QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030 - Pdf 35

QUY HOẠCH VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG
ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030
________________

PHẦN I

MỞ ĐẦU VÀ CÁC CĂN CỨ PHÁP LÝ

I. MỞ ĐẦU:

Hơn 25 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, ngành thủy sản Việt Nam
nói chung và thủy sản An Giang nói riêng đã có sự phát triển vượt bậc là một trong
những ngành kinh tế mũi nhọn có tốc độ tăng trưởng nhanh, đóng góp vào phát triển
kinh tế và an sinh xã hội của tỉnh.
Đặc biệt hơn 10 năm qua, trong quá trình hiện đại hóa, kiên trì chuyển dịch cơ
cấu kinh tế trong nông nghiệp, An Giang lại tiếp tục giành thêm thắng lợi lớn đó là
phát triển vượt bậc trong thủy sản nói chung, đặc biệt sản xuất, chế biến và xuất khẩu
cá tra. Từ chăn nuôi nhỏ lẽ ở một số địa phương đến nay mở rộng toàn tỉnh, từ sự có
mặt ở một ít thị trường trong nước đến xuất khẩu trên thế giới, đến nay trở thành
thương hiệu “cá tra Việt Nam” luôn được yêu chuộng ở hầu hết các Châu lục.
Từ nhiều năm qua thủy sản An Giang là một trong những tỉnh dẫn đầu cả nước
về sản lượng và kim ngạch xuất khẩu thủy sản, nhất là cá tra. Do đó, để thủy sản phát
triển đúng định hướng và yêu cầu đặt ra, UBND tỉnh đã ban hành nhiều chủ trương
chính sách, trong đó có Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 và định
hướng đến năm 2020 và Điều chỉnh, bổ sung Quy hoạch phát triển nuôi trồng thủy
sản tỉnh An Giang đến năm 2010.
Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh, bước đầu có hiệu quả, ngành thủy sản
đang vấp phải những khó khăn, thách thức lớn. Đó là đòi hỏi sự bền vững của môi
trường sinh thái và nguồn lợi tự nhiên, sự bền vững của các vấn đề kinh tế - xã hội và
các cạnh tranh gay gắt trên thị trường xuất khẩu thủy sản.

điều kiện kinh doanh các ngành nghề thủy sản.
- Quyết định 801/QĐ-TTg, ngày 27/6/2012 của Thủ tướng Chính Phủ về việc
phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội tỉnh An Giang đến năm
2030.
- Quyết định số 1445/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 16/8/2013 về
việc phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển thủy sản Việt Nam đến năm 2020, tầm
nhìn đến năm 2030.
- Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ IX, nhiệm kỳ
2010-2015;
- Nghị quyết 09-NQ/TU của BCH Đảng bộ tỉnh AG ngày 27/6/2012 về phát
triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang giai đoạn 2012 – 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030.
- Thông báo số 427/TB-UBND ngày 04/9/2012 Thông báo kết luận của Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh tại Hội nghị triển khai Nghị quyết 09-NQ/TU ngày
27/6/2012 của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh về phát triển nông nghiệp ứng dụng công
nghệ cao.
- Thông báo số 314/TB-UBND ngày 27/01/2014 Thông báo kết luận của Phó
Chủ tịch Ủy ban nhân tỉnh tại cuộc họp bàn về danh mục một số sản phẩm hàng hóa
nông nghiệp công nghệ cao và xử lý vướng mắc còn tồn đọng trong Chương trình
phát triển sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.
2


- Quyết định số 396/QĐ-UBND ngày 01/3/2013 của UBND tỉnh về việc Ban
hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang từ nay
đến năm 2015.
- Quyết định số 2163/QĐ-UBND ngày 29/11/2012 của UBND tỉnh về việc
Ban hành Kế hoạch phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh An Giang
giai đoạn 2012 – 2020 và tầm nhìn đến năm 2030.


nước An Giang, hết sức thuận lợi cho nghề nuôi trồng và khai thác thủy sản phát
triển.
2. Khí hậu - Thủy văn:
2.1. Khí hậu:
4


- Chế độ nhiệt:
Nhiệt độ trung bình các tháng trong năm dao động từ 26,15oC - 28,6oC, nhiệt
độ trung bình cao nhất vào tháng 4 là 28,6oC, tháng 5 là 28,5oC, tháng 9 là 28oC.
Nhiệt độ thay đổi trong năm gần như theo quy luật tháng 4, tháng 5, tháng 9 là các
tháng có nhiệt độ cao nhất trong năm. Nhiệt độ thấp nhất là vào các tháng 11 đến
tháng 2 (26,15oC - 26,4oC). Nhìn chung tỉnh An Giang, có nền nhiệt cao và ổn định
với nhiệt độ trung bình năm là 27oC khu vực đồi núi thường có nhiệt độ bình quân thấp
hơn so với khu vực đồng bằng 2oC, tổng tích ôn trên 10.000oC. Nhiệt độ trong đất và
trong nước ở An Giang tuy có biến động song không lớn ở cả môi trường nước và đất
là những điều kiện vô cùng thuận lợi cho phát triển nuôi trồng thủy sản.
- Chế độ mưa:
An Giang có đặc trưng khí hậu nhiệt đới gió mùa với hai mùa rõ rệt: mùa mưa (từ
tháng 5 đến tháng 11), lượng mưa nhiều và phân bổ theo mùa, lượng mưa hàng năm bình
quân từ 1.500 mm - 1.600 mm/năm, cao nhất đạt 2.100 mm/năm và thấp nhất là 900
mm/năm và mùa khô (từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau). Mùa mưa góp một lượng nước
lớn chảy tràn vào đồng ruộng, vùng trũng nội địa, làm tăng diện tích nước mặt, đồng
thời cũng chính nguồn nước mát ngọt trong các thủy vực đó là môi trường thuận lợi
để cá, tôm có điều kiện sinh sôi phát triển. Ngoài ra, đây chính là một đặc điểm sinh
thái rất có lợi cho việc bố trí nuôi sinh thái xen canh một vụ lúa một vụ tôm vừa đảm
bảo tính bền vững giảm nguy cơ dịch bệnh và vừa đảm bảo sản lượng lương thực.

- Chế độ gió:
An Giang có chế độ gió khá thuần nhất do địa hình bằng phẳng và xa biển, từ

kinh phí đầu tư lớn, nhu cầu phải có diện tích rộng để xây dựng ao lắng, ao xử lý, vì
vậy chỉ thích hợp ứng dụng đối với mô hình nuôi có quy mô lớn, vùng nuôi thuộc các
doanh nghiệp chế biến thủy sản xuất khẩu, vùng nuôi có quy mô trên 10 ha. Một số
khó khăn nữa là nhiều hộ nuôi không còn quỹ đất trống để làm ao xử thải (tỉ lệ diện
tích đất dành cho xử lý nước thải từ 15 - 25% tổng diện tích). Mặc khác, công nghệ,
thiết bị xử lý nước thải đạt hiệu quả thì chi phí đầu tư lớn, tăng giá thành sản phẩm
đây cũng là một trong những trở ngại lớn trong việc xử lý ô nhiễm môi trường nước,
nhất là nước thải trong nuôi trồng thủy sản.
II. CÁC NGUỒN TÀI NGUYÊN:

1. Tài nguyên đất:
Theo tài liệu chỉnh lý bản đồ đất tỉnh An Giang năm 2006, tài nguyên đất tỉnh
gồm những loại sau:
- Nhóm đất than bùn: phân bố ở huyện Tri Tôn, diện tích 984,04 ha, chiếm
0,28% diện tích tự nhiên. Thành phần chính của nhóm đất này gồm sét và lưu huỳnh,
lượng hữu cơ trong đất rất cao, rất chua, phèn nghèo chất dinh dưỡng. Loại đất này
không thích hợp đối với canh tác, thích hợp với trồng tràm.
- Nhóm đất cát núi: phân bố tập trung ở các triền núi thuộc thành phố Châu
Đốc và các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên, diện tích 22.675,02 ha, chiếm 6,41% diện tích
tự nhiên. Loại đất này rất dễ rửa trôi và nghèo dinh dưỡng không thích hợp canh tác
lúa, rau màu. Ở khu vực đỉnh núi của các khối núi lớn như núi Cấm, núi Cô Tô, núi
Dài có thể trồng cây dược liệu, cây ăn trá ưa lạnh, su su,... nơi các sườn.
- Nhóm đất phù sa cổ: phân bố chủ yếu ở huyện Tịnh Biên, Tri Tôn (vùng tiếp
giáp với biên giới Vương quốc Campuchia và tỉnh Kiên Giang), diện tích 14.617,72
ha, chiếm 4,13% diện tích tự nhiên, thành phần cơ giới xốp, mềm. Đây là nhóm đất
có khả năng sản xuất nông nghiệp như luân canh 2-3 vụ lúa – màu; nuôi trồng thủy
sản (lúa – cá).
6



phân bố chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú, Châu Thành, Chợ Mới
và được phân thành 2 loại như sau:
* Đất phèn hoạt động nông: xuất hiện chủ yếu ở Tịnh Biên và Tri Tôn và một
ít ở Châu Phú. Loại đất này có độ phì tự nhiên tư trung bình đến khá, thành phần cơ
giới từ trung bình đến nặng, tỷ lệ sét cao (41-55%), hàm lượng cát mịn (21,2-38%),
7


đất dễ bị dính dẻo khi ướt, cứng và nứt nẻ thành rảnh khi khô. Loại đất này không
thích hợp sản xuất nông nghiệp, có thể trồng một số giống lúa chịu phèn trong vụ
mùa, mùa khô có thể lên líp trồng khoai. Hướng sử dụng thích hợp đối với loại đất
này là trồng lúa 1 vụ hoặc 2 vụ với các giống lúa chịu phèn và các loại rau màu thích
hợp khác và có thể kết hợp nuôi cá.
* Đất phèn hoạt động sâu: xuất hiện ở hầu hết các huyện trong tỉnh, trừ huyện
An Phú, trong đó tập trung chủ yếu ở Tri Tôn, Tịnh Biên, Thoại Sơn, Châu Phú,
Châu Thành và Chợ Mới. Loại đất này nghèo chất dinh dưỡng, tỷ lệ các chất dinh
dưỡng không cân đối và nhiều biến động. Đây là loại đất hạn chế đối với sản xuất
nông nghiệp, có thể trồng lúa 1 – 2 vụ nhưng năng suất không cao, có thể trồng hoa
màu vào mùa khô. Tuy nhiên, trong điều kiện cần thiết thì có thể thâm canh tăng vụ
do có thuận lợi gần nguồn nước ngọt.
- Nhóm đất phù sa bồi: tập trung chủ yếu ven theo sông Tiền và sông Hậu, có
diện tích 30.793,17 ha (chiếm 8,71% tổng diện tích đất toàn tỉnh), phân bố ở các
huyện An Phú, Tân Châu, Phú Tân, thành phố Châu Đốc, Châu Phú, và xã Mỹ Hòa
Hưng của TP. Long Xuyên. Đất có thành phần sét khá cao so với các biểu loại đất
ven sông khác, dưới tầng canh tác thường xuất hiện một tầng tích tụ sét, có khả năng
trao đổi cation bằng hoặc hơn 24 cmol(+) kg - 1 sét trong suốt và độ bão hòa base
(bởi NH4OAc) bằng hoặc lớn hơn 50% trong suốt tầng B đến độ sâu 125 cm. Hàm
lượng dinh dưỡng không cao lắm, nhưng tiềm năng đất còn rất tốt phục vụ cho sản
xuất nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản.
Tóm lại: tài nguyên đất tỉnh An Giang có chất lượng khá cao, độ phì trung

3.2. Tôn giáo:80% dân số theo đạo Phật giáo Hòa Hảo, số còn lại theo đạo
Phật, đạo Thiên Chúa, đạo Cao Ðài, đạo Tứ Ân Hiếu Nghĩa, không đạo.
3.3. Văn hóa:
- Lao động từ 15 tuổi trở lên tập trung ở nông thôn chiếm 80,5% trong tổng số
laođộng của tỉnh An Giang. Trong đó, tỉ lệ lao động ở khu vực nông thôn không biết
chữ chiếm 11,08%, chưa tốt nghiệp cấp I chiếm 42,47%, tốt nghiệp cấp III chiếm
3,53%.
- Lao động ở khu vực nông thôn có chuyên môn kỹ thuật chiếm 5,37%, từ sơ
cấp học nghề trở lên chiếm 8,06%, không có chuyên môn kỹ thuật chiếm 91,94%
trong tổng số 743.763 lao động.
- Trình độ văn hóa của lực lượng lao động tỉnh An Giang là rất thấp, đây là
một trong những bất lợi đối với phát triển kinh tế của tỉnh.(nguồn: Cục Thống kê)

PHẦN III
THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
GIAI ÐOẠN 2002 – 2013
9


I. HIỆN TRẠNG VỀ KHU HỆ THỦY SẢN:
1. Khu hệ cá (Fish fauna):
Có khoảng 140 loài cá, xuất hiện trên địa bàn tỉnh An Giang, số lượng loài
xuất hiện thay đổi theo từng mùa trong năm (số lượng loài cá xuất hiện ở tỉnh An
Giang cần được nghiên cứu chi tiết thêm). Với các họ xuất hiện có ưu thế là
Cyprinidae, Pangasiidae, Bagridae, Cobitidae, Gobiidae, Siluridae. Số loài cá xuất
hiện phong phú vào mùa lũ, mùa khô số lượng loài xuất hiện giảm đi, đây cũng là
một đặc trưng của vùng.
Có hai loài cá du nhập vào Việt Nam là cá lau kiếng (Hypostomus punctatus),
cá chim trắng (Colossoma brachypomum) đây là hai loại cá có xuất xứ từ Nam Mỹ,
có khả năng thích nghi cao, khả năng cạnh tranh bắt mồi vượt trội so với các loài cá

Didymops sp (Isecta), Dero dosalis (Oligochaeta)
Ðộng thực vật phù du, động vật đáy ở tỉnh An Giang rất đa dạng và phong
phú. Chúng là loại thức ăn tốt cho cá. Bên cạnh đó, có một số loại tảo độc đối với cá,
một số loài động vật phù du gây bệnh cho cá, một số loài động vật đáy làm ô nhiễm
đáy.
3. Ðánh giá chung về khu hệ thủy sản:
Khu hệ thủy sản của tỉnh An Giang đa dạng và phong phú, rất thích hợp cho
phát triển trong nuôi trồng thủy sản. Ðây là một ưu thế nổi trội của vùng, song để tận
dụng có hiệu quả và bền vững khu hệ thủy sản cần phải có sự quan tâm và đầu tư
đúng, hợp lý về nghiên cứu chuyên sâu, bảo tồn, nuôi trồng, khai thác.
Ðặc biệt đối với các giống loài không phải là giống loài bản địa của khu vực
đồng bằng sông Cửu Long, trước khi nhập giống vào cần phải khảo nghiệm và
nghiên cứu kỹ, tránh phá vỡ khu hệ thủy sản của vùng, vì khu hệ thủy sản nước ngọt
đồng bằng sông Cửu Long đa dạng và phong phú nhất ở Việt Nam.

11


II. TÌNH HÌNH NUÔI TRỒNG THỦY SẢN GIAI ĐOẠN 2002 - 2013:
Bảng 1: Tổng hợp tình hình nuôi trồng thủy sản giai đoạn 2002 – 2013

Chỉ tiêu

2002

2003

2004

2005

3,038

2,777

2,506

2,415

1924.5

2.618,50

2.496,38

Trong đó: cá tra (ha)

679,4

860.9

731.4

770.3

785.7

1394

1185


295000

339323

327200

Trong đó: cá tra (ha)

111157

150120

131652

145510

145421

216526

268091

242507

231071

267990

245690


23200

26913

44000

54982

95400

125710

190300

130423

151652

144080

145592

170626

Kim ngạch XK (1000
USD)

66600

59570


600

650

600

550

491

390

320

238

Sản lượng (tấn)

305

459

651

698

815

1060


2,03

2,63

2,25

1,49

(Nguồn: Cục Thống kê An Giang)

12


1. Diện tích nuôi:
Theo Quyết định số 859/QĐ-UBND ngày 27/04/2006 của UBND tỉnh An
Giang về việc phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm
2010 và định hướng đến năm 2020 và Quyết định số 3354/QĐ-UBND ngày
12/12/2007 của UBND tỉnh An Giang về việc phê duyệt điều chỉnh bổ sung Quy
hoạch phát triển ngành thủy sản đến năm 2010 cho thấy:
Tính đến năm 2013, diện tích nuôi trồng thủy sản theo các Quy hoạch nêu trên
thực tế có 4 huyện đạt < 50 %, cá biệt huyện An Phú chỉ đạt khoản 15%; 06 huyện
đạt từ 50-76%, chỉ có Thoại Sơn đạt quy hoạch đã đề ra. Tuy nhiên, nhìn chung công
tác quy hoạch thủy sản trong thời gian qua mặc dù chưa đạt được yêu cầu nhưng đã
thành công trong các mục tiêu định tính như: đã định vị được vùng nuôi trồng thủy
sản, từng bước hình thành các vùng sản xuất hàng hóa lớn, phát triển nuôi trồng theo
phương thức công nghiệp, thu hút được nhiều doanh nghiệp vào đầu tư phát triển
ngành hàng và đã tạo được niềm tin, an tâm sản xuất; bước đầu quan tâm đến các vấn
đề xử lý nước thải trong nuôi trồng thủy sản, bảo vệ môi trường sinh thái,…
Bảng: Tổng hợp so sánh diện tích nuôi trồng thủy sản theo quy hoạch

4.621

52,3

54

Long Xuyên

236

268

170

545

49,2

31,2

Châu Đốc

64

33

45

218


76,9

Phú Tân

329

227

271

522

43,5

51,9

Châu Phú

470

404

538

918

44,0

58,6



42

115

36,5

36,5

Châu Thành

227

253

327

482

52,5

67,8

Chợ Mới

367

303

324

rô đồng, cá thát lát, cá trê phi, cá trê lai, cá mè vinh, cá chép, cá chim trắng, cá mè, cá
hường.
Trong giai đoạn này đối tượng nuôi xuất khẩu chủ lực là: cá tra được nuôi ao,
các đối tượng khác được nuôi trong ao và lồng bè chủ yếu tiêu thụ nội địa. Một số đối
tượng nuôi chính từ năm 2002 đến nay như sau:
* Đối với cá tra, cá basa:
Đây là một trong những đối tượng nuôi chủ lực trong phát triển nuôi trồng
thủy sản của tỉnh, diện tích và sản lượng nuôi cá tra tăng dần hàng năm, đỉnh điểm
diện tích đạt gần 1.400 ha với sản lượng đạt khoảng 270 ngàn tấn vào năm 2007. Từ
năm 2008 đến nay diện tích nuôi cá tra, basa liên tục giảm và đến cuối năm 2013 chỉ
còn khoảng 800 ha, nguyên nhân chủ yếu do giá cả không ổn định,… người nuôi
không có lãi nên người nuôi thu hẹp dần diện tích. Phần lớn diện tích nuôi cá tra hiện
nay do doanh nghiệp đầu tư theo quy trình khép kính từ nuôi đến chế biến và xuất
khẩu.
Một số địa phương có diện tích nuôi cá tra lớn của tỉnh là huyện Chợ Mới
(chiếm 31% tổng diện tích), Châu Phú (20%), Thoại Sơn (15%), Châu Thành (11%),
Phú Tân (8%) và Tp. Long Xuyên (6%). Cá tra được nuôi với nhiều loại hình khác
nhau như nuôi ao, nuôi cồn – bãi bồi, nuôi đăng quầng, lồng bè. Những năm gần đây
ngư dân chủ yếu nuôi theo hình thức thâm canh trong các ao, hầm. (1) Nuôi trong ao:
là hình thức nuôi chủ yếu hiện nay, những hộ nuôi qui mô nhỏ tận dụng ao, mương
vườn sẵn có; những hộ nuôi qui mô lớn có vị trí ao nuôi gần các sông rạch để thuận
tiện cho việc cấp thoát nước, vận chuyển hàng hóa và tiêu thụ sản phẩm. (2) Nuôi
trên cồn, bãi bồi: hình thức nuôi này mới được áp dụng trong vài năm gần đây và có
xu hướng phát triển mạnh vì có thể thả mật độ cao để tăng năng suất và tăng sản
14


lượng; nguồn nước cung cấp thuận lợi, thu hoạch và vận chuyển dễ dàng. (3) Nuôi
đăng quầng: tập trung ở các sông nhánh có tốc độ dòng chảy thấp, hoặc nằm khuất
trong các khúc co dọc theo sông Tiền và sông Hậu. (4) Nuôi trong lồng bè: nuôi trong

Vùng nuôi phân bố rải rác dọc theo các tuyến kinh cấp I và cấp II và tập trung nhiều
nhất ở các huyện Châu Thành, Châu Phú, An Phú, Tân Châu, Phú Tân, chủ yếu là cá
rô phi. Sản lượng nuôi cá rô, rô phi năm 2003 là 925 tấn đến năm 2013 sản lượng đạt
15


khoảng 1415 tấn, trong đó: lồng bè: 857 tấn. Trong những năm gần đây, nhờ nghiên
cứu, hoàn chỉnh quy trình sản xuất giống cá đơn tính toàn đực và nuôi thương phẩm
cá rô phi Novit-4, giúp nâng cao năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế cho nghề
nuôi thương phẩm của tỉnh. Tuy nhiên, năng suất nuôi bình quân hiện nay vẫn còn rất
thấp và nghề nuôi còn nhiều bất ổn. Do đó, để phát triển nghề nuôi cá rô, rô phi một
cách có hiệu quả và bền vững, cần giải quyết tốt vấn đề thị trường tiêu thụ và tiếp tục
chọn tạo con giống có chất lượng cao và cải tiến quy trình nuôi để tăng năng suất, hạ
giá thành, tăng tính cạnh tranh.
* Lươn:
Trong những năm qua, lươn chủ yếu được nuôi trong bể lót bạt, tập trung ở các
huyện: Thoại Sơn, Châu Thành, Tân Châu, Châu Phú, sản lượng nuôi lươn năm 2011
là 478 tấn; năm 2012 là 1.031 tấn, năm 2013 là 1.740 tấn. Tuy nhiên, thời gian gần
đây đã thử nghiệm thành công mô hình nuôi Lươn đồng với mật độ cao trong bồn, bể
xi măng với dạt tre, với năng suất cao 60-70kg/m2, kiểm soát được các yếu tố về môi
trường nước, ít tốn kém diện tích rất phù hợp với mọi người nuôi tùy vào điều kiện
kinh tế của mỗi gia đình. Tuy nhiên, khó khăn hiện nay do nguồn lươn giống phụ
thuộc hoàn toàn vào tự nhiên, tỷ lệ hao hụt cao,… trong khi đó nguồn giống từ sinh
sản nhân tạo lại ít, chi phí cao, xem đây là một thách thức cho ngành, cũng như các
Viện, Trường để tạo ra nguồn giống chất lượng cao với giá thành hợp lý phục vụ cho
người nuôi trong thời gian tới.
Ngoài ra, còn có một số đối tượng khác như: cá thát lát, cá điêu hồng, cá hô,
… hiện đang nuôi trên địa bàn tỉnh.
3. Giống thủy sản:
2.1. Giống bản địa:

hậu, hầu hết chất lượng con giống ở các trại sản xuất tư nhân có chất lượng không
cao dẫn đến hao hụt nhiều trong quá trình nuôi. Trại giống có qui mô lớn trực thuộc
Nhà nước là Trung tâm Giống Thủy sản An Giang.
4. Mô hình nuôi thủy sản:
3.1. Nuôi ao:
Ðối tượng nuôi chính là cá tra, cá lóc, cá rô, tôm càng xanh, rô phi, cá trê, cá thát
lát. Hiện nay, người nuôi cá đang tận dụng đất bãi bồi, đất dọc theo bờ sông Tiền,
sông Hậu đào ao nuôi cá có hiệu quả kinh tế cao, chất lượng cá tốt. Song phần lớn
không có hệ thống xử lý nước thải (ao lắng, xử lý nước bằng hóa chất,…) trước khi
thải ra sông, điều này cũng báo động trong một vài năm tới việc ô nhiễm chất lượng
nước mặt đối với sông Tiền, sông Hậu là điều không thể tránh khỏi. Do đó, cần xúc
tiến nhanh các biện pháp, giải pháp xử lý ô nhiễm môi trường trong nuôi trồng thủy
sản nói riêng và nuôi cá tra nói chung là hết sức cần thiết và cấp bách trong thời gian
tới.
3.2. Nuôi lồng, bè:
Ðối tượng nuôi chính: hú, he, rô phi, cá lóc bông, chim trắng, điêu hồng,…
Trước năm 2002, loại hình nuôi bè phát triển chủ yếu một số đối tượng nuôi
phục vụ tiêu thụ nội địa, một số ít là xuất khẩu (cá tra, cá basa). Tuy nhiên, từ năm
2003 đến nay, số lượng lồng bè nuôi cá của tỉnh tăng mạnh trong giai đoạn 20042007, từ năm 2008 đến nay, số lượng lồng bè giảm dần chủ yếu nuôi các đối tượng
phục vụ cho tiêu thụ nội địa.
Khu vực tập trung nhiều bè nhất (về số lượng lồng bè, thể tích nuôi) là khu vực
ngã ba sông Châu Ðốc nơi giáp ranh của các huyện An Phú (xã Ða Phước), Châu
Ðốc (Vĩnh Ngươn, Vĩnh Mỹ), Tân Châu (xã Châu Phong), Phú Tân (xã Mỹ Hiệp).
Các khu vực bè tập trung khác (ít hơn so với khu vực trên) là Đoạn sông Hậu
thuộc huyện Châu Phú (xã Khánh Hòa, Mỹ Thuận - Mỹ Phú), Ðoạn sông Kênh Xáng
17


thuộc huyện Tân Châu (xã Long An, Tân An), Ðoạn sông Cái Vừng thuộc huyện Phú
Tân (thuộc xã Long Sơn, Long Hòa, Phú Lâm, Phú Thạnh), Đoạn sông Hậu thuộc xã

lồng bè) ngày càng giảm dần, trong những năm gần đầy hầu hết hộ nuôi cá sử dụng
thức ăn công nghiệp với tỉ lệ > 95% thức ăn công nghiệp và < 5% thức ăn tự chế.
b) Thức ăn công nghiệp:
Hiện tại có các loại thức ăn viên là Cargill (Mỹ), Proconco (Pháp), Cataco (Việt
Nam), Ocialis (Pháp), Uni-President (Ðài Loan), Mỹ Trường, AFIEX, CP (Thái
Lan)....
18


8. Phòng và trị bệnh, kỹ thuật nuôi:
7.1. Phòng và trị bệnh:
Hiện nay, trong quá trình nuôi thủy sản (cá, tôm) xuất hiện nhiều loại bệnh gây
suy yếu sức khỏe của cá và dẫn đến cá chết dần dần, đôi khi chết hàng loạt gây tổn
thất lớn về kinh tế cho người nuôi thủy sản.
Các loại bệnh cá thường gặp là :
- Bệnh do vi khuẩn: Bệnh gan thận mủ, Bệnh đốm trắng, bệnh nhiễm trùng
huyết, bệnh lở loét, bệnh đốm đỏ, bệnh mù mắt hay nổ mắt, bệnh nhiễm vi khuẩn.
- Bệnh ký sinh trùng: Bệnh trùng bánh xe, bệnh trùng quả dưa, bệnh sán lá gan
(bệnh gạo cá), bệnh sán lá đơn chủ, bệnh giun tròn, bệnh trùng mỏ neo, bệnh rận cá,
bệnh bào tử trùng.
- Bệnh dinh dưỡng : Bệnh thiếu vitamin C, bệnh thiếu một số khoáng chất,
bệnh thiếu các acid amin, bệnh thiếu các vitamin.
Mặc dù công tác phòng và trị bệnh được hỗ trợ bởi cán bộ kỹ thuật cơ quan
chuyên ngành, trường Đại học Cần Thơ, Viện Nghiên Cứu Nuôi Trồng Thủy Sản II,
nhưng công tác phòng và trị bệnh cá vẫn chưa đáp ứng được cho nhu cầu nuôi thủy
sản, do vậy dịch bệnh là một trong những yếu tố gây bất lợi cho người nuôi thủy
sản.
Thuốc phòng và trị bệnh cá hiện tại có nhiều loại trên thị trường, đáp ứng đủ
cho nhu cầu nuôi, với chất lượng và giá cả khác nhau giúp cho người nuôi thủy sản
thuận lợi trong việc phòng trị bệnh cá.

2007

2008

2009

2010

2011

Lao động
NTTS

36.451

38.607

38.613

42.253

38.736

36.017

2012

2013

35.976 35.553

363.424

60.323

1.764.713

2004

1.929.917

329.267

69.944

2.329.128

2005

2.058.238

286.407

77.235

2.421.880

2006

2.510.324


501.934

527.759

6.062.489

2010

5.562.872

798.486

445.347

6.806.705

2011

7.446.588

1.286.124

396.221

9.128.933

2012

5.306.126


trên 95%.
Ngành chế biến thủy sản đông lạnh của tỉnh có trình độ công nghệ tương đối
hiện đại, máy móc thiết bị được lắp đặt đồng bộ của các hãng chuyên ngành nổi tiếng
như: My com, Nissin (Nhật), Bizzer (Đức), Trane (Mỹ), và Gram (Đan Mạch). Sản
phẩm có thể cạnh tranh và xuất khẩu vào các thị trường khó tính trên thế giới.
Các doanh nghiệp đã không ngừng đầu tư nâng công suất chế biến, đa dạng
hóa các mặt hàng từ thủy sản, đáp ứng nhu cầu trong và ngoài nước. Hầu hết, các
doanh nghiệp chế biến thủy sản đều đăng ký thực hiện quản lý chất lượng sản phẩm
theo các tiêu chuẩn quốc tế như: ISO, HACCP, chứng nhận HALAL,… của tổ chức
cộng đồng người hồi giáo, Code xuất khẩu thủy sản sang thị trường EU,....
(nguồn: Sở Công Thương)
1.2. Chế biến thô sơ:
Hiện có 92 cơ sở chế biến khô các loại với công suất tiêu thụ nguyên liệu thô trung
bình khoảng 30.000 tấn/năm. Sản phẩm chính là khô cá tra phồng, khô cá sặc, khô cá
lóc, bong bóng cá tra, bao tử cá tra,… Thị trường tiêu thụ chủ yếu nội địa và
Campuchia.
2. Thị trường tiêu thụ:
2.1. Thị trường tiêu thụ:
Thị trường xuất khẩu chính các sản phẩm thủy sản (chủ yếu là cá tra) của tỉnh
An Giang: EU, Mỹ, Châu Á,… Ngoài thị trường xuất khẩu, các công ty đang mở
rộng thị trường nội địa trên toàn quốc nhằm tăng mạnh thị phần tiêu thụ sản phẩm
trong nước.
2.2. Phát triển sản xuất các mặt hàng chủ lực:
21


Từ 2002 đến nay, sản phẩm sản xuất chính của các công ty là Fillet, nguyên
con, cắt khúc đông lạnh, đông rời. Ðối tượng sản xuất chính của các sản phẩm này là
cá tra, basa, rô phi.
2.3. Nhãn hiệu, chất lượng sản phẩm:

có tay nghề nhưng thấy đầu tư có hiệu quả ở những lúc cá có giá nên góp phần làm
ảnh hưởng đến nghề nuôi thủy sản của tỉnh.
- Hiện tượng tranh mua, tranh bán, mất cân đối cung cầu, giá cả (nguyên liệu,
xuất khẩu) không ổn định làm cho nghề nuôi thủy sản phát triển chưa thật sự ổn định
và bền vững.
22


- Tình trạng ô nhiễm môi trường, đặc biệt là ô nhiễm nguồn nước chưa được
giải quyết một cách tối ưu.
- Trình độ lao động trong nuôi trồng thủy sản còn thấp, nên việc tiếp thu công
nghệ và áp dụng khoa học kỹ thuật còn hạn chế.
- Đầu tư còn nhiều bất cập, chưa huy động tốt các nguồn lực của các thành
phần kinh tế để đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa, tạo ra những vùng sản xuất
hàng hóa lớn, tập trung. Đặc biệt là đầu tư hạ tầng thủy lợi phục vụ thủy sản còn hạn
chế.
- Sự tăng trưởng về diện tích, sản lượng trong nuôi trồng thủy sản những năm
qua chủ yếu theo chiều rộng, chưa mang tính chiều sâu, chưa có sự đảm bảo tính ổn
định, bền vững. Nuôi trồng thủy sản còn đặt nặng về sản lượng mà chưa chú trọng
chất lượng nên sản phẩm thủy sản xuất khẩu thường bị rào cản kỹ thuật của các nước
nhập khẩu.

23


PHẦN IV
DỰ BÁO NHU CẦU PHÁT TRIỂN VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
PHÁT TRIỂN VÙNG SẢN XUẤT THỦY SẢN ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO
TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH HƯỚNG ĐẾN NĂM 2030


tấn vào năm 2015.
(Nguồn: Trung tâm thông tin và KHKT thủy sản-Bộ NN&PTNT)

24


2. Dự báo nhu cầu tiêu thụ thủy sản ở các khu vực trên thế giới đến năm
2015:
* Đối với Châu Phi
Nhu cầu thủy sản của người dân Châu Phi có thể tăng lên nhanh chóng vì ba lý
do chính như sau: (i) dân số tiếp tục tăng lên nhanh chóng (có thể là trên 2%/năm);
(ii) kinh tế tăng trưởng (iii) dinh dưỡng từ thịt cá có tầm quan trọng trong chế độ ăn
uống của người Châu Phi. Tuy nhiên, trong thập kỷ tới, sản lượng thủy sản nội địa (từ
đánh bắt và nuôi trồng) của địa phương sẽ không thể cung cấp đủ cho nhu cầu. Một
phần của nhu cầu này có thể được thỏa mãn thông qua tăng cường nhập khẩu các loài
có giá trị thấp. Dường như khá hợp rằng đến năm 2015, tổng lượng cá tiêu thụ hàng
năm ở Châu Phi có thể đạt 1,5-2,0 triệu tấn cao hơn năm 2005 nếu nguồn cung cung
cấp cá đáp ứng đủ nhu cầu. Như vậy là lượng cá tiêu thụ sẽ tăng khoảng 3% mỗi
năm. Mức tăng này có thể sẽ cao hơn bất cứ khu vực nào trên thế giới. Khoảng 70%
sự gia tăng nhu cầu xuất phát từ gia tăng dân số, điều đó có nghĩa là nhu cầu tăng
trưởng là ổn định và lớn. Cá là rất quan trọng trong chế độ ăn uống của người Châu
Phi, nó không phải là một mặt hàng cao cấp cũng như mặt hàng thấp cấp. Một số
quốc gia ở Châu Phi có mức tiêu thụ đạm từ cá cao hơn 30% so với lượng đạm từ tất
cả động vật. Như vậy, có những lý do tốt cho các chính phủ và cộng đồng quốc tế
nhằm đảm bảo các điều kiện để cho phép các hộ gia đình Châu Phi duy trì ít nhất
lượng tiêu thụ cá như hiện nay.
* Đối với các nước Mỹ La Tinh
Đến năm 2015, dân số Châu Mỹ Latin có thể tiêu thụ từ 1,0 đến 1,2 triệu tấn
cá/năm, nhiều hơn lượng tiêu thụ vào năm 2005, như vậy mức tăng trưởng về nhu
cầu sẽ trên 20%. Khoảng 60% của sự tăng trưởng này sẽ được tạo ra từ việc gia tăng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status