ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
-----------@&?-----------
NGUYỄN THỊ KHÂM
Tên đề tài:
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP GIẢM NGHÈO TẠI XÃ LĂNG CAN –
HUYỆN LÂM BÌNH – TỈNH TUYÊN QUANG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo
: Chính quy
Chuyên ngành : Phát triển nông thôn
Khoa
: Kinh tế & PTNT
Khóa học
: 2012 - 2016
ii
Thái Nguyên - 2016
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
: ThS. Nguyễn Quốc Huy
ii
Thái Nguyên – 2016
i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, nay em đã hoàn thành bài báo cáo thực
tập tốt nghiệp theo kế hoạch của trường Đại học Nông lâm Thái Nguyên với tên đề tài:
“Thực trạng và giải pháp giảm nghèo tại xã Lăng Can – Huyện Lâm Bình – Tỉnh
Tuyên Quang”.
Để có được kết quả này, lời đầu tiên em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Thạc sỹ
Nguyễn Quốc Huy - Giảng viên khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Giáo viên hướng
dẫn em trong quá trình thực tập. Thầy đã chỉ bảo và hướng dẫn tận tình cho em những kiến
thức lý thuyết và thực tế cũng như các kỹ năng trong khi viết bài, chỉ cho em những thiếu sót
của mình, để em hoàn thành bài báo cáo thực tập tốt nghiệp với kết quả tốt nhất. Thầy luôn
động viên và theo dõi sát sao quá trình thực tập và cũng là người truyền động lực cho em,
giúp em hoàn thành tốt đợt thực tập của mình.
Cho phép em gửi lời cảm ơn chân thành tới các phòng ban, cán bộ UBND xã Lăng
Can đã tạo mọi điều kiện, nhiệt tình giúp đỡ em, cung cấp những thông tin và số liệu cần
thiết để phục vụ bài báo cáo. Ngoài ra, các cán bộ xã còn chỉ bảo tận tình, chia sẻ những
kinh nghiệm thực tế trong quá trình công tác, đó là những ý kiến hết sức bổ ích cho em sau
khi ra trường.
Em cũng xin cảm ơn người dân xã Lăng Can đã tạo điều kiện cho em trong thời
gian ở địa phương thực tập.
iii
DANH MỤC HÌNH
Trang
Hình 4.1. Cơ cấu các nhóm hộ xã Lăng can năm 2015.............................................................34
iv
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
1
2
3
4
5
Chữ viết tắt
BHYT
KH- KT
KT-XH
LĐ-TB&XH
NHCSXH và NHNN
Nghĩa
Bảo hiểm y tế
Khoa học- kỹ thuật
Kinh tế- xã hội
Ủy ban nhân dân
Chương trình phát triển Liên hợp quốc
Đô la Mỹ
Ngân hàng Thế Giới
Xóa đói giảm nghèo
Hộ gia đình
v
MỤC LỤC
Thái Nguyên - 2016.....................................................................................................................ii
Thái Nguyên – 2016....................................................................................................................ii
LỜI CẢM ƠN...............................................................................................................................i
1
PHẦN 1
MỞ ĐẦU
1.1. Đặt vấn đề
Ngày nay trên thế giới còn khoảng 1,2 tỷ người sống trong cảnh nghèo đói
tập chung chủ yếu ở các nước đang phát triển thuộc khu vực Châu Á và Châu Phi…
Trong điều kiện hiện nay sự toàn cầu hóa đem lại hiệu quả hết sức to lớn về phát
triển kinh tế, khoa học công nghệ, song mặt trái của nó chính là tỷ lệ gia tăng thất
nghiệp, nghèo đói và hàng loạt các vấn đề nổi cộm cần giải quyết thuộc về các quốc
gia nói riêng và toàn cầu nói chung.
Ngày nay, việc giảm bớt nghèo đói đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu ở
các nước đang phát triển. Mặc dù tăng trưởng có thể đem lại lợi ích cho tất cả các
cận các dịch vụ xã hội phát triển sản xuất tự vươn lên thoát khỏi nghèo luôn là điều
mà Đảng và Nhà Nước ta luôn đặt ưu tiên lên hàng đầu.
Với tầm quan trọng và tính cấp thiết như trên tại xã Lăng Can - Huyện Lâm
Bình – Tỉnh Tuyên Quang cùng với sự giúp đỡ quan tâm của các cấp ban ngành của
Đảng và Nhà Nước thì những năm qua xã Lăng Can đã tổ chức và thực hiện rất nhiều
những chương trình theo chủ chương chính sách của Nhà Nước trong việc hỗ trợ và
giúp đỡ người nghèo nhằm giảm tỷ lệ nghèo đói nơi đây. Là một người con trong xã và
cũng là một sinh viên sắp ra trường. Trải qua quá trình tìm tòi và nghiên cứu tôi đã thấy
được tính cấp thiết của của việc giảm nghèo, cho nên tôi đã quyết định chọn đề tài khóa
luận tốt nghiệp của mình đó là: “ Thực Trạng và giải pháp giảm nghèo tại xã Lăng
Can - Huyện Lâm Bình – Tỉnh Tuyên Quang”.
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng nghèo tại xã Lăng Can - Huyện
Lâm Bình – Tỉnh Tuyên Quang và đưa ra những giải pháp giảm nghèo cải thiện đời
sống nhân dân trong xã..
1.2.2. Mục tiêu cụ thể
- Điều tra sơ bộ và phân tích thực trạng đói nghèo.
- Đưa ra được những nguyên nhân dẫn tới nghèo tại địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất được các giải pháp giảm nghèo phù hợp và thật sự thiết thực giúp các hộ
gia đình nghèo tại địa phương nhằm góp phần giảm tỷ lệ nghèo và xây dựng địa phương
ngày càng phát triển.
3
1.3. Ý nghĩa của đề tài
1.3.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài là cơ hội để cho sinh viên thực hành những kiến thức đã học,
áp dụng kiến thức vào thực tế, là khung chương trình mà bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở lí luận
2.1.1. Một số quan điểm về nghèo và giảm nghèo
2.1.1.1. Một số khái niệm và định nghĩa danh từ nghèo
Quan niệm về nghèo đói hay nhận dạng về nghèo đói của từng quốc gia hay
từng vùng, từng nhóm dân cư, nhìn chung không có sự khác biệt đáng kể, tiêu chí
chung nhất để xác định nghèo đói vẫn là mức thu nhập hay chi tiêu để thoả mãn những
nhu cầu cơ bản của con người. Sự khác nhau chung nhất là thoả mãn ở mức cao hay
thấp mà thôi, điều này phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như
phong tục tập quán của từng vùng, từng quốc gia.
Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo đói do hội nghị chống đói
nghèo khu vực châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tại Bangkok - Thái Lan
vào tháng 9 năm 1993: “Nghèo khổ là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả
năng thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu ấy phụ
thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và
những phong tục ấy được xã hội thừa nhận” [20].
• Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức tại Copenhagen,
Đan Mạch năm 1995 đã đưa ra một định nghĩa cụ thể hơn về nghèo đói như sau:
“Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập dưới 1 đô la (USD) mỗi ngày cho
mỗi người, số tiền coi như đủ mua những sản phẩm thiết yếu để tồn tại” [17].
Vậy tiêu chí để xác định nghèo ở nước ta là:
• Xác định giàu nghèo là một việc khó vì nó gắn với từng thời điểm, từng
quốc gia, và được xem xét ở nhiều góc độ khác nhau .Ở nước ta, từ khi có chủ
trương xoá đói giảm nghèo, các cơ quan trong nước và quốc tế đã đưa ra những
chuẩn mực để xác định tình hình đói nghèo. Đó là: chuẩn mực của bộ lao động
thương binh xã hội, chuẩn mực của TCTK, chuẩn mực đánh giá của WB để có cơ
sở xây dựng chương trình xoá đói giảm nghèo phù hợp với tập quán và mức sống ở
5
6
Mỹ La tinh và Carribean đến 4 đô la cho những nước Đông Âu cho đến 14,40 đô la
cho những nước công nghiệp. (Chương trình Phát triển Liên Hiệp Quốc 1997).
* Nghèo tương đối?
Nghèo tương đối có thể xem như là việc cung cấp không đầy đủ các tiềm lực
vật chất và phi vật chất cho những người thuộc về một số tầng lớp xã hội nhất định
so với sự xung túc xã hội đó.
Nghèo tương đối có thể là khách quan, tức là sự hiện hữu không phụ thuộc
vào cảm nhận của những người trong cuộc. Người ta gọi là nghèo tương đối chủ
quan khi những người trong cuộc cảm thấy nghèo không phụ thuộc vào sự xác định
khách quan. Bên cạnh thiếu sự cung cấp vật chất (tương đối), việc thiếu thốn tài
nguyên phi vật chất ngày càng có tầm quan trọng hơn. Việc nghèo đi về văn hoá xã hội, thiếu tham gia vào cuộc sống xã hội do thiếu hụt tài chính một phần được
các nhà xã hội học xem như là thách thức nghiêm trọng[21].
2.1.1.2. Khái niệm giảm nghèo và quan điểm về giảm nghèo
Giảm nghèo hiểu đơn giản là làm cho kinh tế của những hộ nghèo khá lên,
thoát khỏi ngưỡng nghèo. XĐGN phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh,
hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động
trợ giúp người nghèo đói.
Quan điểm này dựa trên lô-gic biện chứng là muốn giúp đỡ, hỗ trợ có hiệu
quả người nghèo đói thì Nhà nước phải có đủ nguồn lực vật chất trong tay, bởi vì
chính bản thân nhà nước là chủ thể có đầy đủ các khả năng điều hoà thu nhập
giữa các nhóm dân cư. Hơn nữa, các nguồn lực vật chất để thực hiện sự điều hoà
thu nhập ấy lại chỉ có thể có được khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả và
bền vững. Thực tế cho thấy, nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài
chính để mở rộng các dự án, các chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho
hàng ngàn xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, trên cơ sở đó
những người nghèo ở những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát
an sinh xã hội giai đoạn 2011- 2015. Theo đó, tiêu chí về mức chuẩn nghèo áp dụng
cho giai đoạn 2011 -2015 như sau:
Hộ nghèo ở nông thôn có thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng
trở xuống, hộ nghèo ở thành thị có thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng
trở xuống.
8
Hộ cận nghèo ở khu vực này nông thôn có thu nhập từ khoảng 401.000 đồng
đến 520.000 đồng/người/tháng. Còn ở khu vực thành thị những hộ có thu nhập từ
501.000 - 650.000 đồng/người/tháng.
2.2. Cơ sở thực tiễn của đề tài
2.2.1. Thực trạng nghèo trên thế giới và khu vực hiện nay
Theo báo cáo mới nhất của WB, trong năm 2015 có khoảng 702 triệu người,
tương đương 9,6% dân số trên thế giới, sống dưới chuẩn nghèo, chủ yếu ở Châu Á
và khu vực nam Sahara của châu phi. Số liệu này giảm mạnh so với 902 triệu người
nghèo, chiếm 13% dân số toàn cầu, trong năm 2012. Năm 1999, số người nghèo
cùng cực trên thế giới chiếm tới 29%[14].
Khu vực Nam Sahara Châu Phi vẫn là điểm nóng về nghèo cùng cực trên thế
giới toàn cầu, chiếm gần một nửa số người nghèo trên thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo
trong khu vực này cũng giảm chậm hơn so với các nước khác, giảm từ 56% vào
năm 1999 với một dự báo 35% trong năm 2015[14].
Theo báo cáo năm 2014 được Chương trình Phát triển Liên hợp quốc
(UNDP) công bố tại Tokyo ngày 24/7, số người nghèo và cận nghèo trên thế giới
lên tới hơn 2,2 tỷ người. Các cuộc khủng hoảng tài chính, thiên tai, giá lương thực
tăng và các cuộc xung đột có thể làm tình hình trở nên trầm trọng hơn [19].
Báo cáo cho biết, trong khi tình trạng nghèo đói đang có chiều hướng giảm trên
toàn thế giới thì sự bất bình đẳng và "những tổn thương mang tính cơ cấu" vẫn là một
mối đe dọa nghiêm trọng. Gần 1,5 tỷ người tại 91 quốc gia đang phát triển sống trong
• Trung Quốc:
Trung Quốc là một nước có số dân đông nhất thế giới và cũng là nước có số
dân nghèo chiếm tỷ lệ cao. Tỷ lệ nghèo khổ chiếm 20% dân số, trong đó 80 triệu
người quá nghèo khổ chiếm 8% dân số (số liệu của FAO,1990). Bước vào thời kỳ
cải cách kinh tế, nông thôn Trung Quốc đã có sự thay đổi lớn, tuyệt đại đa số nông
dân đã giải quyết được vấn đề no cơm ấm áo, tỷ lệ nghèo khổ giảm đáng kể do
Trung Quốc sớm quan tâm và thực hiện rất có hiệu quả chương trình “xoá đói giảm
nghèo” ở trên phạm vi cả nước, nhất là khu vực nông thôn. Kinh nghiệm thành
công của Trung Quốc trong công cuộc XĐGN cho thấy tầm quan trọng của việc kết
hợp tăng trưởng kinh tế gắn với những biện pháp giải quyết việc làm ở nông thôn,
mở rộng hệ thống dạy nghề, tăng kỹ thuật mới, giảm nhẹ điều kiện việc làm, cải
thiện đời sống, phát triển công nghiệp nông thôn nhằm thay đổi cơ cấu kinh tế, cải
10
tạo nền kinh tế thuần nông với phương châm "ly nông bất ly hương". Đối với các
vùng nghèo, Chính phủ có các chương trình riêng như:
Giúp đỡ các huyện nghèo theo phương châm lấy phát triển kinh tế là chính
với các công tác sau: Kết hợp khai thác tổng hợp nông nghiệp, đầu tư xây dựng cơ
sở hạ tầng, phát triển ngành nghề địa phương, phòng chống về các bệnh tật, phổ cập
giáo dục tiểu học nâng cao trình độ văn hoá, trình độ kĩ thuật cho người lao động.
Khống chế tốc độ gia tăng dân số, khai thác và bảo vệ tốt tài nguyên môi trường
sinh thái.
Ngoài những nỗ lực đó còn có các chính sách tín dụng cho hộ nghèo vay vốn
với lãi suất thấp thực hiện ưu đãi về thuế tín dụng. Nhà nước tăng các khoản đầu tư
vào các vùng khó khăn, động viên các lực lượng xã hội chi viện cho vùng nghèo
khó về vốn sản xuất; khoa học kỹ thuật (KHKT) và đã thu được những kết quả tốt.
Giúp đỡ xã nghèo, thôn nghèo và các hộ nghèo như phổ biến kinh nghiệm, hợp
tác kinh tế giúp đỡ lẫn nhau cùng có lợi để đưa xã nghèo, thôn nghèo, hộ nghèo
chính sách thuế thu nhập để giảm bớt chênh lệch về thu nhập; Thực hiên chính sách
vùng, khu vực: khuyến khích phát huy lợi thế so sánh giữa các vùng... Hỗ trợ khu
vực nông thôn nông nghiệp thông qua chính sách bảo hộ đối với sản xuất nông
nghiệp; Thực hiện chính sách về phúc lợi xã hội: Thông qua hệ thống bảo hiểm
rộng lớn trên các lĩnh vực: Tương trợ công cộng, dịch vụ, phúc lợi bảo hiểm xã hội
(chăm sóc sức khoẻ, trợ cấp con cái, hưu trí, bảo hiểm thất nghiệp và tai nạn lao
động), y tế công cộng, trợ cấp và giúp đỡ của Nhà nước cho các nạn nhân chiến
tranh. Các khoản chi cho bảo hiểm xã hội ở Nhật Bản không nhỏ, năm 1989 con số
này đã chiếm 14% thu nhập quốc dân và từ đó đến nay các khoản chi này không
ngừng tăng lên. Đây chính là biên pháp có hiệu quả để những người nghèo sớm
thoát khỏi cảnh đói nghèo và những người không may gặp rủi ro nhanh chóng trở
lại cuộc sống ổn định, nâng cao chất lượng cuộc sống [ 6].
2.2.2. Thực trạng nghèo tại Việt Nam
2.2.2.1 Những thành tựu ấn tượng của Việt Nam về giảm nghèo
Trong Báo cáo "Khởi đầu tốt nhưng chưa phải đã hoàn thành: Thành tựu ấn
tượng của Việt Nam về giảm nghèo và những thách thức mới" của WB ngày
12
24/1/2013 đã ghi nhận: Trong vòng 20 năm (1990 - 2010), tỷ lệ nghèo ở Việt Nam
đã giảm từ gần 60% xuống còn 20,7% với khoảng hơn 30 triệu người thoát nghèo.
Bên cạnh đó, Việt Nam cũng đạt được thành tựu ấn tượng về giáo dục và y tế. Tỷ lệ
nhập học ở bậc tiểu học của người nghèo là trên 90% và ở bậc trung học cơ sở là
70%. Trình độ học vấn tăng và sự đa dạng hóa các hoạt động phi nông nghiệp, cơ
hội làm việc ở công trường, nhà máy... cũng đóng góp tích cực cho công tác xóa đói
giảm nghèo ở Việt Nam[15].
Không chỉ Ngân hàng thế giới mà nhiều nước và tổ chức quốc tế khác cũng
đánh giá cao, coi Việt Nam là "một điểm sáng thành công" trong xóa đói giảm
nghèo. Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc (FAO) cũng vinh danh công nhận
nghèo nhất, cho các khu vực đồng bào dân tộc thiểu số. Việc xây dựng, ban hành
chính sách hỗ trợ mới cần theo hướng mở rộng đối tượng là hộ mới thoát nghèo và
hộ cận nghèo, nhằm hạn chế tái nghèo, góp phần giảm nghèo bền vững, các mức
chính sách được thiết kế theo nguyên tắc: hộ nghèo được ưu tiên nhất, sau đó mới
đến hộ mới thoát nghèo và hộ cận nghèo.
Theo nguyên Bộ trưởng, cần khuyến khích tăng cường tính tự chủ, vươn lên
của người nghèo. “Việc hỗ trợ của Nhà nước là cần thiết và quan trọng nhưng cần
xác định xóa đói giảm nghèo là việc của bản thân người dân, phải làm cho người
dân tự giác, chủ động thực hiện và có trách nhiệm hơn nữa để vươn lên thoát
nghèo” – nguyên Bộ trưởng nhấn mạnh. Vì vậy giai đoạn tới, chính sách nghèo cần
được gắn với điều kiện, hạn chế việc hỗ trợ cho không; đồng thời quy định thời hạn
tối đa hộ nghèo được hỗ trợ chính sách (từ 3 - 5 năm) nhằm khắc phục tư tưởng
trông chờ, ỷ lại.
Đáng lưu ý, vấn đề chuyển đổi phương pháp tiếp cận đo lường nghèo đói từ
đơn chiều sang đa chiều được nguyên Bộ trưởng Phạm Thị Hải Chuyền đề cập đến
như một giải pháp nhằm tăng độ bao phủ chính sách tới các đối tượng và thực hiện
mục tiêu giảm nghèo hiệu quả hơn. Đáng chú ý, được sự hỗ trợ từ Liên hợp quốc,
Việt Nam trở thành một trong 20 quốc gia tiên phong trong nghiên cứu và áp dụng
các phương pháp đo lường nghèo đa chiều để hiểu rõ hơn về các nguyên nhân gốc
rễ gây ra tình trạng nghèo và thiết kế các chính sách, chương trình mục tiêu phù hợp
hơn. Chính phủ đã giao Bộ LĐ-TB&XH phối hợp với các Bộ, ngành nghiên cứu
xây dựng đề án chuyển đổi, trình Chính phủ phê duyệt để áp dụng sau năm 2015...
14
Tin rằng, với quyết tâm của cả hệ thống chính trị và người dân, công tác xóa
đói giảm nghèo năm 2014 sẽ tiếp tục đạt được những thành tựu lớn hơn, góp phần
từng bước thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững từ nay đến năm 2020 [15].
2.2.3.Một số địa phương làm tốt công tác giảm nghèo ở nước ta.
xã Năng Khả cho biết, thực hiện hiệu quả công tác giảm nghèo, Đảng ủy đã chỉ đạo
UBND xã tổ chức triển khai thực hiện tốt việc tuyên truyền vận động các tổ chức xã
hội và quần chúng nhân dân nâng cao ý thức vươn lên thoát nghèo hiệu quả; huy
động, lồng ghép và sử dụng có hiệu quả mọi nguồn lực từ các chương trình mục
tiêu quốc gia, các nguồn tài trợ an sinh xã hội, các nguồn vốn vay, hỗ trợ đào tạo
nghề và giải quyết việc làm… Đến nay, tỷ lệ hộ nghèo của xã chỉ còn 8,53%[13].
2.2.3.2 Giảm nghèo ở huyện Phú Bình - Thái Nguyên.
Năm 2011 Phú Bình có gần 7.000 hộ nghèo (chiếm trên 19,67%), giảm hơn
1.660 hộ so với năm 2010 (đạt tỷ lệ 5,16%, vượt 2,16% so với kế hoạch đề ra); số
hộ cận nghèo là gần 4.680 hộ.
Để thực hiện có hiệu quả công tác giảm nghèo năm 2011, huyện đã siết chặt
việc rà soát và bình xét các đối tượng hộ nghèo.
Sau khi nhận được kết quả sơ bộ về số liệu hộ nghèo trên địa bàn, đối với một
số xã có kinh tế phát triển, thu nhập của người dân cao nhưng tỷ lệ hộ nghèo vẫn
còn nhiều, Ban chỉ đạo giảm nghèo huyện đã trực tiếp yêu cầu Ban chỉ đạo giảm
nghèo các xã đó rà soát danh sách, tiến hành phúc tra lại, đồng thời về xã kiểm tra
đột xuất.
Thực tế cho thấy, bên cạnh việc chú trọng công tác tuyên truyền để các hộ
nghèo nâng cao ý thức vươn lên thoát nghèo thì chính quyền, các ngành, đoàn thể
các cấp luôn tạo điều kiện tốt nhất để các hộ nghèo có nhu cầu được vay vốn của
Ngân hàng Chính sách, từ các chương trình, dự án với lãi suất ưu đãi.
Trong năm, từ nhiều nguồn vốn khác nhau, các cấp chính quyền đoàn thể
trong huyện đã hỗ trợ trên 41,8 tỷ đồng xây dựng 830 nhà ở; thực hiện chi trả trợ
cấp trên 2,1 tỷ đồng cho các hộ nghèo trên địa bàn. Để việc giảm nghèo hiệu quả,
bền vững, chính quyền đoàn thể các địa phương đều có biện pháp giúp các hộ phát
triển kinh tế theo cách hội viên thuộc đoàn thể nào thì đoàn thể đó trực tiếp theo dõi,
giúp đỡ. Cùng với đó, Ban chỉ đạo giảm nghèo huyện tích cực phối hợp với Phòng
Nông nghiệp, Trạm Khuyến nông huyện mở các lớp tập huấn khoa học kỹ thuật cho
người dân về kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi.