BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
***********************
NGUYỄN THỊ THANH TRÀ
ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC HỌC
CỦA SINH VIÊN ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Chuyên ngành : Lý luận và Lịch sử giáo dục
Mã số
: 62. 14 .01. 02
LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
HÀ NỘI - 2016
Công trình được hoàn thành tại: Trường Đại học Sư phạm Hà Nội
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS. TS Trần Thị Tuyết Oanh
2. PGS. TS Vũ Lệ Hoa
Phản biện 1: PGS. TS Trần Khánh Đức, trường Đại học Bách
khoa Hà Nội.
Phản biện 2: PGS. TS Phó Đức Hòa, trường Đại học Sư phạm
Hà Nội
Phản biện 3: PGS. TS Nguyễn Phương Nga, trường ĐH Giáo
dục, ĐH Quốc gia Hà Nội
lý thuyết là chính, ít chú ý đến yêu cầu sinh viên vận dụng tổng hợp
những tri thức, kĩ năng vào giải quyết một vấn đề cụ thể thuộc về
nghề nghiệp. Để khắc phục những hạn chế của đánh giá truyền
thống, việc thực hiện đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp
cận năng lực là hết sức cần thiết. Song cho đến nay còn thiếu công
trình nghiên cứu đầy đủ, cụ thể về vấn đề này.
Vì những lí do trên tác giả chọn đề tài “Đánh giá kết quả học
tập môn Giáo dục học của sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận
năng lực” làm chủ đề nghiên cứu luận án của mình.
2. Mục đích nghiên cứu
Đề xuất các biện pháp đánh giá KQHT môn Giáo dục học của
sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận năng lực nhằm đánh giá
được đầy đủ mức độ đạt được mục tiêu về năng lực cần hình thành
cho sinh viên trong học tập môn Giáo dục học. Từ đó góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn học nói riêng và chất lượng đào tạo của
các trường đại học có đào tạo sư phạm nói chung.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình đánh giá kết quả học tập của sinh viên ở các trường
Đại học Sư phạm
2
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Biện pháp đánh giá kết quả học tập môn Giáo dục học của sinh
viên các trường Đại học Sư phạm theo tiếp cận năng lực
4. Giả thuyết khoa học
Đánh giá KQHT theo tiếp cận năng lực là một xu thế hiện nay
đòi hỏi đánh giá được việc người học vận dụng kiến thức đã học vào
3
(Thanh Hóa), Đại học Sư phạm Huế, Đại học Quy Nhơn, Đại học
Cần Thơ.
7. Phương pháp nghiên cứu
7.1. Cơ sở phương pháp luận của việc nghiên cứu đề tài
Sử dụng các quan điểm tiếp cận: tiếp cận hoạt động, tiếp cận
hệ thống - cấu trúc, tiếp cận thực tiễn.
7.2. Hệ thống các phương pháp nghiên cứu cụ thể
7.2.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận.
7.2.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn:Phương pháp
quan sát sư phạm, Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi, Phương
pháp chuyên gia, Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động,
Phương pháp trò chuyện, Phương pháp thực nghiệm sư phạm.
7.2.3 Phương pháp thống kê toán học
8. Những luận điểm bảo vệ
8.1 Đổi mới dạy học theo hướng phát triển năng lực đòi hỏi
cần có sự đổi mới về đánh giá KQHT một cách đồng bộ. Đánh giá
KQHT theo tiếp cận năng lực yêu cầu phải đánh giá được các mục
tiêu về năng lực mà người học đạt được trong học tập đồng thời đánh
giá phải tác động tích cực trở lại hoạt động dạy học.
8.2 Đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực
chú trọng đánh giá sự vận dụng các kiến thức về nghiệp vụ sư phạm của
sinh viên để giải quyết các vấn đề đặt ra trong thực tiễn dạy học và giáo
dục học sinh. Do vậy, thực hiện đánh giá theo cách tiếp cận này ở môn
Giáo dục học sẽ giúp hình thành và phát triển các năng lực cần thiết của
người giáo viên tương lai theo chuẩn đầu ra ngành sư phạm.
8.3 Đánh giá KQHT môn Giáo dục học của sinh viên đại học
Chương 3. Biện pháp đánh giá KQHT môn Giáo dục học của
sinh viên Đại học Sư phạm theo tiếp cận năng lực và thực nghiệm sư
phạm
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP MÔN
GDH CỦA SINH VIÊN ĐHSP THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
1.1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
1.1.1 Các nghiên cứu về đánh giá kết quả học tập
Trước những năm 1990 của thế kỉ XX, các nghiên cứu về đánh
giá KQHT của các nhà khoa học trên thế giới cũng như ở Việt Nam
khá đa dạng, liên quan đến những vấn đề lý luận chung và những vấn
đề lý luận cụ thể của việc đánh giá kết quả học tập ở nhiều môn học
khác nhau trong đó có Giáo dục học. Tuy nhiên những nghiên cứu đó
chỉ tập trung đánh giá khả năng ghi nhớ tri thức của người học mà ít
hoặc chưa quan tâm đến người học vận dụng tri thức đó như thế nào
trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp của mình.
1.1.2 Các nghiên cứu về đánh giá KQHT môn Giáo dục
học theo tiếp cận năng lực
Các nghiên cứu về đánh giá KQHT theo tiếp cận năng lực chỉ
bắt đầu phát triển rộng rãi trên thế giới từ đầu những năm 1990 của thế
kỉ XX trở lại đây. Các nghiên cứu của các tác giả như W. Jame
Popham; Peter. W. Airasian; James H. McMillan; A.J. Nitko hay
5
R.J.Marzano đã nêu rõ bản chất cũng như các thành tố cấu trúc của
đánh giá KQHT như mục tiêu, nội dung, tiêu chí đánh giá v.v..., nhưng
những điều mà họ đề cập đến ở loại đánh giá này mới dừng ở mức độ
khái quát chung, chứ chưa đề cập đến việc vận dụng đánh giá KQHT
cho biết năng lực của mỗi cá nhân.
1.2.4 Tiếp cận năng lực
Trong luận án thuật ngữ “tiếp cận” được hiểu là một quan
điểm để giải quyết một vấn đề cụ thể.
6
Vậy, tiếp cận năng lực là quan điểm về việc hình thành và phát
triển năng lực cho người học. Với ý nghĩa đó, trong hoạt động đánh
giá, cách tiếp cận khác nhau sẽ định hướng khác nhau cho các thành tố
của quá trình đánh giá, từ việc đề xuất mục tiêu đánh giá, lựa chọn nội
dung đánh giá, lựa chọn phương pháp, hình thức đánh giá, cho đến xây
dựng công cụ đánh giá. Đánh giá KQHT theo tiếp cận năng lực là quá
trình tập hợp và phân tích thông tin nhằm đưa ra những nhận định về
việc vận dụng tích hợp tri thức, kĩ năng, thái độ của người học để giải
quyết các nhiệm vụ dạy học phức hợp trong một bối cảnh thực tế hoặc
giả định để đáp ứng mục tiêu về năng lực đặt ra.
1.3 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP
Luận án đã làm rõ các nội dung về đánh giá KQHT gồm: (1)
Vị trí, vai trò, chức năng của đánh giá KQHT; (2) Nguyên tắc đánh
giá KQHT; (3) Phương pháp, hình thức và công cụ kiểm tra - đánh
giá KQHT; (4) Triết lí về đánh giá kết quả học tập.
Các triết lí về đánh giá KQHT gồm: Đánh giá kết quả về việc
học (assessment of learning); Đánh giá vì sự tiến bộ của người học
(assessment for learning); Đánh giá là hoạt động học tập (assessment
as learning). Hiện nay, để đảm bảo chất lượng và hiệu quả của đánh
giá kết quả học tập theo tiếp cận năng lực đòi hỏi phải kết hợp cả 3
triết lí đánh giá nêu trên.
1.4 ĐÁNH GIÁ KQHT MÔN GIÁO DỤC HỌC THEO
Mỗi năng lực trên có một vai trò, ý nghĩa khác nhau đối với
việc học tập, song chúng gắn kết với nhau, bổ sung, hỗ trợ cho nhau.
Tùy từng nhiệm vụ học tập, biết lựa chọn và sử dụng phối hợp các
năng lực trên sẽ giúp người học đạt kết quả học tập tốt nhất.
1.4.2.2 Những năng lực dạy học - giáo dục cần hình thành
và phát triển cho sinh viên ĐHSP thông qua môn Giáo dục học
Căn cứ vào tiến trình của hoạt động dạy học và giáo dục; căn
cứ vào đặc trưng của môn GDH là trang bị các tri thức, kĩ năng nền
tảng, cơ sở cho sinh viên và căn cứ vào cách tiếp cận năng lực là các
năng lực phải đo lường được một cách trực tiếp hoặc gián tiếp tác giả
đã đề xuất hệ thống các năng lực dạy học và năng lực giáo dục cần
hình thành cho sinh viên ĐHSP thông qua môn GDH gồm 3 nhóm.
Mỗi nhóm năng lực này lại bao gồm các năng lực cụ thể.
- Nhóm năng lực nghiên cứu các văn bản dạy học - giáo dục
và đối tượng dạy học - giáo dục gồm có: năng lực phân tích nội dung
kế hoạch, chương trình, tài liệu dạy học - giáo dục; năng lực tìm hiểu
đối tượng dạy học - giáo dục.
- Nhóm năng lực thực hiện hoạt động dạy học, hoạt động giáo
dục bao gồm: năng lực xác định mục tiêu dạy học - giáo dục; năng
lực lựa chọn, xây dựng nội dung dạy học - giáo dục; năng lực thiết kế
các hoạt động dạy học - giáo dục; năng lực vận dụng phương pháp,
phương tiện, hình thức tổ chức dạy học; năng lực xử lý tình huống
trong dạy học - giáo dục; năng lực tổ chức môi trường dạy học; năng
lực vận dụng nguyên tắc, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ
chức giáo dục; năng lực giáo dục qua dạy học các môn học.
- Nhóm năng lực đánh giá kết quả học tập và kết quả giáo dục
của người học gồm năng lực phân tích các phương pháp, công cụ
8
tra - đánh giá và phương pháp, hình thức tổ chức dạy học để đánh giá
năng lực của sinh viên
1.4.3.4 Công cụ đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp
cận năng lực
- Công cụ thu thập thông tin về năng lực của sinh viên là các
bài tập, nhiệm vụ, việc làm, bài kiểm tra, bài thi mà giảng viên đề ra
để sinh viên vận dụng các tri thức, kĩ năng của môn Giáo dục học
vào giải quyết, qua đó các năng lực của họ được bộc lộ, trong đó bài
tập thực hành là công cụ phổ biến và hữu hiệu hơn cả.
9
- Các công cụ có thể sử dụng để chấm điểm trong đánh giá
KQHT môn GDH theo tiếp cận năng lực là bảng kiểm tra, thang
đánh giá và rubric. Hiện nay, trong đánh giá theo tiếp cận năng lực,
người ta thường sử dụng rubric để chấm điểm vì rubric kết hợp giữa
các tiêu chí đánh giá và các chỉ báo chỉ mức độ thể hiện các năng lực
thành một công cụ đánh giá chi tiết, có thể xác định mức độ năng lực
cần đạt của sinh viên. Luận án sử dụng rubric phân tích để đánh giá
các mức năng lực của sinh viên trong quá trình dạy học môn GDH.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Đánh giá theo tiếp cận năng lực là một quan điểm đánh giá
phổ biến trên thế giới hiện nay do những ưu việt của nó là chú trọng
đến việc phát triển những năng lực thực của người học, tạo điều kiện
cho người học thâm nhập vào thực tiễn, gắn học đi đôi với hành.
Trong nhà trường sư phạm, việc hình thành cho sinh viên các
năng lực nghề nghiệp theo chuẩn đầu ra được thực hiện ở tất cả các
môn học và trong các hoạt động rèn luyện nghiệp vụ sư phạm, trong
đó môn Giáo dục học là một trong những môn học nghiệp vụ có vai
viên ĐHSP theo tiếp cận năng lực
- Đánh giá chung về thực trạng
2.1.3 Đối tượng, địa bàn khảo sát
Khảo sát 817 sinh viên và 40 GV giảng dạy Giáo dục học ở
các trường Đại học Sư phạm và đại học có đào tạo sư phạm có tính
đại diện ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam bao gồm: Đại học Sư phạm
Thái Nguyên, Đại học Sư phạm Hà Nội II, Đại học Sư phạm Hà Nội,
Đại học Hồng Đức (Thanh Hóa), Đại học Sư phạm Huế, Đại học
Quy Nhơn, Đại học Cần Thơ.
2.1.4 Phương pháp khảo sát
Trong quá trình khảo sát thực trạng, chúng tôi sử dụng phương
pháp điều tra bằng phiếu hỏi (với hai mẫu phiếu dành cho giảng viên
và sinh viên), phương pháp trò chuyện, phương pháp quan sát.
2.2 KẾT QUẢ KHẢO SÁT
2.2.1 Thực trạng đánh giá KQHT của sinh viên ĐHSP
Kết quả khảo sát của vấn đề này cho biết
- Hầu hết giảng viên và sinh viên đều có nhận thức đúng về tầm
quan trọng của việc đánh giá KQHT, chỉ có một số rất ít sinh viên có
nhận thức chưa đúng về vấn đề này. Giảng viên và sinh viên nhận thức
được tầm quan trọng của các mục đích đánh giá, trong đó giảng viên coi
trọng nhất mục đích đánh giá xác nhận kết quả của người học.
- Đa số giảng viên và sinh viên đã hiểu đúng về mối quan hệ
giữa đánh giá KQHT và quá trình dạy học. Đánh giá là một bộ phận
của quá trình dạy học và gắn kết với các khâu khác của QTDH. Đánh
giá có thể diễn ra trong mọi khâu của quá trình dạy học. Song vẫn
còn một bộ phận giảng viên và sinh viên chưa hiểu đúng về mối quan
hệ này. Nhận thức của giảng viên và sinh viên về các xu hướng đánh
giá KQHT chưa thật toàn diện và đầy đủ.
2.2.2 Thực trạng nhận thức về đánh giá KQHT môn Giáo
dục học của sinh viên ĐHSP theo tiếp cận năng lực
4,1
3,8
3,5
3,2
2,9
2,6
2,3
2
4,36
3,95
Nhớ KT,
KN
4,68
4,27
Hiểu KT,
KN
4,284,05
Vận dụng
KT, KN
3,6 3,53
Vận dụng
KT, KN
giá và tự đánh giá của sinh viên.
2.2.3.5 Thực trạng sử dụng công cụ chấm điểm trong đánh
giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực
Biểu đồ 2.3 Điểm trung bình ý kiến GV và SV về việc sử dụng
công cụ chấm điểm của GV
5
4
3
2
1
0
4,2
3,3 2,97
2,62,22
4,18
2,58 2,97
1,6 1,48
Rubric
Bảng
Thang
Thang
Thang
Qua biểu đồ 2.3 có thể thấy công cụ được giảng viên sử dụng
nhiều nhất khi chấm điểm KQHT môn Giáo dục học cho sinh viên là
thang điểm số (có mức điểm cao nhất 4,2).Việc sử dụng thang điểm số
được các năng lực” và “Có quy trình đánh giá KQHT môn GDH theo
tiếp cận năng lực rõ ràng” cũng là những yếu tố giảng viên thấy có
sự cần thiết cao.
2.2.4 Những khó khăn khi thực hiện đánh giá KQHT môn
Giáo dục học theo tiếp cận năng lực.
* Khó khăn của giảng viên
Khó khăn lớn nhất mà giảng viên gặp phải đó là “Khó xây
dựng tiêu chí và rubric đánh giá năng lực”, tiếp đó là “Khó xây dựng
được các nhiệm vụ đánh giá năng lực”, hoạt động đánh giá này
chiếm rất nhiều thời gian, và “Khó xác định quy trình đánh giá
KQHT môn GDH theo tiếp cận năng lực”...
* Khó khăn của sinh viên
14
Khi thực hiện đánh giá KQHT theo tiếp cận năng lực, khó
khăn mà sinh viên gặp phải nhiều nhất là “Chưa được hướng dẫn
cách thức tự đánh giá và đánh giá lẫn nhau”. Điều này cũng có nghĩa
khả năng tự đánh giá và đánh giá bài làm của bạn của sinh viên chưa
được tốt.
* Nguyên nhân của khó khăn
Nguyên nhân cơ bản dẫn đến những khó khăn của giảng viên là
họ còn thiếu hiểu biết về bản chất và cách thực hiện đánh giá KQHT
theo tiếp cận năng lực, do đó họ chưa vận dụng được vào trong công
việc của mình.
Khó khăn mà sinh viên gặp phải chủ yếu là do các nguyên
nhân khách quan là chưa được giảng viên hướng dẫn cách đánh giá,
tự đánh giá và chưa được cung cấp các tiêu chí cụ thể để đánh giá.
Về chương trình và cách thức tổ chức dạy học môn học: Hiện
thực hiện loại hình đánh giá này, còn sinh viên chưa được giảng viên
hướng dẫn cách đánh giá và tự đánh giá.
Kết quả khảo sát này là cơ sở để tác giả nghiên cứu đề ra các
biện pháp đánh giá KQHT môn GDH của sinh viên ĐHSP theo tiếp
cận năng lực thực hiện, nhằm khắc phục những tồn tại của thực trạng
trên, góp phần tích cực vào việc nâng cao hiệu quả của dạy học và
đánh giá KQHT môn GDH ở các trường ĐHSP hiện nay.
Chương 3
BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ KQHT MÔN GIÁO DỤC HỌC
CỦA SINH VIÊN ĐHSP THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM
3.1 ĐỊNH HƯỚNG VÀ NGUYÊN TẮC ĐỀ XUẤT BIỆN PHÁP
3.1.1 Định hướng đề xuất biện pháp
(1) Quan điểm đổi mới giáo dục và đào tạo ở Việt Nam hiện
nay; (2) Yêu cầu về đào tạo theo học chế tín chỉ ở đại học; (3) Mục
tiêu đào tạo ở các trường sư phạm
3.1.2 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp
(1) Nguyên tắc đảm bảo đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của
ngành sư phạm; (2) Nguyên tắc đảm bảo phù hợp với chương trình, nội
dung môn GDH; (3) Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả và khả thi
3.2 BIỆN PHÁP ĐÁNH GIÁ KQHT MÔN GIÁO DỤC HỌC
CỦA SINH VIÊN ĐHSP THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng, chúng tôi đề xuất
các biện pháp đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp cận năng
lực như sau:
3.2.1 Nhóm biện pháp 1. Thiết lập các điều kiện chuẩn bị
cho đánh giá KQHT môn GDH theo tiếp cận năng lực
3.2.1.1 Biện pháp 1: Xác định các mục tiêu về năng lực cần
đánh giá ở môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực
Để có thể tiến hành đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp
này thể hiện ở chỗ tất cả các bước trong quy trình đều hướng đến
đánh giá mục tiêu năng lực mà sinh viên đạt cần được trong quá trình
dạy học môn Giáo dục học.
3.2.1.3 Biện pháp 3: Xây dựng cách thức kết hợp các kết quả
đánh giá bộ phận môn Giáo dục học
Chúng tôi đề xuất cách kết hợp điểm đánh giá bộ phận của
môn GDH theo tiếp cận năng lực như sau: Điểm học phần môn Giáo
17
dục học được tính dựa vào tổng điểm các bài kiểm tra bộ phận bao
gồm: điểm kiểm tra thường xuyên gồm tối thiểu 3 điểm thành phần
với trọng số là 40%, điểm chuyên cần có trọng số 10% và điểm thi
kết thúc học phần có trọng số 50%. Hình thức của bài kiểm tra
thường xuyên phải đa dạng như: xêmina, thảo luận nhóm, làm bài
tiểu luận, bài tập dự án, thiết kế hoạt động dạy học hoặc giáo dục,
thuyết trình một vấn đề hoặc giảng bài, xử lí tình huống sư phạm
v.v... Điểm thi kết thúc học phần môn Giáo dục học là sự kết hợp
giữa bài thi tự luận do nhà trường tổ chức với một bài kiểm tra thực
hành được thực hiện trong quá trình dạy học để đánh giá chính xác
hơn các năng lực của sinh viên. Mỗi bài thi sẽ chiếm trọng số 25%
nhằm giảm bớt áp lực của kì thi kết thúc học phần.
3.2.2 Nhóm biện pháp 2. Xây dựng công cụ đánh giá
KQHT môn GDH theo tiếp cận năng lực
3.2.2.1 Biện pháp 4: Xây dựng bài tập thực hành đánh giá
KQHT môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực
Biện pháp này đưa ra cách thức xây dựng các bài tập, các tình
huống dạy học của môn Giáo dục học để sinh viên có thể vận dụng
tri thức, kĩ năng mà họ đã học giải quyết chúng, qua đó để biết được
- Lựa chọn kiểu loại rubric. Trong luận án, tác giả lựa chọn
kiểu rubric phân tích.
- Quyết định số lượng về mức độ thể hiện của các năng lực
- Đưa ra mô tả về các tiêu chí đánh giá ở mức độ cao nhất
- Đưa ra các mô tả về các tiêu chí ở các mức độ còn lại.
- Hoàn thiện bản hướng dẫn chấm điểm
3.2.2.2 Biện pháp 5: Xây dựng bài kiểm tra đánh giá kết thúc
học phần môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực
Việc xây dựng các câu hỏi và công cụ chấm điểm của bài thi
kết thúc học phần môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực cũng cần
được tiến hành như cách thức xây dựng các bài tập thực hành đã nêu
ở biện pháp 4. Tuy nhiên, vì bài thi có tính chất quan trọng hơn các
bài kiểm tra bình thường nên khi xây dựng bài thi kết thúc học phần
môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực cần chú ý: Bài thi phải tập
trung vào đánh giá những năng lực cốt lõi, trọng tâm của môn học;
Đối với bài thi tự luận, khi xây dựng câu hỏi cần chú ý đến thời gian
cần thiết để hoàn thành bài thi để từ đó thiết kế số câu trong bài và
độ khó của bài thi cho phù hợp; Cấu trúc đề thi tự luận phải cân đối
giữa các phần nội dung.
3.2.3 Nhóm biện pháp 3. Thực hiện đánh giá KQHT môn
GDH theo tiếp cận năng lực
3.2.3.1 Biện pháp 6. Sử dụng phối hợp các phương pháp,
hình thức kiểm tra đánh giá với các phương pháp, hình thức tổ
chức dạy học khác
Các bài tập thực hành môn Giáo dục học được thiết kế ở biện
pháp 4 có hình thức thể hiện bài tập rất đa dạng như thuyết trình, làm
việc nhóm, đóng vai, đi thực tế dự giờ ở trường phổ thông. Vì vậy,
sử dụng các bài tập thực hành đó để đánh giá năng lực của sinh viên
trong quá trình dạy học môn Giáo dục học phải gắn với sử dụng phối
hợp đa dạng các phương pháp, hình thức kiểm tra - đánh giá với các
- Thực nghiệm lần 2 (từ tháng 1/2015 đến tháng 5/2015).
Nhóm TN2 gồm 62 sinh viên; nhóm ĐC2 gồm 65 sinh viên
3.2.1.3 Nội dung thực nghiệm
Đối với nhóm thực nghiệm: Áp dụng các biện pháp đã xây dựng
vào việc thực hiện đánh giá KQHT môn GDH theo tiếp cận năng lực
Đối với nhóm đối chứng: Thực hiện việc đánh giá KQHT
môn Giáo dục theo cách thông thường, không có sự áp dụng các
biện pháp trên.
Hình thức thực nghiệm: Tiến hành thực nghiệm song song
giữa nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm.
3.2.1.4 Giới hạn thực nghiệm
Do hạn chế về điều kiện và thời gian của luận án, cũng như do
số lượng năng lực chung cũng như năng lực dạy học và giáo dục của
20
môn Giáo dục học rất lớn, nên trong giới hạn phạm vi đề tài, tác giả
chỉ thực nghiệm đánh giá một số năng lực cơ bản của sinh viên khi
học học môn Giáo dục học là: năng lực tư duy phê phán, năng lực
thiết kế hoạt động dạy học, năng lực vận dụng phương pháp, phương
tiện, HTTC dạy học, năng lực xử lí các tình huống giáo dục, năng lực
giao tiếp bằng ngôn ngữ nói, năng lực giao tiếp bằng ngôn ngữ viết.
3.2.1.5 Giả thuyết thực nghiệm
Nếu sử dụng các biện pháp đã xây dựng vào quá trình đánh giá
KQHT học tập môn Giáo dục học của sinh viên ĐHSP Hà Nội thì sẽ
đánh giá được mức độ thể hiện các năng lực đó của sinh viên, đồng
thời đảm bảo kết quả mà sinh viên đạt được mang tính ổn định.
3.2.1.6 Tiến trình thực nghiệm
Bước 1: Chuẩn bị thực nghiệm
mức khá. Như vậy điểm trung bình 6 năng lực sau thực nghiệm của
các nhóm TN1, TN2 cao hơn so với điểm trung bình các năng lực
của các nhóm ĐC1, ĐC2.
Kết quả thi hết môn GDH của nhóm TN và ĐC
Để đảm bảo tính khách quan của kết quả thực nghiệm, chúng
tôi phân tích điểm thi hết môn Giáo dục học của nhóm TN1 - ĐC1 và
TN2 - ĐC1, bởi vì điểm thi kết thúc môn Giáo dục học cũng phản
ánh phần nào các năng lực chung và năng lực thực hiện dạy học của
sinh viên.
Kết quả thu được cho thấy số sinh viên đạt điểm khá và giỏi (từ
7 điểm trở lên) của nhóm TN1 chiếm 72% và của nhóm TN2 là 40,3%
nhiều hơn số sinh viên đạt điểm đó của nhóm ĐC1 (54,2%) và nhóm
ĐC2 (32,3%). Ngược lại, số sinh viên đạt điểm yếu kém và điểm trung
bình (từ 1 đến 6,9) của nhóm TN1 là 28%, của nhóm TN2 là 59,7% ít
hơn so với số sinh viên nhóm ĐC1 (45,8%) và ĐC2 (67,7%). Điều này
cho thấy kết quả thực nghiệm đạt được là chính xác.
* Tính ổn định của kết quả đánh giá
Trong quá trình thực nghiệm, sinh viên của nhóm thực nghiệm
phải thực hiện nhiều bài kiểm tra thường xuyên hơn nhóm đối chứng.
Việc phải thực hiện nhiều bài tập thực hành khác nhau sẽ tạo cho sinh
viên đạt kết quả ổn định ở một mức nào đó.
Để xác định tính ổn định của kết quả đánh giá, chúng tôi tính
hệ số tương quan Pearson giữa điểm thi hết môn GDH với điểm các
bài kiểm tra thường xuyên của các nhóm TN1 - ĐC1 và TN2 - ĐC2.
Kết quả thu được như sau:
- Hệ số tương quan giữa điểm trung bình các bài kiểm tra
thường xuyên của nhóm TN1 với điểm thi học kì là r = 0.581 với hệ
số Sig. < 0.01; của nhóm TN2 là r = 0.509 với hệ số Sig. < 0.01. Kết
quả này cho biết có sự tương quan tuyến tính thuận chặt chẽ giữa các
điểm kiểm tra thường xuyên với điểm thi học kì của nhóm TN1 và
Ngoài ra, sinh viên cũng thấy được những lợi ích khi thực hiện
đánh giá KQHT môn Giáo dục học theo tiếp cận năng lực là: Họ nắm
vững kiến thức môn học hơn, vận dụng tri thức môn học một cách linh
hoạt để giải quyết những vấn đề khác nhau, gắn học đi đôi với hành.
Việc thực hiện các nhiệm vụ đánh giá giúp họ rèn luyện được các năng
lực chung và năng lực thực hiện dạy học cho bản thân, giúp họ đánh giá
chính xác các năng lực hơn và hình thành ở họ thói quen tự đánh giá.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, luận án đã đề xuất 3
nhóm biện pháp với 7 biện pháp cụ thể đánh giá KQHT môn Giáo dục
học của sinh viên ĐHSP theo tiếp cận năng lực. Qua quá trình hai lần
tiến hành thực nghiệm các biện pháp đã đề xuất để đánh giá KQHT môn
GDH theo tiếp cận năng lực, kết quả thu được đã chứng tỏ tính khả thi
của các biện pháp đã đề xuất, đảm bảo được mục tiêu đề ra và khả năng
ứng dụng của các biện pháp vào thực tiễn.
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận
23
1.1 Dạy học và đánh giá theo tiếp cận năng lực là một chủ
trương, yêu cầu của việc đổi mới toàn diện và sâu sắc giáo dục nước
ta. Môn Giáo dục học là môn học đặc thù trong đào tạo giáo viên, có
khả năng rất lớn trong việc hình thành, phát triển các năng lực nghề
nghiệp cho sinh viên sư phạm. Vì thế nghiên cứu đánh giá KQHT
môn Giáo dục học của sinh viên ĐHSP theo tiếp cận năng lực là hết
sức cần thiết giúp họ hình thành, phát triển năng lực nghề vững chắc
trong tương lai, từ đó nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên.
1.2 Qua nghiên cứu thực trạng có thể thấy: Giảng viên và sinh