NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN VÒI TỬ CUNG TRONG CHỬA NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

VŨ VĂN DU

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN VÒI TỬ CUNG
TRONG CHỬA NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ
BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y HỌC

HÀ NỘI - 2011


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI

VŨ VĂN DU

NGHIÊN CỨU ĐIỀU TRỊ BẢO TỒN VÒI TỬ CUNG
TRONG CHỬA NGOÀI TỬ CUNG CHƯA VỠ
BẰNG PHẪU THUẬT NỘI SOI

Chuyên ngành: Phụ khoa
Mã số: 62.72.13.05

BPTT

:

Biện pháp tránh thai

BVPSTW

:

Bệnh viện Phụ sản Trung ương

CNTC

:

hCG

:

Human chorionic gonadotropin

HTSS

:

Hỗ trợ sinh sản

KHHGĐVN


:

Nội soi

OR

:

Tỷ suất chênh

PT

:

Phẫu thuật

SOB

:

Soi æ bông

SPK

:

Sản phụ khoa

STT


:

Vòi tử cung

Chữa ngoài Tử cung


5

MỤC LỤC
ĐẶTVẤN ĐỀ
Chương 1 : TỔNG QUAN
1.1. Định nghĩa và lịch sử nghiên cứu điều trị CNTC
1.2. Giải phẫu vòi tử cung - cơ chế chửa ngoài tử cung và tổn thương giải
phẫu bệnh của chửa tại vòi tử cung
1.2.1. Cấu tạo vòi tử cung
1.2.2. Cơ chế chửa ngoài tử cung
1.2.3. Giải phẫu bệnh của chửa tại vòi tử cung
1.2.3.1. Hình ảnh giải phẫu bệnh của chửa tại VTC
1.2.3.2. Tiến triển của chửa tại vòi tử cung
1.2.4. Diễn biến của chửa ngoài tử cung
1.3. Chẩn đoán chửa ngoài tử cung
1.3.1. Dựa vào lâm sàng
1.3.2. Dựa vào xét nghiệm và thăm dò chức năng
1.3.2.1. Siêu âm đầu dò âm đạo đơn thuần
1.3.2.2. Kết hợp siêu âm đầu dò âm đạo và βhCG
1.3.2.3. Soi ổ bụng
1.3.2.4. Định lượng progesteron
1.4. Các phương pháp điều trị bảo tồn chửa ngoài tử cung
1.4.1. Phương pháp theo dõi


1.4.4.1. Tai biến của soi ổ bụng chẩn đoán 30
1.4.4.2. Tai biến của soi ổ bụng can thiệp 32
1.4.4.3. Tai biến của mổ nội soi bảo tồn vòi tử cung
1.4.4.4. Tai biến của mổ nội soi cắt vòi tử cung
32

32

Chương 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

34

2.1. Đối tượng nghiên cứu
34
2.2. Thời gian - địa điểm nghiên cứu34
2.3. Thiết kế nghiên cứu35
2.4. Phương pháp chọn mẫu 35
2.5. Phương pháp thu thập số liệu
2.6. Biến số nghiên cứu
2.7. Các khái niệm, tiêu chuẩn đo lường và đánh giá kết quả
2.7.1. Một số khái niệm sử dụng trong nghiên cứu 39
2.7.2. Vật liệu, dụng cụ, máy móc sử dụng trong nghiên cứu
40
2.7.3. Quy trình mổ nội soi bảo tồn vòi tử cung
áp dụng trong nghiên cứu48
2.8. Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
52
2.8.1. Thống kê mô tả 53
2.8.2. Thống kê phân tích53

4.1.5. Tai biến và biến chứng sau mổ nội soi bảo tồn vòi tử cung
4.2. Độ thông cơ học của vòi tử cung và tỷ lệ có thai sau phẫu thuật 97


7

4.2.1. Kết quả chụp tử cung - vòi tử cung sau phẫu thuật 97
4.2.2. Tỷ lệ có thai sau phẫu thuật
106
4.2.2.1. Diễn tiến các trường hợp có thai trong tử cung 106
4.2.2.2. Kết quả thai nghén sau phẫu thuật 107
4.2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có thai sau phẫu thuật
4.2.3.1. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả thai trong tử cung 114
4.2.3.2. Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả CNTC nhắc lại 120
4.3. Khả năng áp dụng và triển khai của đề tài 128
KẾT LUẬN

114

131

1. Kết quả điều trị bảo tồn vòi tử cung trong chửa ngoài tử cung
chưa vỡ bằng phẫu thuật nội soi
131
2. Độ thông cơ học của vòi tử cung và tỷ lệ có thai sau phẫu thuật 131
2.1. Độ thông cơ học của vòi tử cung 131
2.2. Tỷ lệ có thai sau phẫu thuật131
2.3. Một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng có thai sau phẫu thuật
132
KIẾN NGHỊ

độ βhCG trước mổ
3.14.Liên quan giữa thai trong tử cung và thông vòi tử cung trên phim chụp
TC - VTC
3.15. Liên quan giữa thai trong tử cung và dính phần phụ cùng bên
3.16. Liên quan giữa thai trong tử cung và dính tiểu khung
3.17.Liên quan giữa thai trong tử cung và tiền sử vô sinh
3.18. Liên quan giữa thai trong TC và tình trạng VTC bên đối diện
3.19. Liên quan giữa thai trong tử cung và tuổi của bệnh nhân
3.20. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với tiền sử hút thai
3.21. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với tiền sử viêm phần phụ
3.22. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với tiền sử
viêm phần phụ
3.23. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với nhóm tuổi
3.24. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với dính tiểu khung
3.25. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với dính phần phụ cùng bên
chửa ngoài tử cung
3.26. Liên quan giữa chửa ngoài tử cung nhắc lại với dính phần phụ bên đối diện
4.1. Một số triệu chứng lâm sàng của chửa ngoài tử cung được chẩn đoán sớm
4.2. Tỷ lệ chửa ngoài tử cung tồn tại sau mổ bảo tồn vòi tử cung
4.3. Kết quả thai nghén sau điều trị bảo tồn vòi tử cung

DANH MỤC CÁC HÌNH
Số thứ tự
Tên hình
Hình ảnh chửa vòi tử cung bên trái qua nội soi ổ bụng
2.1. Bộ dụng cụ mổ nội soi của Karl Storz
2.2. Giàn máy nội soi của Karl Storz
2.3. Hình ảnh chụp tử cung - vòi tử cung bình thường
2.4. Hình ảnh chụp tử cung - vòi tử cung tắc vòi tử cung bên phải
2.5. Bước 1: Đánh giá ổ bụng và tiểu khung: Hình ảnh khối chửa vòi tử cung bên

đặc biệt ở nhóm bệnh nhân làm thụ tinh trong ống nghiệm (TTTON), CNTC
chiếm 2 - 11% [50], [105], [144].
Trước đây, điều trị CNTC thường là mổ mở cắt vòi tử cung (VTC), ở
những trường hợp chỉ có một VTC, việc cắt VTC như vậy sẽ làm giảm khả
năng sinh sản trong tương lai của BN [156], [163].
Trong 10 năm trở lại đây, sự ra đời của siêu âm đầu dò âm đạo có độ
phân giải cao đã giúp cho các nhà chẩn đoán hình ảnh phát hiện được những
cấu trúc bất thường ở vùng tiểu khung ngay từ khi kích thước còn rất nhỏ.
Ngoài ra, sự phát triển của ngành sinh hóa có thể phát hiện βhCG ở nồng độ
thấp (βhCG < 25 mIU/ml). Sự kết hợp 2 tiến bộ trên đã giúp cho các nhà Sản


phụ khoa có khả năng phát hiện sớm CNTC ngay từ khi khối chửa còn nhỏ và
chưa bị vỡ, khi đó phẫu thuật sẽ đơn giản hơn, mất máu ít hơn, khả năng bảo
tồn VTC cao hơn, mang nhiều cơ may cho những phụ nữ có nhu cầu sinh đẻ
[75], [104].
Nghiên cứu của Michael J. Heard và John E. Buster trên tổng số 1.614
BN chửa VTC chưa vỡ được mổ nội soi (NS) bảo tồn VTC, tỷ lệ thành công
là 93,4% [132].
Tại Việt Nam, theo nghiên cứu của Tạ Thị Thanh Thủy trong 2 năm
(2001 - 2002) tại bệnh viện Hùng Vương trong tổng số 1.076 trường hợp
CNTC, có 965 trường hợp phẫu thuật chiếm 90%, trong đó bảo tồn VTC là 54
trường hợp chiếm 6% [36].
Nghiên cứu của Đoàn Thị Bích Ngọc năm 2003 tại Hải Phòng, trong
tổng số 326 trường hợp CNTC, có 72 trường hợp mổ NS bảo tồn VTC chiếm
16,25%, trong đó 53 trường hợp bảo tồn VTC thành công chiếm 73,68% [22].
Nghiên cứu của Nguyễn Văn Hà năm 2004 tại BVPSTW, trong tổng số
90 trường hợp CNTC, có 73 trường hợp mổ NS cắt VTC chiếm 81,1%; 14
trường hợp mổ NS bảo tồn VTC chiếm 15,6% và 3 trường hợp mổ mở cắt
VTC chiếm 3,3% [13].

Chửa ngoài tử cung là sự làm tổ của trứng bên ngoài buồng tử cung.
Khoảng 98,3% các trường hợp CNTC xảy ra tại VTC, các vị trí không phải
VTC thường hiếm gặp, trong đó chửa trong ổ bụng là 1,4%, chửa buồng trứng
là 0,15% và chửa ống cổ tử cung là 0,15% [144]. Gần đây, một hình thái mới
của CNTC đó là chửa tại vết mổ tử cung [129]. Trong các vị trí chửa ở VTC
thì chửa đoạn bóng chiếm 80%, đoạn eo chiếm 10%, đoạn loa chiếm 8% và
đoạn kẽ chiếm 2%. Có 3 lý do giải thích tại sao chửa đoạn bóng VTC lại cao
nhất: (1) từ đoạn bóng tới đoạn eo lòng VTC hẹp dần; (2) đoạn bóng là nơi
bắt đầu của sự thụ tinh; (3) tổn thương viêm đoạn loa VTC thường gây hẹp
lòng VTC và vô sinh [140], [144].
Năm 1883, Tait là người đầu tiên điều trị thành công CNTC bằng phẫu
thuật. Tác giả đã tiến hành cắt VTC cho 4 trường hợp CNTC, tất cả 4 BN đều
sống sót và kết quả này gây ngạc nhiên cho giới Y học vào thời gian đó [166].
Năm 1955, Lund lần đầu tiên mô tả 119 trường hợp CNTC điều trị
bằng phương pháp theo dõi, khối chửa tự thoái triển, thành công 57% [166].
Năm 1973, Shapiro đã điều trị thành công CNTC bằng SOB[166].
Năm 1982, Tanaka và cộng sự người Nhật Bản đã điều trị thành công
CNTC bằng Methotrexate (MTX) [144].
1.2. Giải phẫu vòi tử cung - cơ chế chửa ngoài tử cung và tổn thương giải
phẫu bệnh của chửa tại vòi tử cung
1.2.1. Cấu tạo vòi tử cung
- Là ống dẫn trứng từ buồng trứng tới tử cung (TC), một đầu mở vào ổ
bụng, một đầu thông với buồng TC. Có hai VTC bắt đầu từ mỗi bên sừng TC
kéo dài tới sát thành chậu hông và mở thông với ổ bụng ở sát bề mặt của


buồng trứng. VTC nằm giữa hai lá của dây chằng rộng và được treo vào phần
còn lại của dây chằng rộng bởi mạc treo VTC. Người trưởng thành, VTC dài
10 - 12 cm, đầu nhỏ ở sát sừng TC rồi to dần về phía tận cùng giống như 1
chiếc kèn trompette [2], [3], [4], [8], [143], [149].

- Mạch và thần kinh: động mạch VTC được tách ra từ 2 động mạch
buồng trứng và động mạch TC, hai nhánh VTC của 2 động mạch này nối tiếp
với nhau ở mạc treo VTC. Tĩnh mạch đi kèm theo động mạch của buồng
trứng. Bạch mạch chảy vào hệ bạch mạch của buồng trứng. Thần kinh chi
phối tách ra từ đám rối buồng trứng, nằm ở xung quanh động mạch buồng
trứng [2], [3], [4], [8], [172].
- Cấu trúc mô học VTC: thành VTC gồm 3 tầng: tầng niêm mạc, tầng
cơ và tầng vỏ ngoài.
+ Tầng niêm mạc: trong thời kỳ hoạt động sinh dục, biểu mô gồm 4
loại tế bào: tế bào có lông, tế bào không có lông, tế bào trung gian và tế bào
đáy. Tế bào không có lông là những tế bào chế tiết có 2 tác dụng nuôi dưỡng
trứng, nuôi dưỡng tinh trùng và góp phần vào dòng chảy vận chuyển trứng
thụ tinh về buồng TC. Lớp đệm ngăn cách biểu mô bởi màng đáy có chỗ lồi
đội biểu mô lên tạo thành những nếp gấp của niêm mạc VTC, lớp đệm là một
mô liên kết có nhiều mạch máu, mạch bạch huyết và các tế bào hình thoi
giống như những nguyên bào sợi, trong trường hợp chửa VTC, các tế bào
hình thoi có thể biệt hoá thành tế bào màng rụng [24], [143].
+ Tầng cơ: gồm 2 lớp cơ trơn, lớp trong các sợi cơ xếp theo hướng
vòng, lớp ngoài các sợi cơ xếp theo hướng dọc. Ở sừng TC, tầng cơ VTC liên
tiếp với tầng cơ TC [24], [143].


+ Tầng vỏ ngoài: là một mô liên kết chứa mạch, dây thần kinh từ dây
chằng rộng tới và được phủ ngoài bởi màng bụng [24], [143].
1.2.2. Cơ chế chửa ngoài tử cung
- Sau khi phóng tinh, tinh trùng qua TC đến VTC nhờ 2 cơ chế: (1) tinh
trùng tự di chuyển; (2) co bóp của cơ TC và VTC dưới tác dụng của
prostaglandin [6].
- Mỗi lần giao hợp có khoảng nửa tỷ tinh trùng nhưng chỉ có khoảng
vài ngàn tinh trùng di chuyển đến được VTC [6].

- Về giải phẫu, VTC không đảm bảo cho thai làm tổ được vì: (1) niêm
mạc VTC không biến đổi nhiều như niêm mạc TC, nên nếu thai làm tổ ở niêm
mạc VTC thường bị sẩy sớm do bề mặt niêm mạc không đủ để rau thai phát
triển; (2) lớp cơ của VTC rất mỏng, mạch máu ở lớp đệm của thành VTC
không đủ cấp máu cho gai rau của phôi và không tạo thành hồ huyết. Những
hợp bào nuôi đâm xuyên qua lớp màng đệm mỏng vào tận lớp cơ làm dạn nứt
VTC gây đau và chảy máu trong. Sự làm tổ ở thành VTC xảy ra tương tự như
làm tổ ở buồng TC, tuy nhiên, do thành VTC mỏng, không có khả năng biến
đổi thành màng rụng, không có hệ thống cung cấp máu đặc biệt, ngoài ra khả
năng dãn rộng của VTC hạn chế nên khối chửa chỉ tồn tại trong một thời gian
nhất định [3], [5], [63], [165].
1.2.3.2. Tiến triển của chửa tại vòi tử cung
- Có 4 cách tiến triển của chửa tại vòi tử cung:
+ Sẩy vào ổ bụng: khi thai làm tổ lạc chỗ sẽ dễ bị bong ra và gây sẩy,
làm tụ máu ở VTC. Nếu rau bong từ từ, máu chảy ít một, phôi có thể làm tổ
lại được tại VTC và khi sẩy qua loa VTC, tạo thành chửa ổ bụng thứ phát
hoặc chửa buồng trứng thứ phát. Sẩy qua loa VTC vào ổ bụng là hình thái hay
gặp của chửa đoạn loa hay đoạn bóng VTC. Hậu quả của sẩy qua loa VTC là


chảy máu trong ổ bụng. Máu chảy ra từ chỗ bong rau nhưng cũng có thể chảy
ra từ chỗ mạch máu thành VTC bị hở. Có thể gặp trường hợp phôi bị sẩy hoàn
toàn, máu chảy không nhiều rồi tự ngừng, các triệu chứng mất đi [5], [63],
[108], [113].
+ Gây vỡ vòi tử cung: VTC có thể bị vỡ là do: (1) gai rau ăn vào lớp cơ
làm thủng VTC; (2) VTC dãn căng to làm vỡ VTC; (3) các nhánh mạch máu
cũng bị vỡ gây chảy máu trong ổ bụng. Nếu chảy máu ít, máu sẽ đọng lại ở
vùng thấp tạo ra túi máu khu trú ở túi cùng Douglas, nếu chảy máu nhiều sẽ
gây ngập máu trong ổ bụng. Vỡ có thể gặp ở bất kỳ vị trí nào của VTC, tuỳ
theo vị trí làm tổ, thời điểm vỡ VTC có thể xảy ra sớm hay muộn, thông

rạch VTC trước đây và các lông rau còn lại thường khu trú trong lớp cơ VTC.
Sự làm tổ của các nguyên bào nuôi trong ổ phúc mạc cũng được coi là một
hình thái nguyên bào nuôi tồn tại [63], [108], [113].
- Chửa ngoài tử cung mãn tính: là tình trạng khối chửa không hấp thu
hoàn toàn khi điều trị bằng phương pháp theo dõi. Tình trạng này xuất hiện
khi tồn tại các lông rau gây chảy máu vào trong thành VTC làm cho VTC
phồng lên từ từ và không bị vỡ. Nó cũng có thể xuất hiện khi chảy máu mãn
tính qua loa VTC và hậu quả là gây chèn ép. Có thể có huyết tụ thành nang
thứ phát do chảy máu mãn tính [63], [108], [113], [157].
1.3. Chẩn đoán chửa ngoài tử cung
1.3.1. Dựa vào lâm sàng
- Năm 1970, khoảng 80% các trường hợp CNTC khi chẩn đoán xác
định thì VTC đã bị vỡ, hiện nay, khoảng 80% các trường hợp CNTC được
chẩn đoán nhưng VTC chưa bị vỡ do đó làm tăng khả năng bảo tồn VTC
[106], [125], [126].


- Các triệu chứng lâm sàng của CNTC rất đa dạng và phụ thuộc vào
tình trạng vỡ hay chưa vỡ khối chửa [106], [125], [126].
- Bên cạnh các triệu chứng liên quan tới triệu chứng của thai nghén
sớm, các triệu chứng của CNTC gồm đau bụng và ra máu bất thường. Đau
bụng thường ở 1 bên và ra máu rất đa dạng, tuy nhiên, khoảng 20% phụ nữ ra
máu trong 3 tháng đầu sẽ kết thúc bằng 1 thai nghén bình thường [106], [125].
- Ba triệu chứng cơ năng thường gặp là chậm kinh, đau bụng, ra máu.
Sự có mặt của cả 3 triệu chứng này gặp ở 65 - 70% các trường hợp CNTC,
đau thường gặp nhất, chiếm 90% và ra máu âm đạo chiếm 50 - 80% các
trường hợp. Kích thước TC bình thường khi khám bằng 2 tay chiếm 71% và
to bằng TC có thai 6 - 8 tuần chiếm 26% các trường hợp; khoảng 3% các
trường hợp có kích thước TC to bằng tử cung có thai 9 - 12 tuần. Sờ thấy khối
phần phụ và di động tử cung đau chiếm 50% các trường hợp. Nếu chỉ dựa vào

- Ngưỡng phân biệt của βhCG là giới hạn thấp nhất của nồng độ βhCG
mà trên giới hạn đó luôn luôn nhìn thấy túi thai trong buồng tử cung qua siêu
âm [15], [17], [49], [73], [84], [125], [126].
- Cho dù thai ở trong tử cung hay CNTC thì gai rau đều tiết ra βhCG,
nhưng nếu thai trong tử cung bị chết hoặc CNTC thì lượng βhCG bao giờ
cũng thấp hơn thai bình thường ở cùng tuổi thai. Những bệnh nhân có nồng
độ βhCG < 1.000 mIU/ml, có nguy cơ CNTC cao gấp 4 lần khi so với những
BN có nồng độ βhCG >1.000 mIU/ml [15], [17], [49], [71], [84], [125],
[126].
- Chẩn đoán CNTC khi không nhìn thấy túi thai trong tử cung và nồng
độ βhCG ở trên ngưỡng phân biệt của βhCG. Siêu âm đường âm đạo có thể
phát hiện túi thai trong tử cung sau khi chậm kinh khoảng 1 tuần hoặc khi
nồng độ βhCG ≥ 1.000 - 1.500 mIU/ml. Khi βhCG ≥ 1.000 - 1.500 mIU/ml,


- Kết hợp siêu âm đường âm đạo với xét nghiệm hàng loạt βhCG ±
ngưỡng phân biệt của βhCG: trong thai nghén bình thường, nồng độ βhCG
tăng gấp đôi sau 2 - 3,5 ngày (trung bình 2 ngày) trong thời gian từ 4 - 8 tuần
và tăng ít nhất là 66%. Nếu thai nghén bất thường (như sẩy thai hoặc CNTC)
thì nồng độ βhCG không tuân theo quy luật trên. Tuy nhiên cũng có những
trường hợp ngoại lệ như:
+ Khoảng 15% thai trong tử cung bình thường có nồng độ βhCG tăng
dưới 66% sau 48 giờ. Do đó, không phân biệt được thai nghén bình thường
hay thai nghén bất thường [115], [146].
+ Khoảng 17% CNTC có biểu hiện tăng nồng độ βhCG sau 48 giờ
giống như thai trong tử cung [115], [146].
+ Do đó cần phải định lượng βhCG hàng loạt để loại trừ các trường
hợp ngoại lệ như trên. Như vậy, việc định lượng βhCG hàng loạt tăng hoặc
giảm bất thường gợi ý nhiều đến 1 thai nghén bất thường, thậm chí trước khi
βhCG đạt tới ngưỡng phân biệt. Kết hợp các dấu hiệu buồng tử cung rỗng,

1.3.2.4. Định lượng progesteron
Năm 1992, Stovall nghiên cứu 1.000 trường hợp thai nghén trong 3
tháng đầu cho thấy: khi nồng độ progesteron > 25 ng/ml có giá trị chẩn đoán
thai trong tử cung và loại trừ CNTC với độ nhạy 97,5%; khi nồng độ
progesteron < 5 ng/ml có giá trị chẩn đoán thai chết (có thể là thai trong TC
hoặc CNTC) với độ nhạy 100% [160], [161].
Theo nghiên cứu của Phạm Thanh Hiền [15] năm 2007 tại BVPSTW,
có thể kết hợp giữa lâm sàng, siêu âm đầu dò âm đạo, định lượng βhCG và
nồng độ progesteron để chẩn đoán sớm CNTC theo phác đồ sau đây:
- Lâm sàng + Siêu âm đầu dò âm đạo, độ nhạy: 86,30%, giá trị tiên
đoán dương tính: 96,90%.
- Lâm sàng + βhCG < 1.500 mIU/ml, độ nhạy: 88%, giá trị tiên đoán
dương tính: 97,5%.
- Lâm sàng + Siêu âm đầu dò âm đạo + βhCG < 1.500 mIU/ml, độ
nhạy: 93,50%, giá trị tiên đoán dương tính: 97,40%.
- Lâm sàng + Siêu âm đầu dò âm đạo + progesteron < 15 ng/ml, độ
nhạy: 91,02%, giá trị tiên đoán dương tính: 98,12%.
- Lâm sàng + Siêu âm đầu dò âm đạo + βhCG < 1.500 mIU/ml +
progesteron < 15 ng/ml, độ nhạy: 98,80%, độ đặc hiệu: 91%, giá trị tiên đoán
dương tính: 98,12%, giá trị tiên đoán âm tính: 73%.
1.4. Các phương pháp điều trị bảo tồn chửa ngoài tử cung
1.4.1. Phương pháp theo dõi
1.4.1.1. Chỉ định
- Khối chửa chưa vỡ.
- Nồng độ βhCG < 1.500 mIU/ml.
- Nồng độ βhCG giảm sau 48 giờ.
- BN hợp tác với thầy thuốc và có thể theo dõi trong thời gian dài.


1.4.1.2. Phác đồ theo dõi

bằng phương pháp theo dõi [94].
- Các nghiên cứu rộng hơn cũng cho kết quả tương tự. Korhonen và
cộng sự [115] đưa ra tiêu chuẩn lựa chọn bao gồm: nồng độ βhCG giảm, khối
chửa có kích thước < 4 cm mà không có hoạt động tim thai. Với những tiêu
chuẩn trên, trong tổng số 118 trường hợp CNTC được theo dõi, 77 trường hợp
khối chửa đã thoái triển tự nhiên chiếm 65%. Các trường hợp còn lại phải mổ
vì đau bụng tăng lên, tăng thể tích dịch cùng đồ hoặc nồng độ βhCG không
thay đổi hay tăng lên. Theo các tác giả, kết quả thành công càng cao khi nồng
độ βhCG ban đầu càng thấp [115].
- Theo Matthew và cộng sự, trong thời gian từ 1982 - 1995 trong y văn
thế giới có 363 trường hợp CNTC được điều trị bằng phương pháp theo dõi,
trong đó có 254 trường hợp thành công chiếm 70%, cũng theo tác giả
Matthew, nồng độ βhCG càng thấp thì tỷ lệ thành công càng cao [128].
- Tác giả Rajesh Varma đã tập hợp 15 công trình nghiên cứu về phương
pháp theo dõi thấy tỷ lệ thành công trung bình là 67% (thay đổi từ 47 - 82%).
Tất cả các trường hợp thành công đều có huyết động ổn định và định lượng
βhCG thấy giảm dần [144].
- Theo nghiên cứu của Pisarka và cộng sự, nếu βhCG < 1.000 mIU/ml
thì 70% CNTC sẽ tự thoái triển mà không cần phải điều trị thêm [139].
- Nghiên cứu của Elson và cộng sự năm 2004 cho thấy, ở các nồng độ
βhCG khác nhau thì thành công cũng khác nhau. Nếu βhCG ≤ 175 mIU/ml,
tỷ lệ thành công là 96%; nếu nồng độ βhCG từ 175 - 1500 mIU/ml, tỷ lệ
thành công là 66%; ngoài ra, trong quá trình theo dõi phải định lượng βhCG
và siêu âm đầu dò âm đạo cho tới khi βhCG trở về âm tính [92].



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status