Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ - Pdf 35

“Một số biện pháp nâng cao chất lượng bữa ăn và phòng chống suy dinh dưỡng cho
trẻ”

I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Chăm sóc nuôi dưỡng vệ sinh an toàn thực phẩm và bảo vệ sức khỏe cho trẻ
trong trường mầm non là việc hết sức quan trọng mà toàn đảng, toàn dân cần phải
quan tâm đến. Riêng đối với bậc học mầm non việc chăm sóc nuôi dưỡng và bảo
vệ sức khỏe của trẻ được đặt lên hàng đầu, vì mục tiêu giáo dục mầm non là hình
thành nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa giúp cho trẻ khỏe mạnh hồn nhiên
vui tươi phát triển cơ thể cân đối hài hòa. Nếu chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ không tốt
sẽ ảnh hưởng đến sức khỏe của trẻ, tỷ lệ suy dinh dưỡng cao ảnh hưởng đến trí tuệ
của trẻ. Do đó việc nuôi dưỡng và giáo dục dinh dưỡng và phòng chống suy dinh
dưỡng cho trẻ là hết sức cần thiết, chính vì vậy việc chăm sóc nuôi dưỡng và vệ
sinh an toàn thực phẩm cho trẻ là vô cùng quan trọng.
Việc nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ ở trường mầm non là vấn đề mà
giáo viên nuôi cần phải bàn. Thực hiện nhiệm vụ năm học 2012-2013 nâng cao
chất lượng nuôi dưỡng trẻ trong trường mầm non. Vậy tôi phải làm thế nào để
nâng cao chất lượng bữa ăn cho trẻ, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng cho trẻ trong nhà
trường. Vì vậy tôi chọn đề tài “Một số kinh nghiệm nâng cao chất lượng bữa ăn và
phòng chống suy dinh dưỡng cho trẻ” giúp trẻ phát triển cân đối, toàn diện. Nhằm
nâng cao chất lượng chăm sóc nuôi dưỡng-giáo dục của nhà trường ngày một đạt
hệu quả hơn.
Dinh dưỡng và sức khoẻ trẻ em là vấn đề đang được toàn xã hội quan tâm.
Chúng ta đều thấy rõ tầm quan trọng trong việc ăn uống hàng ngày của trẻ, đó là
nhu cầu thiết yếu không thể thiếu được trong đời sống hàng ngày của con người và
ăn uống là yếu tố quan trọng quyết định sự phát triển, hoạt động và học tập của trẻ.
Vậy cần phải ăn uống như thế nào để đảm bảo dinh dưỡng cân đối hài hoà giữa
chất và lượng. Giúp trẻ phát triển toàn diện, giảm tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em.
Ngoài việc ăn uống đủ chất, đủ lượng còn phải chú ý đến vấn đề vệ sinh an toàn
thực phẩm. Bởi việc đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cũng là vấn đề được nhiều
người quan tâm nhất là trong các trường mầm non. Vì trẻ còn nhỏ cơ thể trẻ còn

- Phương pháp tích lũy kinh nghiệm
PHẦN II: NỘI DUNG
I. NHỮNG CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI:
Như chúng ta đã biết sức khoẻ là vốn quý của con người. Ăn uống là cơ sở tạo
cho con người có một thể lực tốt. Ăn uống theo nhu cầu dinh dưỡng của cơ thể,
đảm bảo đủ về lượng và chất thì cơ thể mói phát triển một cách toàn diện được.
Dinh dưỡng là nhu cầu sức khoẻ của mỗi người, trẻ em cần dinh dưỡng để phát
triển thể lực, trí tuệ, người lớn cần dinh dưỡng để duy trì và phát huy sự sống để
làm việc cống hiến cho xã hội. Nếu trẻ không được nuôi dưỡng tốt sẽ chậm lớn, còi
cọc chậm phát triển về mọi mặt ngược lại nếu trẻ được nuôi dưỡng tốt sẽ mau lớn
khoẻ mạnh phát triển tốt về mọi mặt xứng đáng là chủ nhân tương lai của đất nước.
Nhờ sự phát triển của dinh dưỡng học mà người ta đã biết trong thức ăn có
chứa tất cả các thành phần dinh dưỡng cần thiết cho cơ thể đó là: Chất đạm, chất
béo, chất sơ, vitamin, muối khoáng... Nếu dư thừa hoặc thiếu hụt các chất dinh
dưỡng này trong cơ thể thì sẽ gây ra nhiều bệnh tật hoặc nguy hiểm hơn là có thể
dẫn tới tử vong nhất là đối với trẻ nhỏ, tốc độ phát triển thể lực, trí tuệ và tình cảm
cùng các mối quan hệ xã hội rất nhanh, nhanh đến mức mà người ta cho rằng sự
thành công của chúng ta quyết định sự thành đạt của đứa trẻ trong tương lai. Nhờ
áp dụng dinh dưỡng vào cuộc sống sức khoẻ mà khoa học đã khám phá ra tầm
quan trọng của dinh dưỡng trong đời sống sức khoẻ con người. Do đó mà chế độ
dinh dưỡng không hợp lý sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và sự phát triển toàn
diện của trẻ, việc đảm bảo chế độ ăn hàng ngày cho trẻ được an toàn, vệ sinh, dinh
dưỡng hợp lý cân đối các chất là rất quan trọng và cần thiết trong các bữa ăn của
trẻ. Để chế biến được những món ăn phong phú, thơm ngon, hấp dẫn, đạt tiêu
chuẩn về vệ sinh dinh dưỡng cho trẻ đòi hỏi cô nuôi phải luôn luôn tìm tòi, học
hỏi, khám phá ra những món ăn ngon mới lạ, hấp dẫn để chế biến cho trẻ ăn tại
trường. Phải tuyên truyền và phối kết hợp chặt chẽ với các bậc phụ huynh về công
tác chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng trẻ.
II. ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG:
1, Đặc điểm tình hình:

Bữa chính trưa
Canh rau muống tôm đồng.
Hai
Bữa chính chiều
Bún thịt lợn
Bữa phụ
Sữa đậu nành
Thịt gà, lợn om miếm nấm hương
Bữa chính trưa
Canh cua nấu mùng tơi, rau đay.
Ba
Bữa chính chiều
Xôi gấc
Bữa phụ
Chuối tây
Thịt lợn, cá sốt cà chua
Bữa chính trưa
Canh rau ngót thịt nạc

Bữa chính chiều
Phở thịt nạc
Bữa phụ
Bánh quy Marie
Thịt bò, lợn sào thập cẩm
Bữa chính trưa
Canh sườn nấu chua
Năm
Bữa chính chiều
Cháo sườn
Bữa phụ

(đ/100g) tiền
1 trẻ ĐV TV ĐV TV (g)
Phẩm
1
Thịt lợn400 7.000
28.000 40 64,47
84,3
3 chỉ
2
Nước 20
1.500
300 2
1,4
mắn
loại 1
3
Xương 200 4.000
8.000 20 15,4
11
Lợn
4
Gạo tẻ1.200 1.000
12.000 120
93,9
11,9 905,3
máy
5
Thịt gà 300 5.000
15.000 30 29,2
18,9

23,9
xanh
11 Bí xanh 1.000 800
8.000 100
4,4
17,5
12 Chuối 800 1.000
8.000 80
8,4
124,3
tiêu
Bột
20
5.500
1.100 2
5,4
0,4
13,4
nêm
Bột
20
1.500
2
canh
Động
44,8 55.2 55,3 44,7
vật/
Thực

Kcalo

Hùng Sơn 2
1.1. Bữa ăn phải đa dạng, thay đổi, hỗn hợp nhiều loại thực phẩm :
Trong mỗi bữa ăn của trẻ phải có đủ 4 nhóm thực phẩm, các loại thức ăn
trong mỗi nhóm cũng phải thay đổi từng bữa, từng ngày, từng món ăn cũng cần
hỗn hợp nhiều loại thực phẩm: ( Đạm "P", Mỡ "L", Đường "G", VTM và chất
khoáng) vì mỗi thực phẩm cung cấp một số chất dinh dưỡng, nếu hỗn hợp nhiều
loại thức ăn, ta có thêm nhiều chất dinh dưỡng và các chất bổ sung cho nhau ta sẽ
có một bữa ăn cân đối , đủ chất, giá trị sử dụng sẽ tăng lên.
1.2. Bữa ăn phải cân đối giữa năng lượng ăn vào và năng lượng tiêu hao:
Một khẩu phần ăn cân đối sẽ giúp cho cơ thể có đủ năng lượng và các chất
dinh dưỡng cần thiết cho sự phát triển, duy trì sự sống và làm việc, vui chơi giải
trí. Nếu ăn nhiều mà không hoạt động dẫn đến thừa năng lượng thì sẽ gây béo phì,
nếu để trẻ đói, ăn không đủ chất, đủ lượng , trẻ sẽ mệt mỏi, kém hoạt động và dẫn
đến bị suy dinh dưỡng.
1.3. Bữa ăn phải điều độ theo yêu cầu dinh dưỡng nếu ăn uống không có điều
độ, không hợp lý sẽ có những ảnh hưởng không tốt đến sức khỏe, muốn vậy
cần phải :
- Xây dựng thực đơn theo mùa, theo tuần.
- Tính khẩu phần ăn hàng ngày .
- Đảm bảo khoảng cách giữa các bữa ăn.
- Thực hiện tốt chế độ vệ sinh an toàn thực phẩm.
( Hình ảnh bữa ăn đảm bảo chế độ dinh dưỡng cho trẻ )
Để ®¸nh gi¸ khÈu phÇn ăn cho trẻ cần thực hiện đồng bộ các biện pháp như :
1.4. Nâng cao trình độ cho giáo viên nuôi nuôi :
- Cô giáo làm ở tổ nuôi dưỡng phải có chuyên môn nghiệp vụ mầm non, phải có kỹ
năng chế biến các món ăn cho trẻ mầm non thì khi chế biến các món ăn cho trẻ, cô
giáo mới thực hiện nghiêm túc thực đơn đã đề ra. Đảm bảo cho trẻ thường xuyên
được thay đổi món ăn giúp trẻ ăn ngon miệng, ăn hết xuất.
Giáo viên nuôi biết tính khẩu phần ăn cho trẻ để biết được lượng KCal cung
cấp cho trẻ trong ngày đạt bao nhiêu (%) so với nhu cầu cần đạt.KCal do các chất

1.6. Xây dựng khẩu phần ăn hợp lý của trẻ
Khi xây dựng khẩu phần ăn , điều quan trọng nhất của khẩu phần ănlà phải cân đối
về tỷ lệ các chất dinh dưỡng cần thiết theo nhu cầu cơ thể .
+ Cân đối về năng lượng : Năng lượng do 3chất chủ yếu là :Protêin , lipit .Gluxit
.Trong khẩu phần ăn tỉ lệ 3 này phải thích hợp .Nên có tỷ lệ là 1:1:5 .
+ Cân đối về Prôtêin : Xác định tỷ lệ % giửaPotein động vật và protein thực vật
tổng số để đánh giá mức cân đối .Thông thường Prôtein động vật ở trẻ em là 5060%.
+Cân đối về Lipit : Đối với trẻ em ,tỷ lệ Lipit động vật và thực vật là 50%/50%
mỗi loại .
+ Cân đối về gluxit: Gluxit là thành phần cung cấp năng lượng chủ yếu nhất
trong khẩu phần vì Gluxit có giá thành rẻ nhất đồng thời lại có số lượng nhiều nhất
.Trong các loại Gluxit còn chứa nhiều loại vitamin và khoáng chất do đó cần cho
trẻ ăn đủ và thường xuyên các loại ngũ cốc và rau quả .
+ Cân đối về vitamin :
Vitamin tham gia nhiều chức phận chuển hoá trao đổi chất quan trọng của cơ
thể .Vì vậy phải cung cấp đủ các vitamin .Nếu trong khẩu phần thiếu vitamin sẽ
làm rối loạn quá trình hấp thu các chất dinh dưỡng cũng như trao đổi chất của cơ
thể dẫn tới một số bệnh lý .


Trong khẩu phần cần nhiều tinh bột thì nhu cầu về vitamin nhóm B cũng cần
nhiều hơn .Nếu thiếu B1 sẽ ảnh hưởng tới hấp thu và trao đổi Gluxit .
+ Cân đối về chất khoáng : Các chất khoáng giữ vai trò cân bằng toan kiềm để duy
trì tính ổn định trong đó . các chất khoáng trong khẩu phần cần được chú ý , tỷ lệ
Ca/P trong khẩu phần hợp lý là 1,2/1 và có đủ vitamin D sẽ có lợi ích cho hấp thu
Ca,P và tạo xương .Các yếu tố ci lượng cũng có vai trò trao đổi chất cơ thể .
.Muốn có khẩu phần ăn cân đối cho trẻ cần phải phối hợp nhiều loại thực phẩm với
nhau và đảm bảo đủ lượng theo lứa tuổi .
1.7. Biện pháp 5 : Xây dựng khẩu phần
Để xây dựng khẩu phần ăn hợp lý cần đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định ,đồng

Muỗng, tô phải đủ so với trẻ.
- Khi ăn các cô giáo phải đeo khẩu trang, trong khi cho trẻ ăn cô cần chú ý
đến những trẻ biếng ăn để động viên cháu ăn hết suất.
- Thông qua giờ ăn các cô giáo dục cho trẻ phát triển về nhận thức, ngôn ngữ.


Ví dụ: Về nhận thức giúp trẻ nhận biết được những thức ăn như thịt, cá, trứng,
trẻ ăn sạch uống sạch
Về ngôn ngữ : Trẻ biế t kể tên cá c thự c phẩ m mà trẻ đượ c ăn như: Thị t, cá ,
trứ ng….
- Thông qua các môn học lồng ghép và giáo dục dinh dưỡng ví dụ cho trẻ đi
tham quan vườn trường. Các cô giới thiệu cho trẻ biết lợi ích của từng loại cây ăn
quả.
- Thông qua giờ ăn, các cô giáo giới thiệu cho trẻ biết hôm nay có những món
gì.
Ví dụ: Ăn thịt thì trẻ biết được thịt cung cấp cho cơ thế chất gì?
- Kiểm tra sức khỏe cho trẻ, để bổ sung chế độ ăn cho trẻ suy dinh dưỡng.
Nhà trường đã rèn cho trẻ thói quen tự chăm sóc bản thân bằng cách tự tuyên
truyền trong bữa ăn.
Ví dụ: Hôm nay lớp mình ăn cơm với những thức ăn nào? Ngon không? Bạn
nào ăn giỏi? Từ những biện pháp nhỏ này đã giúp trẻ cố gắng ăn hết suất.
- Lồng giáo dục dinh dưỡng qua các hoạt động:
Chúng tôi lên kế hoạch cho các giáo viên đưa giáo dục dinh dưỡng vào các
hoạt động, đây là vấn đề quan trọng bởi trẻ thường xuyên được chơi mà học.
Ví dụ: Hoạt động làm quen với chữ cái gây hứng thú cho trẻ giáo viên có thể
đọc đồng dao, hò, vè về các loaị rau, quả ở chủ đề thế giới thực vật.
Giáo viên có thể lồng ghép giáo dục dinh dưỡng:
Ví dụ: Trong giờ đón – trả trẻ là thời gian thuận lợi trong việc tuyên truyền,
giáo dục dinh dưỡng cho trẻ, cho phụ huynh đặc biệt là trẻ. Bằng hình thức các cô
hỏi thăm các phụ huynh về chế độ ăn uống hàng ngày của trẻ ở nhà, hỏi trẻ ở nhà

đã giảm đi đáng kể, trẻ phát triển cân đối, hài hòa, hoạt bát, tích cực vào các hoạt
động của lớp và các hoạt động hàng ngày.
Tỷ lệ
Tỷ lệ
Đầu năm
Cuối năm học
%
%
Số trẻ cân nặng bình
212/280
75,71
268/208
95,71
thường
Số trẻ suy dinh dưỡng
25
8,92
11
56
vừa
Số trẻ suy dinh dưỡng
2
0,71
Xóa
100
nặng
Số trẻ thấp còi độ 1
28
10
17

học là hêt sức quan trọng và cần thiết trong đó việc nuôi dưỡng trẻ theo khoa học
được
coi trọng ảnh hưởng tới sự phát triển toàn diện của trẻ vì vậy mà việc tổ chức
cho trẻ ăn bán trú tại trường là vô cùng cần thiết và bữa chính chiều cũng hết sức
quan trọng không thể thiếu trong thực đơn hàng ngày của trẻ vì nó bổ xung nguồn
dinh dưỡng và cung cấp thêm năng lượng cho trẻ trong ngày giúp trẻ có đủ dưỡng
chất cần thiết cho mọi hoạt động và sự phát triển của trẻ, giúp giảm tỷ lệ suy dinh
dưỡng. Bởi vậy mà việc cải thiện chế biến nâng cao chất lượng bữa ăn chính chiều
cho trẻ là hết sức cần thiết.
2. Một số đề xuất:
Phòng giáo dục thường xuyên mở lớp tập huấn cho các cô nuôi cũng như
giáo viên học hỏi thêm về công tác chăm sóc nuôi dưỡng trẻ.
Cần cung cấp thêm cho các cô nuôi các tài liệu về cách chế biến các món
ăn cho trẻ mầm non.
Có kế hoạch tổ chức cho giáo viên nuôi được học tập chuyên ngành nấu ăn.
Tổ chức cho các cô nuôi đi thăm quan các đơn vị làm tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng trẻ.
Tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của ban lãnh đạo bổ xung cho đề
tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn !




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status