BỘ GIÁO DỤC VÀ đÀO TẠO
BỘ Y TẾ
TRƯỜNG đẠI HỌC Y KHOA HÀ NỘI
HOÀNG THỊ THỦY YÊN
CÁC đẶC đIỂM SINH HỌC TRONG GIAI đOẠN PHÁT
TRIỂN DẬY THÌ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC HORMON
TRONG TIẾN TRÌNH DẬY THÌ CỦA TRẺ EM
CHUYÊN đỀ TIẾN SĨ
Chuyên ngành : NHI KHOA
Mã số :
3.01.43
Người hướng dẫn: PGS.TS LÊ NGỌC HƯNG
đề tài nghiên cứu : Nghiên cứu các giá trị của niệu bào đồ trong chẩn đoán
và theo dõi tiến trình dậy thì của trẻ gái
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
1. đẶT VẤN đỀ ........................................................................................1
2.CÁC đẶC đIỂM PHÁT TRIỂN VỀ HÌNH THỂ VÀ SINH HỌC ......2
2.1. Các giai đoạn dậy thì ...........................................................................3
2.1.1.Các giai đoạn dậy thì của trẻ gái .....................................................3
2.1.1.1.Các giai đoạn dậy thì theo Tanner ...............................................3
2.1.1.2.Phát triển của buồng trứng trong dậy thì ..................................... 4
6. KẾT LUẬN .......................................................................................... 35
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dậy thì ( puberty - nguồn gốc tiếng latin có nghĩa là phủ lông vũ ), là một
giai đoạn của cuộc đời chuyển từ thời kỳ trẻ em sang tuổi trưởng thành, diễn ra
theo nhiều giai đoạn dưới sự kiểm soát chặt chẽ của hệ thống thần kinh - nội tiết.
Về phương diện lâm sàng, dậy thì là giai đoạn phát triển của cơ quan sinh dục với
các đặc tính sinh dục phụ và khả năng sinh sản. Về phương diện sinh học là sự
trưởng thành, chín muồi của của trục vùng dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục.
Tuổi dậy thì có sự dao động lớn, trung bình là 10-11 tuổi ở trẻ gái , 12-13 tuổi ở
trẻ trai. Các dấu hiệu dậy thì đầu tiên thường quan sát thấy khoảng từ 9 – 12 tuổi ở
trẻ gái và 10- 13 tuổi ở trẻ trai. Tuổi xuất hiện kinh nguyệt cũng thay đổi, từ 10
đến 16 tuổi, tuổi có kinh đầu tiên trung bình khoảng 12 tuổi rưỡi đến 13 tuổi.
đỉnh tăng trưởng chiều cao trong giai đoạn dậy thì từ 11 đến 14 tuổi ở trẻ gái và từ
12 tuổi đến 17 tuổi ở trẻ trai. Giai đoạn phát triển hoàn thiện đầy đủ các đặc tính
sinh dục kéo dài 3- 4 năm. Ở trẻ gái chiều cao chính thức đạt được, sau khi cốt hóa
gần như hoàn toàn các sụn đầu xương, khoảng 2 năm sau chu kỳ kinh nguyệt đầu
tiên. Các yếu tố ảnh hưởng đến tuổi dậy thì: Các yếu tố nội sinh như thể tạng , yếu
tố di truyền. Các yếu tố ngoại sinh như khí hậu, tình trạng dinh dưỡng, yếu tố tâm
lý như stress. Các bệnh tật có thể làm chậm quá trình dậy thì hay ngược lại gây dậy
thì sớm. [1],[2],[4],[7],[20].
Nghiên cứu về dậy thì, nhiều công trình cho thấy có khuynh hướng thế tục
của phát triển dậy thì. Tuổi dậy thì ngày càng sớm theo từng thập kỷ, các nghiên
cứu về tuổi kinh nguyệt của của trẻ gái ở các nước công nghiệp châu Âu và nước
Mỹ cho thấy sớm hơn 2-3 năm theo từng thập kỷ từ 100-150 năm trở lại. Có nhiều
yếu tố tạo nên hiện tượng này, do sự cải thiện vượt bậc điều kiện xã hội- kinh tế
và dinh dưỡng.
3
2.1.Các giai đoạn dậy thì
Các giai đoạn phát triển của cơ quan sinh dục và các đặc tính sinh dục phụ
trong dậy thì đã được Tanner và cộng sự mô tả theo 5 giai đoạn khác nhau (từ giai
đoạn 1 dến giai đoạn 5 ) phản ảnh quá trình phát triển tuần tự của các cơ quan
sinh dục ngoài, phát triển lông mu [20], [21].
Giai đoạn 1 trong phân loại này là giai đoạn tiền dậy thì không bao gồm sự
trưởng thành của tuyến thượng thận.
2.1.1.Các giai đoạn dậy thì của trẻ gái
2.1.1.1.Các giai đoạn dậy thì theo Tanner
Các biến đổi về hình thể trong các giai đoạn dậy thì của trẻ gái được mô tả
trong bảng 1. Dấu hiệu dậy thì đầu tiên là tuyến vú xuất hiện có liên hệ chặt chẽ
với sự bắt đầu đỉnh tăng trưởng dậy thì (giai đoạn 2), khoảng 6 tháng sau lông mu
xuất hiện, và muộn hơn nữa là lông nách. Tuyến vú tiếp tục phát triển, môi lớn rồi
môi bé phát triển, niêm mạc âm đạo ngày càng có màu hồng , ẩm ướt và tiết dịch.
Lông mu và lông nách tiếp tục phát triển (giai đoạn 3).
Thể tích tử cung lớn dần, có thể nhận thấy khi thăm khám trực tràng, cho
đến giai đoạn 4- có các chu kỳ kinh nguyệt đầu tiên. Xuất hiện kinh nguyệt là dấu
hiệu dậy thì hoàn toàn.
Phát triển thể lực đạt mức tăng trưởng tối đa ở khoảng 13 tuổi [20].
Bảng 1. Các giai đoạn phát triển dậy thì của trẻ gái
( Theo Marshall & Tanner) [20]
Giai
đoạn
Tuổi
Phát triển tuyến vú (S/B)
(11- 15,5)
5
14,5
(12-18)
Núm vú nhô lên rõ so với Lông đen sợi to, xoăn,
quầng vú và bầu vú
thưa
Quầng vú, núm vú nhô lên Lông dày kiểu người lớn,
hẳn so với bầu vú
vùng che phủ giới hạn ở
vùng mu ( đồi vệ nữ)
Vú có hình thể của người Lông dày kiểu người
trưởng thành
lớn, che phủ đến mặt
trong đùi
S (Sein); B (Breast) - tuyến vú; P (Pilosite- Pubic hair) - lông mu .
2.1.1.2.Phát triển của buồng trứng trong dậy thì
Vào tuần thai thứ 8, buồng trứng bắt đầu phát triển, đường sinh dục nữ biệt
hoá . Những dây sinh dục tiên phát thoái hoá từ vùng vỏ vào vùng tuỷ, trong khi
đó ở vùng vỏ các tế bào sinh dục nguyên thuỷ tăng sinh nhanh chóng và biệt hoá
thành noãn nguyên bào. Noãn nguyên bào hoạt động gián phân tích cực để tăng
số lượng tối đa khoảng 6-7 triệu noãn. Sau đó nhiều noãn nguyên bào bị thoái hoá,
số còn lại bắt đầu chia đôi gián phân và biệt hoá thành noãn bào 1 có các tế bào
oEstrogen, lớp bề mặt trở nên dày hơn với các tế bào ưa axit. Ngay trước khi có
chu kỳ kinh nguyệt, các tế bào thường có dạng trưởng thành với nhân tụ đặc [30],
[37], [44], [46]. Dịch âm đạo trong giai đoạn tiền dậy thì có tính trung tính hay
kiềm nhẹ trở nên axit dần theo giai đoạn dậy thì .
Từ hơn 20 năm nay, kỹ thuật siêu âm tử cung buồng trứng cho phép nghiên
cứu các chỉ số sinh học của cơ quan tử cung buồng trứng. Giai đoạn tiền dậy thì ,
tử cung có dạng “ hình giọt nước ”, thân tử cung mỏng, phần cổ tử cung phát triển
hơn và chiếm 2/3 thể tích toàn bộ. Cơ nội mạc phát triển sớm trong giai đoạn dậy
thì, thân tử cung lớn dần. Tử cung có dạng hình “ quả lê ” tỷ lệ thân / cổ > 1 như
người trưởng thành. Chiều cao trung bình của tử cung từ 30 – 35 mm trước dậy thì
tăng nhanh lên đến 60 mm sau dậy thì. Lớp nội mạc dày lên nhanh chóng nhất là
giai đoạn trước khi có kinh . Do tác dụng của Estrogen, lớp biểu mô niêm mạc tử
cung tiết ra chất dịch trong suốt và dai tạo nên một lớp màng mỏng màu trắng ngà
khi khô tương tự như của người nữ trưởng thành ở giữa chu kỳ kinh nguyệt [32],
[36].
2.1.1. Các giai đoạn dậy thì của trẻ trai
2.1.1.1. Các giai đoạn dậy thì theo Tanner
Các thay đổi hình thể cơ quan sinh dục khi dậy thì của trẻ trai được mô tả
trong bảng 2. Mặc dù tốc độ phát triển chiều cao tăng ngay khi có dấu hiệu dậy thì
đầu tiên, nhưng chỉ đạt mức tối đa ở giai đoạn 4, tức là khoảng 15 tuổi.
Tăng thể tích tinh hoàn, ban đầu rất kín đáo, là dấu hiệu đầu tiên của dậy thì
ở trẻ trai và thường xuất hiện muộn hơn tuổi dậy thì trung bình của trẻ gái là 6
tháng. Khi chỉ số thể tích tinh hoàn lớn hơn 4 ml, hay kích thước chiều dọc của
tinh hoàn dài hơn 2,5cm tức là sự phát triển của tinh hoàn dậy thì đã bắt đầu . Sự
phát triển của tinh hoàn thời gian đầu là do sự phát triển của tế bào Sertoli và muộn
hơn là do sự phát triển của tế bào Leydig. Da bìu trở nên sẫm màu ( giai đoạn 2).
Sau 11 tuổi, dương vật tăng nhanh kích thước (giai đoạn 3), lông mu xuất hiện
khoảng 6 tháng sau.
tinh trước khi các đặc tính sinh dục phụ phát triển hoàn chỉnh [4], [5], [6], [7], [9]
[19], [21], [30], [37].
Bảng 2. Các giai đoạn dậy thì của trẻ trai
( Theo Marshall &Tanner ) [21]
Giai
đoạn
Tuổi
Phát triển tinh hoàn (G)
trung bình
( Chiều dài tinh hoàn)
1
11
2,5cm
(9,5-13,5)
vùng mu
15
> 4cm
(13-17)
Kích thước của người
trưởng thành
Lông dày kiểu người
lớn, che phủ đến mặt
trong đùi và thành bụng
(12-16)
5
G: Organes Gienitaux Externes
2.1.1.3. Hiện tượng vú lớn ( gynecomastia)
Vú lớn thường gặp ở khoảng 75% trẻ trai, gia đoạn đầu của dậy thì và
thường thoái lui dần sau 2 năm ở trẻ bình thường, nhất là trẻ béo phì. Một số
trường hợp bệnh lý như hội chứng Klinefelter hay hội chứng không nhạy cảm một
phần với anhdrogien, nồng độ Testosteron bị giảm đi, chứng vú to tồn tại kéo dài
[37].
2.2.
Tăng trưởng trong giai đoạn dậy thì
Giai đoạn từ 2 tuổi đến tiền dậy thì, tốc độ tăng trưởng trung bình là
gan tăng tổng hợp IGF1 ( insulin – like growth factor I), yếu tố IGF1 theo con
đường nội sinh tác động lên sụn. Các tác dụng trực tiếp và gián tiếp của hormon
sinh dục tạo nên tăng tốc độ tăng trưởng điển hình trong giai đoạn dậy thì và sớm
được đánh giá là “ các hormon làm biến đổi sự tăng trưởng chiều cao ” [4], [5], [6],
[8], [11], [12], [13], [14], [15], [16], [17], [18], [23], [24], [25], [29], [31], [38],
[39], [40], [41].
12
Insulin cũng có vai trò quan trọng đối với tăng trưởng bình thường. Nồng độ
Insulin huyết thanh tăng cao trong suốt thời kỳ tuổi trẻ, nhưng đặc biệt tăng cao
trong giai đoạn dậy thì với sự tương quan thuận chặt chẽ với IGF1 [15], [25].
Các hormon khác như hormon sinh dục tuyến thượng thận, hormon tuyến
giáp, glucocorticoide của tuyến thượng thận, phức hợp parathormon – vitamin D –
Calcitonine cũng có vai trò cần thiết cho sự phát triển dậy thì hoàn chỉnh [38], [40].
2.3. Dậy thì không đồng bộ (phân ly)
Một số trường hợp, các dấu hiệu dậy thì không xuất hiện theo tuần tự bình
thường, được gọi là dậy thì không đồng bộ hay dậy thì phân ly.
Lông mu, hay lông nách xuất hiện trước khi tuyến vú hay tinh hoàn phát triển.
Hoặc hiếm hơn nữa, kinh nguyệt có thể là dấu hiệu đầu tiên của dậy thì ở nữ trước
khi có các biến đổi khác về hình thể.
Nếu chỉ có một dấu hiệu dậy thì xuất hiện và sớm hơn giới hạn bình thường
thì được gọi là dậy thì sớm không hoàn toàn. Lông sinh dục phát triển sớm đơn độc
(Premature pubarche, Premature Andrenarche). Tuyến vú phát triển sớm đơn độc
(Premature thelarche) . Ngoài ra, sự phát triển không đồng đều của tuyến vú
thường hay gặp, và của tinh hoàn ít gặp hơn đều trong giới hạn sinh lý [19], [21],
[37], [40] .
2.4. Các giới hạn bình thường của tuổi phát triển dậy thì
Theo các nghiên cứu dọc của Marshall và Tanner (bảng 1 và bảng 2), tuy có
3 tháng một lần đều đặn. Do đó, giai đoạn bắt đầu đỉnh tăng trưởng sẽ tương
đương với thời điểm sau cùng đo chỉ số chiều cao trước khi có đỉnh tăng trưởng.
Nghiên cứu về chiều cao chính thức: Chiều cao chính thức được xem là
chiều cao đo được mà không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa 2 lần đo
trong một năm. Chiều cao tăng thêm trong giai đoạn dậy thì được tính bằng sự
14
khác biệt giữa chiều cao chính thức và chiều cao tiêu chuẩn được lựa chọn thời
điểm bắt đầu dậy thì [42].
3. CÁC BIẾN ĐỔI CỦA HORMON TRONG GIAI ĐOẠN DẬY THÌ
Các biểu hiện phát triển về hình thể được mô tả ở phần trên là biểu hiện tiếp
theo sau sự tăng các nồng độ lưu hành trong huyết tương của các hormon hướng
sinh dục tuyến yên ( FSH – LH) và của các hormon steroid sinh dục (chủ yếu là
estradiol ở trẻ gái và Testosteron ở trẻ trai. Toàn bộ các đáp ứng hormon tiến triển
theo các giai đoạn tương ứng với 3 cơ quan liên quan là vùng vùng dưới đồi, tuyến
yên, và cơ quan sinh dục.
3.1. Vai trò kiểm soát của vùng vùng dưới đồi
3.1.1.
Sự
bài tiết theo nhịp tiết có xung (pulsatilite ) của GnRH
(Gonadotrophin-realising hormon)
GnRH là peptid có 10 axit amin, là hormon thứ hai của vùng dưới đồi được
phân lập và tổng hợp (hormon đầu tiên là TRH - Thyrotronin Realising Hormon).
Hormon hướng sinh dục do nhau thai tiết ra GnRH được tạo ra từ tiền chất có 69
axit amin.
Gien mã hóa GnRH được khư trú trên nhiễm sắc thể số 8. Các neuron sản
phương pháp giữa 2 lần định lượng trên cùng một mẫu nghiệm.
Chính từ các khó khăn trong chẩn đoán về phương diện sinh lý học, từ năm
1970 Santen và Barden [41] đã tìm ra một thuật toán đơn giản và hiệu quả để nhận
diện các đỉnh tiết. Về sau, với những thuật toán tinh tế hơn, hoạt động trong
chương trình đã được máy tính hóa cho phép xử lý nhanh chóng một khối lượng
lớn các dữ kiện (Merriam và Wachter- 1982) . Tuy nhiên tất cả các phương pháp
xử lý chỉ có thể dựa trên sự chính xác của các phương pháp xét nghiệm.
Trong những năm 70 của thế kỷ trước, do các sai lầm và do sự không chính
xác của các phương pháp xét nghiệm trong giai đoạn này nên các dữ kiện nghiên
cứu đã chỉ ra không có sự bài tiết có xung của LH ở trẻ em trước dậy thì.
Chỉ từ những năm 1985 với sự phát triển của kỹ thuật miễn dịch đơn dòng,
tiếp đến là sự ra đời của kỹ thuật huỳnh quang xung động ( kỹ thuật của Delfia,
Turku, Phần Lan) do tính chuyên nghiệp đặc hiệu cho ra các kết quả có chất lượng
cao. Nhờ đó mà các nghiên cứu về sự bài tiết có xung của LH ở trẻ em tiền dậy thì
đã được phát triển [44].
3.1.2. Các hormon hướng sinh dục ( FSH và LH)
- Cấu trúc các hormone hướng sinh dục:
FSH và LH là 2 hormon hướng sinh dục của thùy trước tuyến yên, là những
glycoprotein gồm có 2 chuỗi polypeptid glycosyl hóa gọi là chuỗi α và chuỗi β.
Chuỗi α giống nhau ở tất cả các các glycoprotein của tuyến yên, các chuỗi β đặc
trung cho mỗi hormon riêng biệt và làm cho hormon có tính đặc hiệu. Chuỗi β gồm
115 axit amin với hai chuỗi bên carbonhydrat. Hormon hướng sinh dục do nhau
thai sản xuất ra ( hCG - human Chorionic Gonadotrophin) có cấu trúc và chức
năng sinh lý giống như LH ( ngoại trừ 30 axit amin ở nhánh tận C của chuỗi β)
Gien mang mã hóa chuỗi α của các hormon thùy trước tuyến yên đều nằm trên
nhiễm sắc thể số 6. Còn gien mã hóa của chuỗi β LH nằm trên nhiễm sắc thể số
19, tương tự như gien mã hóa β – hCG. Gien của FSH ở nhiễm sắc thể 11 [30],
[37], [40].
hormon hướng sinh dục tăng cao có ý nghĩa trong suốt giai đoạn cuối của dậy thì (
giai đoạn P4 và P5) [30], [36], [40].
đo nồng độ LH và FSH sau khi truyền tĩnh mạch GnRH được xem là
phương pháp tốt nhất cho phép đánh giá giai đoạn phát triển của trục vùng dưới
đồi – tuyến yên – nghiệm pháp động LHRH. đó là các đặc tính của LHRH
(Luteinizing - Realising Hormon) ( Schally và cs- 1970) và được sử dụng lần đầu
tiên trong nhi khoa (Job và cs-1972) [40], [44].
Năm 1988, Wenninck và cộng sự [31] với phương pháp miễn dịch phóng xạ
đã xác định được LH được tiết có xung ở trẻ trai tiền dậy thì. đỉnh tiết tất nhiên là
khá ngẫu hứng nhưng được phát hiện dễ dàng với một phương pháp siêu nhạy.
Trong 10 năm tiếp theo, rất nhiều nghiên cứu sử dụng phương pháp miễn dịch
huỳnh quang Delfia đã xác định chính xác các đặc điểm đặc thù của sự bài tiết
hormon hướng sinh dục ở trẻ em trước dậy thì.
Nhịp bài tiết ngày đêm của FSH và LH, xuất hiện từ 4-5 tuổi ( Mittamura và
cs – 1990 [43]. Nồng độ FSH và LH khác biệt có ý nghĩa giữa ngày và đêm. Ở trẻ
trai các quan sát cho thấy biên độ tiết LH và Testosteron ngắn lại dần theo thời
điểm dậy thì: Tần số bài tiết trung bình là 7,3 giờ ở trẻ sẽ dậy thì trong vài ba năm
nữa, rút ngắn còn trung bình là 4,7 giờ ở trẻ bắt đầu dậy thì ( theo định nghĩa là khi
thể tích tinh hoàn đạt ≥ 4 ml ). Như vậy với các phương pháp định lượng siêu
nhạy,
nồng độ LH chứng tỏ là một phương pháp tốt để đánh giá sự bài tiết có
xung của GnRH ngay trước khi có biểu hiện lâm sàng dậy thì.
-Tác dụng của các hormone hướng sinh dục FSH và LH
Ở giới nữ, các hormon hướng sinh dục chịu trách nhiệm về sự phát triển và
trưởng thành của các nang trứng, làm xuất hiện chu kỳ kinh nguyệt như là biểu
hiện của hoạt động nhịp nhàng của trục vùng dưới đồi –tuyến yên – tuyến sinh dục.
hợp Testoteron, Dihydrotestosteron và các
Androgen khác. FSH tác động lên các thụ thể đặc hiệu trên bề mặt tế bào Sertoli,
có cơ chế tác động giống như tác động của LH trên tế bào Leydig . FSH làm tăng
khối ống sinh tinh và quá trình sinh tinh trùng [3], [4], [8], [19], [30], [37].
- Giá trị chẩn đoán của các phương pháp định lượng LH siêu nhạy
Về mặt chẩn đoán, phương pháp định lượng miễn dịch huỳnh quang Delfia
mang đến các thông tin đầy đủ về mức độ trưởng thành của trục hướng sinh dục
như nghiệm pháp động LHRH. Vấn đề này đã được nghiên cứu hơn 10 năm về
nồng độ hormon LH trong huyết tương ( Apter và cs - 1989, Wu và cs – 1991)
cũng như nồng độ LH tiết trong nước tiểu ( Demir và cs, 1996).
Thực vậy, nồng độ hormon của các mẫu xét nghiệm huyết thanh lấy một
cách tình cờ cũng như nồng độ LH bài tiết trong nước tiểu đều phản ánh nồng độ
tiết và chúng ta có thể sử dụng một cách tin cậy để chẩn đoán phân biệt các tình
huống lâm sàng mà trước kia chỉ dựa vào nghiệm pháp LHRH để chẩn đoán. Như
vậy với phương pháp định lượng siêu nhạy nồng độ LH trong huyết thanh hay
trong nước tiểu đều phân biệt rõ những trẻ tiền dậy thì và các trẻ đang có biểu
hiện lâm sàng dậy thì. Có sự tương quan chặt chẽ giữa nồng độ LH nền và nồng
độ LH đỉnh trong nghiệm pháp LH-RH [40], [44].
3.2. Hormon steroid sinh dục
Hormon sinh dục là các hormon steroid, có vai trò chủ yếu trong quá trình
sinh sản. Bao gồm các Androgen, Estrogen và Progesteron, được sản xuất bởi
tuyến thượng thận hay tuyến sinh dục.
3.2.1. Các Androgen
Các Androgen hay là hormon sinh dục nam, giữ vai trò kiểm soát và duy trì
sự phát triển của các đặc tính sinh dục nam. Các Androgen tự nhiên mạnh nhất là
21
hệ cơ phát triển , kích thích hoạt động hệ thống enzyme ở gan, kích thích tạo hồng
cầu. Androgen kích thích cốt hóa xương và đĩa sụn đầu xương [30], [37].
22
3.2.2. Estrogen
Estrogen do tế bào nang của buồng trứng tiết ra. Sự sản xuất Estrogen có 2
pha: một đỉnh tiền phóng noãn vào cuối giai đoạn nang, tiếp theo là một sự sụt
giảm xảy ra lúc phóng noãn; sau đó lại có đỉnh thứ hai kéo dài hơn trong giai đoạn
hoàng thể. Estrogen cũng được vận chuyển trong máu bởi SHBG ( Sex HormonBinding Globulin). Protein này cũng vận chuyển Testosteron và DHT. Sự gắn kết
giữa SHBG với Androgen chặt chẽ hơn với Estrogen.
Tác dụng sinh học của Estrogen ở tế bào đích cùng chung cơ chế cho tất cả
các hormon steroid. Chỉ có thành phần tự do ( khoảng vài % của hormon lưu hành)
mới có thể xâm nhập vào tế bào đích. Hormon tác động lên thụ thể đặc hiệu tạo
thành phức hợp hormon – thụ thể. Tại đó nó gây ra một loạt thay đổi cho phép nó
gắn vào vùng đáp ứng với steroid của geneome AND. Tác động qua lại của phức
hợp hormon – thụ thể đối với geneome dẫn tới sự hình thành các ARNm. ARNm
sao chép và chuyển bản tin do hormon mang lại đến các hệ thống polyribosome và
kiểm soát sự tổng hợp các protein đặc hiệu đặc trưng cho hiệu quả sinh học của
hormon.
Estrogen làm xuất hiện các đặc tính sinh dục nữ, đặc biệt ở tuyến vú và tử
cung – âm đạo. Estrogen còn tác động đến sự phân bố mỡ ở các tổ chức và phát
triển xương, tạo ra thể hình nữ. Sau tuổi dậy thì, Estrogen có tác động làm dày lớp
nội mạc tử cung, kích thích tạo thành và làm thay đổi các chất nhầy để cho các tinh
trùng có thể vào được bên trong, chuẩn bị cho tuyến yên tăng tiết LH đạt đỉnh khi
rụng trứng [3], [4], [7], [8], [16], [17], [40], [44].
3.2.3. Progesteron
Hormon Progesteron giữ vai trò chủ yếu trong việc duy trì sự thụ thai. Các tế
bào lớp hạt và vỏ nang sau khi đã thấm luttein lúc phóng noãn sẽ tiết ra
các đỉnh tiết cao nhất xuất hiện vào ban đêm ở giai đoạn III và IV của giấc ngủ,
đỉnh tiết đầu tiên vào khoảng 60 -90 phút sau khi trẻ ngủ .
- Tác dụng của hormone GH
Tác dụng ngoạn mục nhất của GH là kích thích phát triển bộ xương và mô.
Hiệu ứng tăng trưởng kích thích trực tiếp sinh IGF1 tại gan, làm tăng nồng độ
peptid này trong huyết tương. GH còn làm tăng sản xuất IGF1 trong các mô có thụ
thể là GH và là mô đích tác dụng làm tăng trưởng của GH. Do đó, GH và IGF1
cùng có tác dụng cộng hưởng lên hiệu quả phân chia và tăng sinh các tế bào sụn .
Các hormon steroid sinh dục tác động đến tăng tiết GH và tăng sản xuất IGF1 đặc
biệt ở khâu sao chép gien.
GH giữ vai trò nhất định trong phát triển dậy thì. Các thí nghiệm trên động
vật cho thấy GH kích thích trực tiếp lên dự phân chia của tế bào hạt của nang trứng
với cảm ứng của FSH, tăng nồng độ IGF-1 ở nang trứng, tăng đáp ứng của nang
trứng với hormon hướng sinh dục. Ở các bệnh nhi thiếu GH đơn độc thường có
biểu hiện dậy thì muộn, hoạt động của tế bào Leydig giảm, đáp ứng với hormon
hướng sinh dục giảm. điều trị thay thể GH có thể giúp tái lập đáp ứng của tinh
hoàn với LH và tái sản xuất steroid ở các tế bào Leydig.
Nồng độ các yếu tố giải phóng của hormon tăng trưởng GRF và nồng độ GH
tăng cao trong thời kỳ dậy thì, chủ yếu là ban đêm. đỉnh bài tiết GH tăng cao khi
bắt đầu dậy thì. đỉnh tăng trưởng dậy thì là kết quả chủ yếu do tác dụng cộng
hưởng của hormon steroid sinh dục, hormon tăng trưởng GH, và tăng sản xuất
IGF1[5], [7],[8], [15], [40], [44].