MỤC LỤC
Nội dung
Tt
Mở đầu
Những căn cứ pháp lý và sự cần thiết
Phần I
I Các căn cứ văn bản pháp lý
II Sự cần thiết
Phần II
I
1
2
3
4
5
6
II
1
2
3
III
1
Tiềm năng nguồn dược liệu trong tỉnh.
Dự báo các nhân tố tác động đến phát triển ngành dược
liệu trong thời gian tới.
1 Dự báo về thị trường tiêu thụ.
2 Dự báo khả năng công nghệ.
3 Dự báo biến đổi khí hậu.
Phần IV Quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dược liệu ứng dụng
công nghệ cao giai đoạn 2013 - 2020 và định hướng đến
3
4
Phần III
I
1
2
II
1
2
3
III
1
Trang
4
5
5
6
7
7
I
1
2
3
II
1
2
III
1
2
3
4
Phần V
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
Phần VI
năm 2030.
Quan điểm, mục tiêu phát triển:
Quan điểm.
Mục tiêu.
21
21
24
24
24
25
26
26
26
27
27
28
28
29
29
30
31
32
CÁC PHỤ LỤC
Phụ lục 01 Bảng tổng hợp sử dụng lượng nhập cây dược
liệu tại khoa Đông Y, bệnh viên đa khoa tỉnh An Giang.
Phụ lục 02 Bảng tổng hợp tình hình sử dụng dược liệu tại
Trung tâm Đông Y – Châm cứu tỉnh An Giang.
Phụ lục 03: Dự kiến các loài dược liệu cấm khai thác trong
khu bảo tồn
Phụ lục 04: Dự kiến quy hoạch loài dược liệu trồng tại khu
quy hoạch.
Phụ lục 05: Danh lục cây thuốc cần bảo vệ
Phụ lục 06: Danh mục 40 dược liệu có tiềm năng phát triển
liệu từ tự nhiên là chủ yếu, mà chưa quan tâm nhiều tới giải pháp bảo tồn và
phát triển nguồn gen để sử dụng bền vững, vấn đề ý thức khai thác kết hợp bảo
vệ chưa cao dẫn đến tài nguyên ngày một giảm, đồng thời cũng chưa định
hướng quy hoạch vùng sản xuất nguyên liệu cho cây dược liệu phát triển ổn
định lâu dài. Do đó, quy hoạch định hình vùng sản xuất nông - lâm nghiệp kết
hợp để tăng hệ số sử dụng đất, tạo việc làm, tăng thu nhập trước hết cho những
người giữ rừng và người dân trong vùng dự án để góp phần bảo vệ rừng bền
vững. Nâng cao ý thức của người dân trong việc bảo vệ tài nguyên rừng, nguồn
dược liệu quý, đẩy mạnh phát triển những cây dược liệu tiềm năng đối với vùng
có điều kiện đất đai phù hợp với khoảng 5.000 ha tập trung ở hai huyện Tri Tôn
và Tịnh Biên, tạo thành vùng nguyên liệu tập trung thuận lợi cho thu hoạch, chế
biến…
Trên cơ sở kế thừa một số kết quả nghiên cứu của các tác giả trong nước
về cây dược liệu, cùng với việc điều tra nhanh để quy hoạch định hình vùng bảo
tồn và phát triển những cây dược liệu tiềm năng ứng dụng công nghệ cao sẻ định
hướng chiến lược phát triển lâu dài trên địa bàn tỉnh An Giang, mang lại hiệu
quả kinh tế - xã hội, góp phần vào công cuộc bảo vệ rừng bền vững và xây dựng
nông thôn mới tỉnh An Giang.
4
PHẦN I
NHỮNG CĂN CỨ PHÁP LÝ VÀ SỰ CẦN THIẾT
I. CÁC CĂN CỨ VĂN BẢN PHÁP LÝ:
Nghị định số 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính phủ về việc
lập, thẩm định và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội.
Nghị định số 04/2008/NĐ-CP ngày 11/01/2008 của Chính phủ về sửa đổi,
bổ sung một số điều của Nghị định 92/2006/NĐ-CP ngày 07/09/2006 của Chính
phủ về việc lập, thẩm định và quản lý quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã
5
nhu cầu sử dụng dược liệu phục vụ công tác khám, chữa bệnh và xuất khẩu. Kết
hợp chặt chẽ giữa việc khuyến khích “trồng cây thuốc thuốc tại vườn, tại nhà”
với việc hình thành các vùng chuyên nuôi trồng, chế biến cây, con làm thuốc
theo hướng công nghiệp;
Quyết định số 2166/QĐ-TTg ngày 30/11/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ về phát triển Y, dược cổ
truyền Việt Nam đến năm 2020.
Quyết định số 529/QĐ-ƯBND ngày 06/4/2012 của Uỷ ban nhân dân tỉnh
An Giang Phê duyệt Kế hoạch Phát triển y, dược cổ truyền trên địa bàn tỉnh An
Giang đến năm 2020;
Thông tư số: 16/2011/TT-BYT ngày 19/4/2011 của Bộ Y tế quy định
nguyên tắc sản xuất thuốc từ dược liệu và lộ trình áp dụng nguyên tắc, tiêu
chuẩn thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP) đối với cơ sở sản xuất thuốc từ dược
liệu;
Thông Tư số 40/2013/TT-BYT ngày 18 tháng 11 năm 2013 của Bộ Y tế
ban hành danh mục thuốc thiết yếu thuốc đông y và thuốc từ được liệu lần VI.
II. SỰ CẦN THIẾT QUY HOẠCH.
Tỉnh An Giang vốn được xem là tỉnh có nguồn dược liệu tự nhiên phong
phú và đa dạng về chủng loại lẫn công dụng làm thuốc. Đất đai và khí hậu trên
các đồi núi phù hợp với nhiều loài cây trồng, trong đó có nhiều loài cây thuốc
quý mà trong dân gian dùng chữa trị được nhiều loại bệnh.
Tuy nhiên, nguồn tài nguyên dược liệu tự nhiên đã và đang ngày một cạn
kiệt, nhiều loài cây dược liệu đã bị tuyệt chủng và đang đứng trước nguy cơ
tuyệt chủng, trong khi sự tái sinh trong môi trường tự nhiên lại rất chậm và thậm
chí không có khả năng hồi phục trước sự khai thác vô ý thức của con người. Vì
vậy, bảo vệ và gây trồng nguồn dược liệu đang là một trong những vấn đề cấp
bách cần được xem xét nghiêm túc. Bảo tồn và gây trồng cây dược liệu là hệ
TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY DƢỢC LIỆU ỨNG DỤNG CÔNG
NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG NĂM 2013
I. ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
1. Vị trí địa lý.
An Giang là tỉnh thuộc vùng Đồng bằng song cửu long, nằm về phía tây
nam của Tổ quốc, có diện tích tự nhiên là 353.676 ha. Trung tâm hành chính,
kinh tế, văn hóa của tỉnh là thành phố Long Xuyên cách thành phố Hồ Chí Minh
200 km, thành phố Cần Thơ 60 km.
1.1. Tọa độ địa lý:
Vĩ độ: từ 100 30’30” đến 100 37’50” vĩ độ Bắc
Kinh độ: từ 1040 47’20” đến 1050 35’10” kinh độ Đông.
1.2. Tiếp giáp ranh giới:
Phía Tây Bắc giáp Campuchia, với đường biên giới quốc gia dài 95 km
Phía Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Tháp (113 km)
Phía Đông nam giáp thành phố Cần Thơ (45 km)
Phía Nam và Tây Nam giáp tỉnh Kiên Giang (62 km)
Lợi thế lớn nhất của tỉnh là có đường biên giới với Vương quốc
Campuchia dài khoảng 95 km được thông thương bằng các Cửu khẩu quốc tế và
quốc gia Vĩnh Xương, Xuân Tô và Long Biên. Đồng thời có các tuyến đường
giao thông thủy, bộ quan trọng đi qua như: quốc lộ 91, quốc lộ N1, đường thủy
là Sông Tiền và Sông Hậu.
2. Địa hình, địa thế.
Tỉnh An Giang có hai dạng địa hình:
7
Địa hình đồng bằng: Có độ cao thấp dần từ Đông Bắc xuống Tây Nam với
độ chênh cao 0,5 - 1 cm/km, cao trình của toàn vùng đồng bằng biến thiên từ
0,8m đến 3m và được chia thành hai vùng - Vùng cù lao và Vùng hữu ngạn sông
năm vào khoảng 3m/giây.
4. Thuỷ văn.
Tỉnh An Giang có hệ thống sông và kênh rạch chằng chịt, với hai con
sông chính (sông Tiền và sông Hậu) là phần hạ lưu của sông Mê Kông, chi phối
nguồn nước của tỉnh, ngoài ra sông Vàm Nao nối liền sông Tiền sang sông Hậu.
8
Thủy văn vùng đồi núi là rất quan trọng, liên quan và quện chặt vào sự
phát triển kinh tế-xã hội và vật nuôi, cây trồng. Thủy văn trên vùng đồi núi
chính là hệ thống hồ, đập nước và không thể thiếu vai trò của các con suối.
5. Đất đai.
Theo kết quả điều tra, xây dựng bản đồ đất của Trường Đại học Cần Thơ,
tỉnh An Giang có 6 nhóm đất chính, nhưng chỉ đề cặp đến 2 dạng như sau:
Diện tích 25.667 ha (chiếm 7,26% tổng diện tích tự nhiên). Nhóm đất
phong hoá từ Granit có thành phần chủ yếu là cát, nghèo dinh dưỡng, giữ màu
kém, phân bố quanh chân núi với độ cao và độ dốc lớn, do đó bị rửa trôi mạnh.
Nhóm đất này phân bố tập trung ở 2 huyện Tri Tôn và Tịnh Biên.
6. Hệ thực vật rừng.
Tài nguyên thực vật rừng tương đối phong phú và đa dạng. Rừng cây gỗ
lớn phân bố ở các huyện Tri Tôn, Tịnh Biên và một phần nhỏ ở thị xã Châu
Đốc, huyện Thoại Sơn. Theo kết quả điều tra xây dựng danh lục thực vật rừng
vùng núi tỉnh An Giang năm 2002 nghi nhận có 815 loài thực vật rừng bậc cao
thuộc 84 bộ, 145 họ chính và 2 họ phụ, 501 chi thuộc 5 ngành thực vật như sau:
- Ngành Thạch tùng (Lycopodiophyta) có 1 loài;
- Ngành Dương xỉ (Polydiophyta) có 31 loài thuộc 6 bộ, 13 họ và 22 chi;
- Ngành Thông (Pinophyta) có 4 loài thuộc 2 bộ, 2 họ và 3 chi;
- Ngành Tuế (Cyadophyta) có 2 loài thuộc 1 bộ, 1 họ và 1 chi;
- Ngành Ngọc Lan (Magnoliophyta) có 777 loài thuộc 74 bộ, 128 họ và
tăng bình quân đầu người theo giá hiện hành năm 2013 là 31,2 triệu đồng.
Trong trồng trọt, dẫn đầu là nhóm cây lương thực có hạt (chiếm 75 – 80%
tổng GTSX của ngành), tiếp đến là nhóm rau đậu các loại (chiếm 15 – 20%) và
sau cùng là nhóm cây công nghiệp hàng năm và lâu năm (chiếm dưới 10%).
Trong chăn nuôi, nhóm gia súc (chủ yếu là bò, heo) luôn chiếm tỷ trọng lớn,
chiếm trên 65%; nhóm gia cầm (gà, vịt) tăng nhanh trong năm 2012 và hiện
chiếm 30% (so với 11%, 12% các năm 2010, 2011).
GDP ngành nông nghiệp năm 2010 là 13,6 ngàn tỷ đồng, năm 2012 là
17,9 ngàn tỷ, chỉ chiếm 27,4% tổng GDP nền kinh tế nhưng chiếm đến 88%
GDP Khu vực I. Điều đó chứng tỏ, nông nghiệp vẫn là ngành kinh tế chính
trong Khu vực I cũng như trong toàn nền kinh tế tỉnh An Giang. Xét về hiệu quả
kinh tế: tỷ lệ GDP/GTSX (hay tỷ lệ VA/GO) của ngành nông nghiệp đang có xu
hướng giảm, từ gần 55% năm 2000 xuống mức 51% năm 2012.
Theo niên giám thống kê năm 2013, xuất bản tháng 7/2014 của Cục
Thống kê tỉnh An Giang thì giá trị sản xuất nông nghiệp tính theo giá hiện hành
là 35,5 ngàn tỷ đồng, tăng 1,37% so với năm 2012.
3. Tài nguyên du lịch
An Giang có thế mạnh về du lịch tín ngưỡng và du lịch văn hoá do có
nhiều di tích lịch sử, văn hóa, thắng cảnh nổi tiếng được gắn liền với truyền
thống văn hóa, lịch sử và đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia hay cấp tỉnh.
Các điểm du lịch nổi tiếng như Khu du lịch Lâm Viên, Núi Cấm, Miếu Bà Chúa
Xứ Núi Sam, Miếu Bà Bào Mướp, hệ thống hang động: Núi Két, Núi Nước,…
và nhiều di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật khác hàng năm thu hút hàng nghìn
lượt khách tham quan. Ngoài ra, An Giang còn nổi tiếng với các làng nghề thủ
công như tơ lụa Tân Châu, mắm Châu Đốc,…và đặc biệt là nghề dệt vải thủ
công lâu đời của đồng bào Chăm, nghề nuôi cá bè đặc trưng của vùng sông nước
ĐBSCL.
4. Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội.
10
chức điều tra thực trạng, đánh giá sản lượng và tính dược của các loài dược liệu
hiện có trên các vùng đồi núi trong tỉnh. Vì vậy, để có số liệu điều tra thực trạng
các quần thể cây dược liệu trên các đồi núi thì cần phải đầu tư và hợp tác với
chuyên gia đầu ngành về cây dược liệu để tiến hành điều tra thực trạng nhận
dạng, đánh giá sản lượng các quần thể và phân tích tính dược của các loài dược
liệu.
Gần đây, năm 2002, năm 2013 có triển khai hai đợt điều tra. Năm 2002
tiến hành điều tra lập danh lục thực vật và năm 2013 thực hiện điều tra nhanh về
cây dược liệu trên vùng đồi núi trong tỉnh An Giang. Kết quả có 815 loài thực
vật rừng bậc cao thuộc 84 bộ, 145 họ chính và 2 họ phụ, 501 chi thuộc 5 ngành
thực vật. Riêng đối với những cây dược liệu thì cho thấy suy giảm nghiêm trọng
mà nguyên nhân chính là do cấu trúc hệ sinh thái rừng thay đổi. Cây dược liệu
phân bố rải rác, mọc xen trong vườn cây ăn quả, rừng trồng và không tập trung
11
thành quần thể lớn, do đó không thực hiện đánh sản lượng của từng loài. Các
loại dây leo có đường kín từ 5 - 10 cm thì gần như biến mất.
2. Tình hình tổ chức khai thác và bảo tồn cây dƣợc liệu.
Rừng là một tài nguyên rừng vô giá, bao gồm: Đất, các loài động vật, thực
vật là cây rừng, cây dược liệu, côn trùng và cả các loài vi sinh vật . . .). Do đó có
thể nói, rừng mất đi thì các thành phần của rừng cũng mất đi.
Rừng An Giang trước đây, gồm rừng tràm phát triển trên vùng đồng bằng
đất chua phèn và rừng cây lá rộng trên vùng đồi núi (gọi là vùng Bảy Núi). Sau
khi thống nhất đất nước (30/4/1975), diện tích rừng tự nhiên còn lại 23.800 ha,
trong đó rừng tràm là 16.000 ha, rừng cây lá rộng là 7.800 ha, với hệ thực động
vật quý hiếm tiêu biểu của rừng ẩm nhiệt đới như: Cẩm lai, Dáng hương, Căm
xe, Sao đen … Các vị thuốc quý như: Trầm hương, Hoài sơn, Hà thủ ô … các
loại động vật như: Nhím, Tê tê, Heo rừng …
Mặc dù với nguồn tài nguyên quý giá như vậy nhưng do nhiều nguyên
Theo Quyết định số 558/QĐ-UBND ngày 16/4/2014, tổng diện tích đất
quy hoạch cho lâm nghiệp, trong đó có cây dược liệu toàn tỉnh là 14.716 ha. Ban
quản lý dự án trồng rừng phòng hộ-đặc dụng tỉnh đã tổ chức giao khoán cho các
tổ chức, hộ gia đình thực hiện trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng và bảo vệ các loài
lâm sản phụ ngoài gỗ trong đó có cây dược liệu.
Công tác bảo tồn cây dược liệu: Từ trước đến nay (2013) lực lượng Kiểm
lâm thực hiện nhiệm vụ chính là bảo vệ cây rừng và khôi phục lại rừng trên các
đồi núi, các hoạt động bảo vệ rừng đã mang lại hiệu quả nhiều mặt, tác động
trực tiếp đến đời sống nhân dân trong vùng và đã tạo sinh cảnh cho các loài thực
vật, trong đó có cây dược liệu tái sinh và mở rộng kích thước quần thể.
3. Tình hình gây trồng và phát triển cây dƣợc liệu.
3.1. Những thuận lợi và khó khăn.
3.1.1. Những thuận lợi:
- An Giang có một vùng đồi núi nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió
mùa nóng ẩm nên có nguồn tài nguyên thực vật phong phú và đa dạng, thuận lợi
cho việc gây trồng và phát triển cây dược liệu. Có tiềm năng và khả năng phát
triển nuôi trồng nhiều loại cây thuốc bản địa và nhiều cây thuốc di thực. Môi
trường thiên nhiên, thổ nhưỡng thuận lợi cho nuôi trồng, phát triển nhiều loại
dược quý hiếm.
- Thị trường tiêu thụ dược liệu và các sản phẩm có nguồn gốc từ dược liệu
rất lớn do thói quen và truyền thống phòng và chữa bệnh bằng Y học cổ truyền
của nhân dân. Có đường biên giới với Campuchia rất thuận lợi cho giao thương
trao đổi, mua bán các loài cây dược liệu.
- Xu hướng của người dân trong và ngoài nước vẫn có niềm tin trong việc
sử dụng các sản phầm thuốc có nguồn gốc từ tự nhiên.
- Công tác phát triển dược liệu đang được Đảng, nhà nước, các tổ chức
đoàn thể quan tâm ủng hộ.
3.1.2. Những khó khăn:
- Việc gây trồng, thu hoạch còn manh mún, mang tính tự phát, Nhà nước
ngành nào đóng vai trò đầu mối để điều phối chung.
- Khai thác tiềm năng: Chưa điều tra, đánh giá phân loại thực trạng danh
mục cây dược liệu để đưa vào danh mục phát triển tiềm năng trên điều kiện tự
nhiên tài nguyên rừng sẵn có để phát triển cây dược liệu.
- Quy hoạch phát triển: Chưa có quy hoạch tổng thể và chưa có đầu tư để
bảo tồn, phát triển bền vững cây dược liệu dưới tán rừng trên các đồi núi.
- Gây trồng, khai thác, sản xuất: Còn manh mún, tự phát và không mở
rộng, có nguy cơ cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên.
4.2. Nguyên nhân:
- Chưa tìm được đối tác hợp tác để đầu tư phát triển vùng trồng nguyên
liệu dược liệu ổn định, gắn với xây dựng nhà máy chế biến, đặc biệt là các dược
liệu trọng tâm có tính cạnh tranh và giá trị kinh tế.
- Trong thời gian trước đây, các Sở, ngành và địa phương chưa thực sự
quan tâm đến công tác bảo tồn và duy trì phát triển các cây thuốc tự nhiên ở
trong tỉnh; đồng thời người dân, cộng đồng dân cư cũng chưa nhận thức được
giá trị của các loài cây dược liệu trong phòng và chữa bệnh.
- Việc thu hái dược liệu từ tự nhiên theo kiểu tận thu, không chú ý đến
bảo tồn đã làm cạn kiệt nguồn tài nguyên dược liệu trong tỉnh. Đặc biệt là chưa
có sự liên kết giữa ngành Nông nghiệp với ngành Y tế để gây trồng cây dược
liệu làm thuốc dưới tán rừng, vừa tạo thu nhập cho các chủ rừng trên các vùng
núi, vừa cung cấp nguyên liệu cây thuốc cho các cở sở chữa bệnh bằng Đông y
trong tỉnh.
14
- Chưa có chính sách phù hợp khuyến khích về bảo tồn nguồn gen, phát
triển dược liệu, nhất là đối với các nguồn gen quý, nghiên cứu di thực và phát
triển các dược liệu trong tỉnh.
- Chưa thu hút được sự quan tâm của các tổ chức, cá nhân hoạt động trong
Về xuất khẩu, nước ta chủ yếu xuất dược liệu thô, ước tính 10.000
tấn/năm bao gồm các loại như: Sa nhân, Quế, Hồi, Thảo quả, Cúc hoa, Dừa cạn,
Hòe,... và một số loài cây thuốc mọc tự nhiên khác. Bên cạnh đó một số hoạt
chất được chiết xuất từ dược liệu cũng từng được xuất khẩu như Berberin,
15
Palmatin, Rutin, Artemisinin, tinh dầu và một vài chế phẩm đông dược khác
sang Đông Âu và Liên bang Nga.
2. Nhu cầu sử dụng dƣợc liệu, thuốc từ dƣợc liệu trên thế giới.
Nhu cầu về dược liệu cũng như thuốc từ dược liệu (thuốc được sản xuất
từ nguyên liệu có nguồn gốc tự nhiên từ động vật, thực vật hoặc khoáng chất) có
xu hướng ngày càng tăng, nhất là ở các quốc gia đang phát triển. Xu thế trên thế
giới con người bắt đầu sử dụng nhiều các loại thuốc chữa bệnh và bồi dưỡng sức
khỏe có nguồn gốc từ thảo dược hơn là sử dụng thuốc tân dược vì nó ít độc hại
hơn và ít tác dụng phụ hơn. Theo thống kê hiện nay tỷ lệ số người sử dụng Y
học cổ truyền trong chăm sóc sức khỏe và điều trị bệnh ngày càng tăng như
Trung Quốc, Hàn Quốc, Các nước Châu phi, ...Ở Trung Quốc chi phí cho sử
dụng Y học cổ truyền khoảng 10 tỷ USD, chiếm 40% tổng chi phí cho y tế, Nhật
Bản khoảng 1,5 tỷ USD, Hàn Quốc khoảng trên 500 triệu USD.
Theo thống kê của WHO, những năm gần đây, nhiều nhà sản xuất đã có
hướng đi mới là sản xuất các thuốc bổ trợ, các thực phẩm chức năng, mỹ phẩm,
hương liệu… Chính vì vậy, sản xuất dược liệu đã và đang mang lại nguồn lợi
lớn cho nền kinh tế ngoài việc cung cấp nguyên liệu cho sản xuất thuốc.
Biểu đồ 01: Tỉ lệ dân số dùng dược liệu một số nước trên thế giới
100,0%
90,0%
90,0%
Hàn Quốc Nhật Bản Các nước Australia Singapore Indonesia Việt Nam
Châu Phi
.
Tỉ lệ dân số
(Nguồn: Báo cáo hội thảo dược liệu-Đà Lạt)
II. BỐI CẢNH TRONG NƢỚC.
1. Giới thiệu chung về tình hình sử dụng dƣợc liệu.
Dược phẩm là sản phẩm đặc biệt, do vậy sự cạnh tranh trên thị trường
cũng luôn quyết liệt và được sự quan tâm của toàn xã hội. Theo thống kê của
Cục Quản lý dược, năm 2011 giá trị thuốc sản xuất trong nước ước tính đạt
khoảng 1.140 triệu USD, tăng 24,04% so với năm 2010; tổng giá trị tiền thuốc
ước sử dụng năm 2011 là 2.432,5 triệu USD tăng 27,45% so với năm 2010;
nhập khẩu thuốc cả năm 2011 là: 1.337 triệu USD tăng 22,33% so với năm 2010
(1.038,46 triệu USD); Trị giá nguyên liệu nhập khẩu: 190 triệu USD giảm
11,26% so với năm 2010 (214,110 triệu USD).
Bảng 01: Thống kê sản xuất, nhập khẩu thuốc từ năm 2007- 2011
16
Tổng trị giá tiền
thuốc sử dụng
Trị giá SX
trong nƣớc
Trị giá thuốc
16,45
2009
1.696.135
831.205
1.170.828
19,77
2010
1.913.661
919.039
1.252.572
22,25
2011
2.432.500
1.140.000
1.527.000
(Acanthopanax trifoliatus (L.) Voss); Bình vôi lá nhỏ (Stepphania pierrei
Gagnep) (nguồn: Báo cáo đề tài khoa học Sưu tập và bảo tồn cây dược liệu quí
vung bảy núi tỉnh An Giang của Ks. Nguyễn Đức Thắng). Báo cáo chỉ nêu tên
mà chưa đánh giá kích thước quần thể, chưa đánh giá sản lượng, chưa có hie
dẫn địa lý và càng chưa khẳng định tính dược của 06 loài.
3.2. Về hợp tác xây dựng nguồn nguyên liệu.
17
Cho đến nay vẫn chưa có chương trình họp tác đầu tư gây trồng tạo nguồn
nguyên liệu bền vững trong lĩnh vực này. Bước đầu đang hợp tác với Cty
Domexco Đồng Tháp để gây trồng một số loài cây như: Nghệ xà cừ; Gừng; Gấc
đang trong giai đoạn thử nghiệm và chưa có sự hợp tác chính thức với Sở Nông
nghiệp và Phát triển nông thôn (là đơn vị chủ quản lý diện tích đất rừng trên các
đồi núi trong tỉnh) để xây dựng dự án lập vùng nguyên liệu cây dược liệu trồng
dưới tán rừng phòng hộ.
3.3. Những hạn chế, khó khăn, thách thức, cơ hội:
- Với nhu cầu sử dụng các loài dược liệu làm thuốc ngày càng tăng, dẫn
đến khai thác liên tục trong tự nhiên qua nhiều năm đã làm cho nguồn tài
nguyên dược liệu An Giang bị giảm sút nghiêm trọng, nhiều loài đang đứng
trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Theo người dân vùng núi Cấm thì loài cây Đảng
sâm, Mây rừng … đã mất trong tự nhiên cùng với một số loài khác như: Hàn
Thủ ô trắng, Mật nhân, Sa nhân, Cam thảo dây, Tô mộc …. cũng bị thu hẹp kích
thước quần thể do nạn phá rừng và mất rừng trước đây.
- Việc gây trồng và bảo tồn cây dược liệu cũng chưa được quan tâm đầu
tư phát triển chủ yếu mang tính tự phát, qui mô nhỏ dưới dạng tự cung tự cấp,
chưa trở thành hàng hóa trong khi điều kiện tự nhiên và tài nguyên đất rừng là
nguồn tiềm năng để phát triển một số loài cây dược liệu dưới tán rừng, nhằm tạo
thu nhập cho các chủ rừng để bảo vệ rừng, bảo vệ môi trường bền vững.
- Chưa có định hướng và quy hoạch cụ thể vùng nguyên liệu cho cây
lượng tốt; đầu tư cho chưng cất các loại tinh dầu; công nghệ sản xuất bao bì;
công nghệ cao hơn như chiết xuất dược liệu ....
- Dự báo khả năng đầu tư xây dựng mới các xưởng chế biến, chiết xuất
dược liệu trong vùng nguyên liệu.
3. Dự báo biến đổi khí hậu.
Biến đổi khí hậu là biến đổi được quy trực tiếp hoặc gián tiếp cho hoạt
động của con người làm thay đổi nồng độ khí nhà kính trong khí quyển, làm
tăng hiệu ứng nhà kính, gây biến đổi hệ thống khí hậu trái đất.
Thay đổi khí hậu do phát thải khí nhà kính qua hoạt động của con người
ngày càng tăng và sẽ làm thay đổi cấu trúc của các hệ sinh thái, các sinh cảnh
rừng cần thiết và ảnh hưởng đến các loài động thực vật.
Như vậy, rừng không chỉ có tác dụng về mặt bảo tồn đa dạng sinh học,
bảo vệ các nguồn gen sống của các loài động thực vật rừng trong đó có cây dược
liệu , cảnh quan mà còn đáp ứng được nhiều mục tiêu như phát triển kinh tế - xã
hội, hạn chế ảnh hưởng của thay đổi khí hậu v.v… góp phần đáp ứng ngày càng
tốt hơn nhu cầu cuộc sống của con người.
PHẦN IV
QUY HOẠCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY DƢỢC LIỆU
ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ
ĐỊNH HƢỚNG ĐẾN NĂM 2030.
I. QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN:
1. Quan điểm.
Thuốc là một loại hàng hóa đặc biệt, là một trong những phương tiện chủ
yếu để bảo vệ và chăm sóc sức khỏe con người. Không lúc nào con người không
cần dùng đến thuốc và ngày càng có xu hướng sử dụng dược thảo có nguồn gốc
từ thiên nhiên để làm thuốc. Do đó, cần xây dựng thành một vùng bảo tồn và
phát triển cây dược liệu ứng dụng công nghệ cao đáp ứng tiêu chuẩn tiên tiến,
trở thành thương hiệu “dược liệu vùng Thất Sơn”.
19
gen, giống cây dược liệu.
- Đầu tư xây dựng nhà gieo ươm công nghệ cao với diện tích 10.000 m2
cung cấp giống đủ chuẩn tại vị trí vườn ươm của Hạt Kiểm lâm Tịnh Biên và
Hạt Kiểm lâm Tri Tôn từ năm 2013 đến năm 2020.
3. Các chỉ tiêu chủ yếu.
Nội dung
Đơn vị tính
Tổng cộng
Năm 2020
Năm 2030
1. Trồng cây dược liệu
ha
5.000
2.000
2. Bảo tồn cấm khai thác
ha
500
500
II. QUY HOẠCH BẢO TỒN VÀ PHÁT TRIỂN CÂY DƢỢC LIỆU ỨNG
DỤNG CÔNG NGHỆ CAO TỈNH AN GIANG ĐẾN NĂM 2020 VÀ ĐỊNH
HƢỚNG ĐẾN NĂM 2030.
1. Đối tƣợng và phạm vi quy hoạch.
1.1. Đối tƣợng.
Là các vùng dược liệu tự nhiên. Vùng dược liệu tự nhiên là nơi có nhiều
loài cây dược liệu sinh trưởng và phát triển mọc tự nhiên trong các quần xã
rừng. Vùng dược liệu tự nhiên phân bổ theo loại rừng: Vùng rừng đặc dụng có
1.586 ha, vùng rừng phòng hộ 8.300 ha.
1.2. Phạm vi quy hoạch.
Phạm vi quy hoạch: Trong phạm vi ranh giới bảng mốc 03 loại rừng và
những vùng đất ven chân các đồi núi trong tỉnh; Vùng đồi núi: Tất cả rừng
phòng hộ và rừng đặc dụng trên các đồi núi trong tỉnh.
2. Các quy hoạch bảo tồn và phát triển cây dƣợc liệu.
2.1. Quy hoạch vùng gây trồng và khai thác bền vững cây dƣợc liệu.
Quy hoạch và phát triển các vùng gây trồng và khai thác bền vững cây
dược liệu tại huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên. Tập trung ưu tiên phát triển các
nhóm dược liệu đáp ứng đủ cho nhu cầu sản xuất thuốc theo đơn đặt hàng của
các công ty, các bệnh viện trong tỉnh, đáp ứng nhu cầu xuất khẩu của thị trường
và dùng cho nhu cầu khám chữa bệnh bằng Y học cổ truyền trong và ngoài tỉnh.
Tổng diện tích quy hoạch ổn định cho vùng nguyên liệu gây trồng cây
dược liệu xen dưới tán rừng là 5.000 ha trong phạm vi ranh giới bảng, mốc 3
loại rừng) trên vùng đồi núi thuộc hai huyện Tri Tôn và Tịnh Biên, trong đó giai
đoạn đến năm 2020 khoảng 2.000 ha và đến năm 2030 mở rộng thêm 3.000 ha.
- Huyện Tịnh Biên: năm 2020 là 1.000 ha, đến năm 2030 là 2.500 ha.
Địa điểm
Tt
Diện
1.000
2.500
Cộng
Tập trung trồng các loài dược liệu bao gồm các loài bản địa như: Đinh
lăng; Hương nhu trắng; Ích mẫu; Nghệ vàng; Ba kích; Gừng; Trinh nữ hoàng
cung; Hà thủ ô đỏ; Huyết rồng; Thần xạ hương; Kỳ hương; Sâm đại hành; Sâm
bố chính; Bồ công anh; Sâm đất; Sâm hồng; Sâm thổ cao ly; Dây Thuốc cá;
Diệp hạ châu đắng; Củ mài; Hòe; Kim tiền thảo, Sa nhân tím. Ưu tiên phát triển
trồng 09 loài: Đinh lăng, Nghệ vàng, Ba kích, Gừng, Trinh nữ hoàng cung, Hà
21
thủ ô đỏ, Sa Nhân tím; Bồ công anh; Cà gai leo và một số loài khác, phụ thuộc
vào đơn đặt hàng gây trồng của đối tác.
- Huyện Tri Tôn: năm 2020 là 1.000 ha, đến năm 2030 là 2.500 ha.
Địa điểm
Tt
Diện tích quy hoạch
trồng đến năm 2020
(ha)
1 Núi Dài
Diện tích quy
hoạch trồng đến
hương, Đinh lăng; Hương nhu trắng; Ích mẫu; Nghệ vàng; Nghệ xà cừ; Ba kích;
Gừng; Trinh nữ hoàng cung; Hà thủ ô đỏ; Quỉ kiếm sầu; Cam thảo; Chân chim;
Đổ trọng nam; Huyết rồng; Thần xạ hương; Kỳ hương; Sâm đại hành; Sâm đất;
Sâm hồng; Đinh Lăng; Ngũ Gia Bì; Dây Thuốc cá; Diệp hạ châu đắng; Củ mài;
Hòe; Quế; Ngải cứu; Xuyên tâm liên; Râu mèo và Kim tiền thảo. Ưu tiên phát
triển trồng 16 loài: Trầm hương, Đinh lăng, Hương nhu trắng, Ích mẫu, Nghệ
vàng, Nghệ xà cừ, Ba kích, Gừng, Trinh nữ hoàng cung, Hà thủ ô đỏ, Đẳng sâm,
Xuyên tâm liên, Thổ phục linh, Sa nhân tím, Quế, Cà gai leo và một số loài
khác, phụ thuộc vào đơn đặt hàng gây trồng của đối tác.
Chú trọng đầu tư phát triển bền vững các vùng gây trồng dược liệu có nhu
cầu sử dụng lớn và có giá trị kinh tế cao theo các nguyên tắc, tiêu chuẩn “Trồng
và thu hái tốt dược liệu”. Tuy nhiên, diện tích trồng dược liệu công nghệ cao
còn phụ thuộc nguồn đối tác hợp tác để gây trồng loài dược liệu nào và khả năng
tiêu thụ, lúc đó sẽ tiến hành xây dựng các đề án và quy hoạch chi tiết, cụ thể.
2.2. Quy hoạch vùng bảo tồn cấm khai thác cây dƣợc liệu thiên nhiên.
Là vùng được quy hoạch cấm khai thác với tổng diện tích khoanh vùng
bảo vệ nghiêm ngặt các quần thể cây dược liệu trong thiên nhiên, được quy
hoạch ổn định đến năm 2030 với diện tích là 500 ha bao gồm:
- Huyện Tri Tôn với 200 ha: Núi Nam Quy xã Châu Lăng: 50 ha, Núi Cô
Tô xã núi Tô 100 ha, Núi Dài 50 ha. Nơi đây xuất hiện nhiều quần thể cây dược
liệu có giá trị kinh tế đang từng bước tái sinh mở rộng kích thước quần thể của
chúng như : Thổ Phục Linh, Dây Chiều, Mật Nhân, Hà Thủ Ô Trắng, Củ Chi,
các loài Ngải, Hương Nhu, Sâm rừng, Cò Sen, Trầm hương, Đinh lăng; Ích mẫu;
Trinh nữ hoàng cung; Quỉ kiếm sầu; Cam thảo; Chân chim; Đổ trọng nam;
Huyết rồng; Thần xạ hương; Kỳ hương; Sâm đại hành; Sâm đất; Sâm hồng; Sâm
thổ cao ly; Ngũ Gia Bì; Dây Thuốc cá, Thần thông, Bí kỳ nam, Cây bá bệnh,
Hồng đảng sâm, . . .
- Huyện Tịnh Biên với 300 ha : Cụm núi đất xã An phú 50 ha và Núi cấm
thuộc xã An Cư 250 ha, đã xuất hiện những loài dược liệu như : Cỏ cứt lợn, cỏ
22
Mở rộng và xây dựng vườn cây dược liệu gia đình với qui mô 50 ha để
bảo tồn và phát triển những loại gen, giống cây dược liệu đến năm 2020 nhằm
xã hội hóa công tác bảo tồn nguồn gen, phục vụ nghiên cứu khoa học và phát
triển dược liệu, cụ thể như sau;
- Huyện Thoại Sơn: tại Ba Thê, huyện Thoại Sơn với diện tích 05 ha.
- Huyên Tri Tôn: tại núi Cô Tô với diện tích 10 ha, tại núi Dài với diện
tích 10 ha.
- Huyện Tịnh Biên: tại núi Cấm với diện tích 10 ha, tại núi Dài nhỏ và
cụm núi đất 15 ha.
Xây dựng vườn cây dược liệu gia đình trên cơ sở vườn dược liệu sẵn có
của các hộ mà để Quy hoạch hệ thống các vườn bảo tồn cây thuốc nhằm bảo tồn
vững chắc nguồn gen dược liệu. Triển khai các hoạt động, bảo tồn và đánh giá
giá trị nguồn gen, tập trung vào các nguồn gen đặc hữu, bản địa, có giá trị và có
nguy cơ bị tuyệt chủng.
23
III. DANH MỤC CÁC DỰ ÁN ƢU TIÊN GIAI ĐOẠN 2014 - 2030:
1. Dự án ƣu tiên giai đoạn 2015 - 2016: Tổng vốn: 1.400 triệu đồng
1.1. Thực hiện dự án vƣờn ƣơm.
Năm 2014, nhân rộng vườn ươm ứng dụng công nghệ cao tạo cây giống
dược liệu tại Hạt Kiểm lâm Tri Tôn thuộc xã Châu Lăng, huyện Tri Tôn. Công
xuất: sản xuất trên 50.000 cây/năm, trước mắt sản xuất 15.000 cây Đinh Lăng và
Ba Kích cung cấp cho 10 - 15 hộ trồng rừng để trồng xen dưới tán rừng.
- Diện tích 5.000 m2.
- Vốn đầu tư: 200 triệu đồng.
- Nguồn: Ngân sách
1.2. Dự án điều tra, phân tích tính dƣợc và lập danh lục cây dƣợc liệu.
Điều tra, phân tích tính dược, lập danh lục và đánh giá tiềm năng hiện
trạng nguồn dược liệu hiện có gắn với chỉ dẫn địa lý và giải pháp bảo vệ vùng
- Tổng diện tích: 2.000 ha
- Địa điểm: Các đồi núi huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên.
- Tổng vốn: 200 triệu đồng.
- Nguồn vốn: Ngân sách.
2.3. Xây dựng mô hình.
Xây dựng 10 mô hình trồng tốt, thu hái và bảo quản dược liệu đạt chuẩn
cho ít nhất 20 cây dược liệu đặc hữu của tỉnh, có tiềm năng phát triển thị trường.
- Tổng diện tích: 20 ha
- Địa điểm: Các đồi núi huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên.
- Tổng vốn: 400 triệu đồng.
- Nguồn vốn: Ngân sách 30%, Vốn hộ gia đình 70%.
2.4. Dự án xây dựng khu bảo tồn cây dƣợc liệu.
- Tổng diện tích: 500 ha
- Địa điểm: Các đồi núi huyện Tri Tôn (tổng diện tích là 300 ha) và huyện
Tịnh Biên (tổng diện tích là 200 ha).
- Tổng vốn: 500 triệu đồng.
- Nguồn vốn: Ngân sách 100%.
3. Dự án giai đoạn 2021 - 2025: Tổng vốn: 7.400 triệu đồng.
3.1. Dự án hợp tác trồng mới cây dƣợc liệu.
- Tổng diện tích:1.000 ha
- Địa điểm: Các đồi núi huyện Tri Tôn và huyện Tịnh Biên.
- Tổng vốn: 7.000 triệu đồng.
- Nguồn vốn: Tín dụng: 2.100 triệu đồng; Gia đình 2.800 triệu đồng; Hợp
tác 2.100 triệu đồng.
3.2. Xây dựng vƣờn cây dƣợc liệu.
Dự án quy hoạch địa điểm xây dựng các vườn cây dược liệu gia đình có
chỉ dẫn địa lý.
- Tổng diện tích: 50 ha
- Địa điểm: Các đồi núi huyện Tri Tôn, huyện Tịnh Biên và Thoại Sơn.
- Tổng vốn: 200 triệu đồng.