành nghề không nên lợi dụng tư cách người tham gia tố tụng tại phiên tòa theo
quy định của pháp luật để phát biểu những lời lẽ gây phương hại đến lợi ích quốc gia,
lợi ích xã hội, đoàn kết dân tộc, tôn giáo hoặc tuyên truyền, phổ biến những quan
điểm trái pháp luật hay đạo đức xã hội. Việc không nên thực hiện nói trên khác về
bản chất với việc luật sư trong quá trình tham gia tố tụng đã phát hiện và đưa ra
những kiến nghị nhằm chấm dứt những vi phạm pháp luật trong hoạt động của các
CQTHTT. Bản lĩnh, phẩm chất chính trị và kỹ năng nghề nghiệp, cùng với trải
nghiệm qua thực tiễn sẽ giúp cho mỗi luật sư tự điều chỉnh ranh giới sao cho hành vi
của mình phù hợp quy tắc nói trên.
3. Thực trạng mối quan hệ giữa Luật sư và các CQTHTT, NTHTT:
9
Xuất phát từ bản chất của mối quan hệ giữa Luật sư và các CQTHTT, NTHTT
thì sự hỗ trợ, phối hợp, giúp đỡ lẫn nhau để hoàn thành nhiệm vụ là điều không thể
thiếu giữa những người hoạt động tố tụng.
bên liên quan trong quá trình tố tụng.
3.2. Mặt tiêu cực
Tuy là hai mặt của một vấn đề, có mối quan hệ phụ thuộc và hỗ tương nhau
như thế nhưng các CQTHTT, NTHTT vẫn gây khó khăn cho hoạt động nghề nghiệp
của luật sư, tạo ra sự bức xúc, khiếu nại, khiếu kiện lên các cơ quan có thẩm quyền
để xử lý mâu thuẫn này. Ví dụ, để được cấp giấy chứng nhận bào chữa cho đương sự
(người bị tạm giữ, bị can, bị cáo) trong án hình sự một số Điều tra viên yêu cầu Luật
sư phải cung cấp cả hợp đồng giữa Văn phòng/Công ty Luật với đại diện hợp pháp
của bị can, bị cáo. Trong khi tại khoản 2, điều 27 Luật luật sư năm 2007 đã quy định
rõ những loại văn bản xuất trình trong từng trường hợp cụ thể.
Đôi khi CQTHTT, NTHTT lại không có thái độ hợp tác với luật sư theo quy
định của pháp luật. Ví dụ, trong các buổi hỏi cung bị can cơ quan điều tra lại “quên”
thông báo cho Luật sư tham gia và dĩ nhiên quyền lợi của khách hàng đã bị hạn chế
khi không có Luật sư với vai trò là người làm chứng, hỗ trợ tích cực cho thân chủ của
mình. Chính những yêu cầu không có căn cứ và thái độ không hợp tác này đã cản trở
quyền, nghĩa vụ của Luật sư trong quá trình hành nghề và hậu quả là luật sư phải
hứng chịu những bức xúc của khách hàng do họ không hiểu được những khó khăn
này.
3.3. Nguyên nhân
Nguyên nhân đầu tiên không thể không nhắc đến đó là xuất phát từ định kiến
của CQTHTT, NTHTT đối với người luật sư, cụ thể từ nhiều phía:
* Cơ quan Công an: phần đông cán bộ công an có tâm lý dè dặt đối với luật
sư vì thường có suy nghĩ là có luật sư tham gia tố tụng sẽ trở ngại cho công tác điều
tra, dễ bị thông cung… Đây là nhận thức pháp luật chưa đúng và là thành kiến cố hữu
ở một bộ phận cán bộ công an…
* Viện kiểm sát: quan hệ giữa cán bộ kiểm sát với luật sư thường thì cởi
mở, tuy nhiên vẫn còn có tâm lý dè dặt, bất hợp tác; ở một bộ phận nhỏ có tâm lý
rằng luật sư là kẻ phá bĩnh, đối kháng với Viện kiểm sát…
11
12
thiết của nghề nghiệp, qua đó đã vi phạm pháp luật và đạo đức nghề nghiệp luật sư,
làm xoáy mòn lòng tin của công chúng vào cơ quan pháp luật và vị thế luật sư
4. Đề xuất một số giải pháp khắc phục những tồn tại xung quanh mối
quan hệ giữa Luật sư và CQTHTT, NTHTT.
4.1 Đối với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng
Cần có cái nhìn tích cực hơn hay nói khác hơn là phải xóa bỏ thành kiến xem
luật sư là người xúi giục, cản trở công việc của họ. Các CQTHTT, NTHTT phải xem
luật sư là thành tố không thể thiếu trong hoạt động tố tụng; sự hiện diện của luật sư
phải được xem là sự mang tới hiệu quả tích cực cho hoạt động pháp luật.
Thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật tố tụng, trong đó có quy
định trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng trong việc đảm bảo cho luật sư được
hoạt động nghề nghiệp một cách bình thường và thuận lợi.
Cần có thái độ tôn trọng khi luật sư tham gia tố tụng, ghi nhận đầy đủ những
đóng góp của luật sư trong việc giải quyết các vụ án, vụ kiện…
4.2 Đối với đội ngũ luật sư
Bản thân người luật sư phải xác định nghề không phải là công cụ, phương tiện
để mưu cầu lợi ích vật chất mà phải ý thức được vai trò nhiệm vụ cao cả được xã hội
phân công và kỳ vọng vào luật sư. Phải không ngừng phấn đấu nâng cao kỹ năng
nghề nghiệp, nêu cao tinh thần tôn trọng sự thật khách quan, trung thực, dũng cảm
đấu tranh bảo vệ lẽ phải và công lý.
Việc hình thành các quy tắc đạo đức và ứng xử nghề nghiệp luật sư trong mối
quan hệ với CQTHTT, NTHTT có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc đánh giá vị
thế, vai trò và hiệu quả hoạt động nghề nghiệp của luật sư. Đòi hỏi người Luật sư
phải tôn trọng giá trị của quy tắc, phải có tinh thần hợp tác, tôn trọng, nghiêm túc, vô
tư, trong sáng khi làm việc với CQTHTT, NTHTT.
13
Luật sư và các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cùng nhau
tham gia vào sự nghiệp bảo vệ công lý. Vì vậy họ có cùng chung tiếng nói và cùng
hướng đến việc tháo gỡ vướng mắc một vụ án một cách tốt nhất cho những lợi ích
của đương sự và của xã hội. Dĩ nhiên, sự khác biệt về phương pháp sẽ sớm dẫn tới
những bất đồng mà họ phải vượt qua bởi vì họ phải dành ưu tiên cho những lợi ích
mà họ đang bảo vệ hơn là lợi ích của chính họ.
Luật sư phải tỏ lòng tôn trọng nói chung với người được xã hội giai phó sứ
mệnh thực hiện công lý. Đó là nghĩa vụ đồng thời là quyền lợi của Luật sư bởi vì
đứng trước tòa, luật sư là người yêu cầu thẩm phán bảo vệ quyền và lợi ích của thân
chủ của mình. Nên nhớ rằng, đối với thẩm phán, thái độ của luật sư trước tiên là phải
lịch sự và không được phủ nhận sự thật khách quan. Cuối cùng và quan trọng hơn cả,
luật sư phải tránh bất hòa với tòa án bởi vì điều đó rõ ràng chỉ mang bất lợi cho
quyền lợi của khách hàng mà thôi.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
-
Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ chính trị về cải cách tư
pháp;
-
Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về chiến lược
cải cách tư pháp đến năm 2020.
15
-
-
Bài viết: Luật sư và cơ quan tố tụng: Hợp tác chứ không “đối đầu” đăng
03/3/2011 trên website: phapluattp.vn;
-
Bài viết: Mối Quan Hệ Giữa Luật Sư Với Cơ Quan Điều Tra, Viện Kiểm
Sát, Toà Án đăng 28/5/2012 trên website: phapluattp.vn;
16