MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Xã hội hiện đại ngày nay với sự phát triển như vũ bão của công nghệ
thông tin, xu thế toàn cầu hoá. Nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới
phát triển mạnh mẽ. Chính vì vậy, giáo dục Việt Nam cần cập nhật những vấn
đề mới, nắm bắt xu thế của thời đại, đáp ứng yêu cầu thực tế là rất cấp thiết.
Ngày nay, ai cũng nhận thức được rằng giáo dục và khoa học, công nghệ
chính là động lực để phát triển xã hội, để vươn lên giàu có, thịnh vượng. Đã
đến lúc phải đổi mới căn bản nền giáo dục của nước nhà, đổi mới căn bản
công tác quản lý giáo dục. Đổi mới quản lý giáo dục là giải pháp đột phá vì lý
luận và thực tiễn cho thấy nó quyết định và đảm bảo cho hệ thống giáo dục
vận hành theo đúng quy luật để đi đến mục tiêu đã định.
Nhà trường phổ thông hiện nay cơ bản vẫn là nhà trường truyền thống,
mặc dù mô hình đó đang có sự thay đổi để thích nghi với sự phát triển của xã
hội. Mô hình trường phổ thông Việt Nam sau 10 -15 năm tới là nhà trường
mở, gắn kết chặt chẽ với gia đình học sinh và cộng đồng, có đủ điều kiện thực
hiện hiệu quả giáo dục toàn diện, đảm bảo dân chủ, hợp tác là nguyên tắc chi
phối tất cả các hoạt động của nhà trường. Khi đó nhà trường phải có mục tiêu
cụ thể, thể hiện rõ triết lý phát triển của nhà trường, được quyền tự chủ về
nhân sự, tài chính và tổ chức thực hiện chương trình giáo dục cơ sở, đảm bảo
dân chủ, công khai, minh bạch với sự giám sát của tập thể giáo viên và cộng
đồng, đảm bảo đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý về năng lực, trình độ,
phẩm chất đạo đức.
Nằm trong lộ trình đổi mới đồng bộ phương pháp dạy học và kiểm tra,
đánh giá ở các trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực của học
sinh trên tinh thần Nghị quyết 29 - NQ/TƯ về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, sau khi Quốc hội thông qua đề án đổi mới chương trình, SGK
giáo dục phổ thông, Bộ GD-ĐT tiếp tục chỉ đạo các cơ sở giáo dục tăng
1
Mặt khác, việc quản lý tốt các hoạt động của tổ chuyên môn không thể
là hoạt động ngày một ngày hai. Để theo kịp tốc độ phát triển nhanh chóng
của xã hội cần có sự kiên trì và cần có sự đầu tư về mọi mặt; vì vậy cần phải
có cách nhìn nhận hoàn chỉnh hơn trong tư duy hệ thống và phải có sự tác
động của nhiều yếu tố. Những vấn đề đặt ra trong thực hiện hoạt động quản
lý, những cản trở quan sát được trong thực tế sẽ khó được giải quyết nếu chỉ
dựa vào sự tự giác, ý chí, điều kiện chủ quan của giáo viên mà bỏ qua nhiều
yếu tố khác thuộc các cấp độ khác nhau, như hệ thống quản lí từ ban giám
hiệu đến tổ chuyên môn và các cấp quản lí ngành có liên quan.
Xuất phát từ những yêu cầu cả về mặt lý luận và thực tiễn trên, với tư
cách là giáo viên và là cán bộ quản lí, chúng tôi băn khoăn về chất lượng
quản lý hoạt động của các tổ chuyên môn và mối quan hệ với công tác chỉ đạo
các hoạt động giáo dục trong nhà trường THCS Liên Hà hiện nay, cũng như
các trường THCS khác để thực hiện yêu cầu dạy học tích hợp.
Để đi tìm câu trả lời cho các câu hỏi trên, tác giả chọn đề tài nghiên cứu
luận văn thạc sĩ của mình với tiêu đề : “Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
trường Trung học cơ sở Liên Hà huyện Đông Anh thành phố Hà Nội theo
hướng dạy học tích hợp”
2. Câu hỏi nghiên cứu
Các câu hỏi được đặt ra cho nghiên cứu của chúng tôi đó là:Việc quản
lý các hoạt động giáo dục của các tổ trưởng chuyên môn ở các trường THCS
hiện nay đang diễn ra như thế nào? Việc dạy học tích hợp đặt ra những yêu
cầu gì mới trong quản lý hoạt động của tổ chuyên môn? Cần những biện
pháp quản lý như thế nào để phát huy năng lực của các tổ trưởng chuyên
môn ở trường THCS Liên Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội và các
trường THCS khác.
3. Giả thuyết khoa học
Để đạt được mục đích nghiên cứu đề ra như trên, đề tài sẽ tập trung vào
các nhiệm vụ sau:
4
7.1. Nghiên cứu cơ sở lý luận của quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt
động của tổ chuyên môn bậc THCS nói riêng theo hướng dạy học tích hợp.
7.2. Khảo sát thực trạng hoạt động quản lý của các tổ trưởng đối với các hoạt
động của tổ chuyên môn trường THCS Liên Hà huyện Đông Anh, thành phố
Hà Nội qua một số năm và phân tích nguyên nhân của thực trạng.
7.3. Trên cơ sở phân tích thực trạng và nguyên nhân, đề xuất một số biện
pháp quản lý khả thi của tổ trưởng nhằm nâng cao năng lực của tổ trưởng
chuyên môn ở trường THCS Liên Hà, huyện Đông Anh, thành phố Hà Nội và
có thể áp dụng cho các trường THCS khác theo hướng dạy học tích hợp.
8. Phƣơng pháp nghiên cứu
8.1. Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập các tài liệu liên quan đến lĩnh vực nghiên cứu, đặc biệt về
quản lí các hoạt động của tổ chuyên môn nhà trường; phân tích, phân loại, xác
định các khái niệm cơ bản; đọc sách, tham khảo các công trình nghiên cứu có
liên quan để hình thành cơ sở lý luận cho đề tài.
8.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Điều tra bằng bảng hỏi: Phiếu trưng cầu gồm các câu hỏi đóng/mở
về vấn đề nâng cao năng lực quản lý của các tổ trưởng chuyên môn. Đối
tượng khảo sát sẽ là giáo viên, các tổ trưởng chuyên môn của các bộ môn và
ban giám hiệu.
- Phỏng vấn: Kỹ thuật nghiên cứu này nhằm thu thập những thông tin
sâu về một số vấn đề cốt lõi của đề tài. Nhóm đối tượng phỏng vấn sẽ hạn chế
hơn và tập trung vào các tổ trưởng chuyên môn và cán bộ quản lý.
- Nghiên cứu sản phẩm hoạt động
- Phương pháp thống kê.
6
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỦA TỔ CHUYÊN
MÔN TRƢỜNG THCS THEO HƢỚNG DẠY HỌC TÍCH HỢP
1.1. Tổng quan nghiên cứu về quản lý tổ chuyên môn ở các trƣờng
THCS.
1.1.1. Nghiên cứu về quản lý giáo dục
Ngày nay ai cũng biết rằng quản lý đóng một vai trò hết sức quan trọng
trong bất cứ hoạt động nào của con người, dù là sản xuất hay kinh doanh, dù
trong hoạt động văn hoá hay trong hoạt động xã hội. Đối với sự nghiệp giáo
dục cũng vậy, hiệu quả và chất lượng giáo dục phụ thuộc vào chính giáo viên
và công tác quản lý hoạt động của họ trong nhà trường.
Quản lý hoạt động dạy học là công việc chính của người tổ trưởng
chuyên môn, vì vậy quản lý hoạt động dạy học luôn được các nhà nghiên cứu
đề cập trong các công trình khoa học GD như giáo trình giảng dạy của trường
đại học Sư phạm Hà Nội I; Trường Đại học GD, Đại học quốc gia Hà Nội,
các luận văn thạc sỹ chuyên ngành quản lý GD cũng có một số tác giả viết về
đề tài này[7,8]:
1.1.2. Quản lý hoạt động của tổ chức
Hoạt động quản lý hành chính nhà nước được biểu hiện cụ thể trong
hoạt động tổ chức, nó bao gồm hai mặt: tổ chức chính trị và tổ chức kỹ thuật.
Dựa trên những cơ sở khoa học về quản lý nhà nước ta chia các nguyên tắc
trong quản lý hành chính nhà nước thành hai nhóm là nhóm những nguyên tắc
chính trị-xã hội và nhóm những nguyên tắc tổ chức kỹ thuật. Tuy nhiên, sự
phân chia này cũng chỉ mang tính chất tương đối vì yếu tố tổ chức kỹ thuật và
chính trị trong quản lý hành chính nhà nước có mối liên hệ chặt chẽ nhau.
Việc thực hiện các nguyên tắc tổ chức kỹ thuật là để thực hiện một cách đúng
1.2. Một số khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1. Quản lý
Có một số từ ngữ mang nội dung gần với nghĩa “quản lý” như: Quản
trị, điều khiển, chỉ huy, điều hành, lãnh đạo, ...
Quản lý hình thành và phát triển cùng với sự xuất hiện, phát triển của
xã hội loài người. Quản lý là một phạm trù khách quan, được ra đời một cách
tất yếu do nhu cầu của mọi chế độ xã hội, mọi thời đại. Khoa học quản lý
cũng như nhiều khoa học xã hội - nhân văn khác, luôn gắn với tiến trình phát
10
triển của xã hội loài người, mang tính lịch sử, tính giai cấp, tính dân tộc, tính
thời đại. Cũng có thể hiểu quản lý gồm 2 đơn vị nội dung cơ bản: Cai quản và
pháp lý. Ngày nay quản lý đã trở thành một khoa học, một nghệ thuật, có
nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, một trong các quan niệm đó là :
“Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến
những người lao động nói chung nhằm thực hiện được những mục tiêu quản
lý ”.[9,10]
1.2.2. Quản lý giáo dục và chức năngcủa quản lý giáo dục
Quản lý giáo dục
Có nhiều tác giả đưa ra khái niệm quản lý giáo dục khác nhau nhưng nói
chung chúng ta có thể hiểu:
Quản lý giáo dục là quá trình tác động có định hướng của nhà quản lý
giáo dục trong việc vận dụng nguyên lý, phương pháp chung nhất của khoa
học quản lý vào lĩnh vực giáo dục, nhằm đạt mục tiêu mà giáo dục đã đề
ra.[9,10]
Chức năng quản lý:
Quản lý là những tác động hướng đích với chức năng lập kế hoạch, tổ
chức hay chỉ đạo, điều khiển và kiểm tra. Bản chất của quản lý là sự phối hợp
Tổ chức (2)
Kiểm tra
(4)
Lãnh đạo
(3)
1.2.3. Quản lý nhà trường và quản lý hoạt động dạy học
Chất lượng giáo dục phụ thuộc vào 4 yếu tố, đó là: Đội ngũ, cơ sở vật
chất, đầu vào và công tác quản lý; trong đó công tác quản lý giữ vai trò quan
trọng vì trong điều kiện đội ngũ, cơ sở vật chất, đầu vào như nhau, nơi đâu
quản lý tốt thì nơi đó có chất lượng tốt hơn. Vì vậy, đổi mới quản lý giáo dục
phải bắt đầu từ các cơ sở giáo dục.[9]
Hoạt động dạy học ở nhà trường phổ thông giữ vị trí trung tâm bởi nó
chiếm hầu hết thời gian, khối lượng công việc của thầy và trò trong một năm
học; nó làm nền tảng quan trọng để thực hiện thành công mục tiêu giáo dục
12
toàn diện của nhà trường phổ thông; đồng thời, nó quyết định kết quả đào tạo
của nhà trường. Hoạt động dạy học còn là hoạt động đặc thù của nhà trường
phổ thông, nó được qui định bởi đặc thù lao động sư phạm của người giáo
viên. Vì vậy, nó cũng qui định tính đặc thù của công tác quản lý nhà trường
nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng.[9,10]
1.2.4. Quản lý hoạt động của tổ chuyên môn
Nói đến hoạt động chuyên môn trong nhà trường thì không thể không
nói đến hoạt động của tổ chuyên môn vì tổ chuyên môn là tổ chức quan trọng
nhất đảm nhận chức năng thực thi nhiệm vụ chuyên môn của nhà trường.
Chất lượng hoạt động của tổ chuyên môn là điểm mấu chốt để nâng cao chất
loại và đề xuất khen thưởng, kỉ luật giáo viên thuộc tổ mình quản lý.Do đó, tổ
trưởng chuyên môn phải là người có phẩm chất đạo đức tốt; có năng lực, trình
độ, kinh nghiệm chuyên môn; có uy tín đối với đồng nghiệp, học sinh. Tổ
trưởng chuyên môn phải là người có khả năng tập hợp giáo viên trong tổ, biết
lắng nghe, tạo sự đoàn kết trong tổ, gương mẫu, công bằng, kiên trì, khéo léo
trong giao tiếp, ứng xử.
1.2.4.3. Nhiệm vụ tổ chuyên môn
Nhiệm vụ của tổ chuyên môn quy định theo Điều lệ trường THCS,
THPT ban hành theo Quyết định số 07/2007/QĐ-BGD&ĐT ngày 02/4/2007
của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
“Điều 16. Tổ chuyên môn
1. Hiệu trưởng, các phó Hiệu trưởng, giáo viên, viên chức thư viện, viên chức
thiết bị thí nghiệm của trường trung học được tổ chức thành tổ chuyên môn
theo môn học hoặc nhóm môn học ở từng cấp học THCS, THPT. Mỗi tổ
chuyên môn có tổ trưởng, từ 1 đến 2 tổ phó chịu sự quản lý chỉ đạo của Hiệu
trưởng, do Hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm vụ vào đầu năm học.
2. Tổ chuyên môn có những nhiệm vụ sau:
a) Xây dựng kế hoạch hoạt động chung của tổ, hướng dẫn xây dựng và
quản lý kế hoạch cá nhân của tổ viên theo kế hoạch giáo dục, phân phối
14
chương trình môn học của Bộ Giáo dục và Đào tạo và kế hoạch năm học của
nhà trường;
b) Tổ chức bồi dưỡng chuyên môn và nghiệp vụ; tham gia đánh giá,
xếp loại các thành viên của tổ theo các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo;
c) Đề xuất khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên.
3. Tổ chuyên môn sinh hoạt hai tuần một lần. »
1.2.4.4. Mục tiêu hoạt động tổ chuyên môn:
- Sinh hoạt tổ chuyên môn là một hoạt động chuyên môn không thể
-
Sĩ số HS , tình hình duy trì sĩ số , bỏ học trong tháng ( tĩ lệ chuyên
cần của lớp ) tình hình thực hiện chương trình , nhanh chậm từng môn . Tình
hình phụ đạo HS yếu – cá biệt , tình hình lớp dạy 2 B / Ngày và lớp dạy trên 5
B/ Tuần .
- Các phong trào hoạt động chủ đề trong tháng do BGH phân công cho
lớp , cho Tổ chuyên môn phải thực hiện
- Tình hình khó khăn thuận lợi , các môn , tiết , chương khó theo phân
môn giảng dạy .
- Nội dung kiến thức môn khó trong tháng mà GV vấp phải , bàn biện
pháp để tháo gở .
-
Tình hình chuẩn bị thiết bị-tự làm ĐDDH thực hiện trong tháng, tài
liệu sách giáo khoa …
- Số lượng tiết GV dự giờ chéo đã đi dự - chưa dự được ( có phân loại
Tốt – Khá - Đạt yêu cầu – chưa đạt yêu cầu bao nhiêu ) cần nắm tình hình
tiến bộ , khó khăn về chất lượng giờ dạy khi dự giờ so với thời gian trước như
thế nào ?
- Nguyên nhân chưa đạt , tồn tại trong tháng cần phân tích cụ thể để tập
thể rút kinh nghiệm cho thời gian tới .
- Thời gian nào ? sẽ tiếp tục thực hiện các công việc còn tồn tại chưa
thực hiện được .
Triển khai 1 số công tác tháng được BGH phân công cho Tổ chuyên
môn:
16
17
– Xét và chấm điểm thi đua lớp , cá nhân trong tháng theo qui chế , (
Theo mẫu thống nhất )
Tuỳ theo tình hình từng tháng mà Tổ trưởng chuyên môn lựa chọn nội
dung cần thiết để làm việc theo những nội dung nói trên
Tổng kết sinh hoạt Tổ chuyên môn:
Tổ trưởng chuyên môn tổng kết nội dung làm việc trong ngày .
+ Nêu lại những công tác trọng tâm trong tháng mà Tổ chuyên môn
cần ra sức thực hiện đạt yêu cầu .
+ Những vấn đề mà tập thể đưa ra bàn bạc thảo luận đi đến thống nhất
chung cần thực hiện trong tháng , Ý kiến quyết định cuối cùng là của Tổ
trưởng chuyên môn , mang tính chất quyết định .
+ Những vấn đề cần thống nhất đề xuất BGH trường xem xét giải
quyết , nhằm tháo gở khó khăn trong Tổ chuyên môn ( nếu có ) . Khi vượt
thẩm quyền của Tổ trưởng chuyên môn , thì Tổ trưởng chuyên môn trực tiếp
xin ý kiến Hiệu Trưởng , sau đó sẽ trả lời hoặc chỉ đạo tổ viên thực hiện .
1.2.4.6. Tiêu chuẩn đánh giá chất lượng hoạt động tổ chuyên môn
Trích Thông tư số 12/2009/TT-BGDĐT ngày 12/5/2009 về việc ban hành quy
định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường THCS và Quy định
về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng trường THPT ban hành theo Quyết định số
80/2008/QĐ-BGD&ĐT ngày 30/12/2008 của Bộ trưởng Bộ Giá o du ̣c và Đào
tạo:
”Tổ chuyên môn của nhà trường hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định.
a) Có kế hoạch công tác và hoàn thành các nhiệm vụ theo quy định tại Điều
lệ trường trung học;
b) Sinh hoạt ít nhất hai tuần một lần về hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và
các hoạt động giáo dục khác
c) Hằng tháng, rà soát, đánh giá việc thực hiện các nhiệm vụ được phân
đồ dùng dạy học, thiết bị dạy
học đúng, đủ theo các tiết
trong phân phối chương trình;
- Văn bản của lãnh đạo nhà
trường về việc nhận xét thực
hiện các nhiệm vụ năm học
của tổ chuyên môn;
- Các minh chứng khác (nếu
có)
b) Sinh hoạt ít nhất hai
tuần một lần về hoạt động
chuyên môn, nghiệp vụ và
các hoạt động giáo dục
khác;
- Biên bản sinh hoạt chuyên Sinh hoạt ít nhất hai tuần một lần
môn của tổ hoặc nhóm chuyên về hoạt động chuyên môn, nghiệp
môn;
vụ và các hoạt động giáo dục
khác? Chất lượng của các buổi
- Sổ nhật ký hoặc biên bản
sinh hoạt chuyên môn ?
đánh giá chất lượng về hiệu
quả hoạt động giáo dục của
các thành viên trong tổ;
- Biên bản đánh giá, xếp loại
giáo viên;
- Các thông tin, minh chứng
khác liên quan đến chỉ số.
động tổ chuyên môn, hướng dẫn tổ viên xây dựng và thực hiện kế hoạch cá
nhân, tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và tham gia đánh giá xếp loại
thành viên trong tổ, đề xuất khen thưởng hoặc kỷ luật đối với giáo viên, quản
lý tài sản tổ chuyên môn theo quy định của Hiệu trưởng, theo dõi và đề nghị
nhà trường thực hiện chế độ chính sách của nhà nước đối với các tổ viên.
- Tổ trưởng chuyên môn tổ chức thực hiện quy chế dân chủ trong các
hoạt động của tổ chuyên môn, tham gia vào công tác xã hội hoá giáo dục của
nhà trường, tổ trưởng chuyên môn được đào tạo nâng cao trình độ chuyên
môn nghiệp vụ và được hưởng các chế độ chính sách theo quy định (trừ giờ 3
tiết/tuần; phụ cấp trách nhiệm 0.25% lương cơ bản).
20
- Tổ trưởng chuyên môn chủ trì các hội nghị tổ chuyên môn và chịu
trách nhiệm trước Hiệu trưởng về toàn bộ các nhiệm vụ được quy định tại
điều 16 - chương 2 của điều lệ trường trung học.
1.3.2.Chức năng nhiệm vụ của tổ trưởng chuyên môn.
Tổ trưởng chuyên môn có các chức năng quản lý như một người đứng đầu
một đơn vị sản xuất, được hiệu trưởng bổ nhiệm và giao nhiệm vụ đầu năm
học.
- Tổ trưởng chuyên môn có chức năng dự thảo kế hoạch hoạt động tổ
chuyên môn, hướng dẫn thành viên trong tổ lập kế hoạch năm học của cá
nhân.
- Tổ trưởng chuyên môn còn có chức năng đặc biệt quan trọng là kiểm
tra đánh giá toàn bộ hoạt động chuyên môn của các thành viên thuộc quyền
theo kế hoạch nhiệm vụ năm học của tổ và của nhà trường.
- Tổ trưởng chuyên môn được hiệu trưởng giao nhiệm vụ tổ chức, chỉ
đạo các hoạt động tổ chuyên môn trong việc thực hiện chương trình giảng dạy
môn học, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, kiểm tra đánh giá theo quy định
và hiệu quả. Chất lượng và hiệu quả hoạt động của tổ chuyên môn phụ thuộc
rất lớn vào phẩm chất, năng lực và tính năng động của người tổ trưởng chuyên
môn.
Tổ chuyên môn trong trường trung học có vị trí, vai trò, chức năng và
nhiệm vụ rất quan trọng đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy và học.
Để thực hiện thành công những vấn đề đó đều phải thông qua hoạt động thực tiễn
của người tổ trưởng và các thành viên trong tổ chuyên môn. Do vậy, người tổ
trưởng cần phải nhận thức sâu sắc, đúng đắn, có tinh thần trách nhiệm cao, có
đầy đủ phẩm chất và năng lực và biết quản lý tổ một cách khoa học.
1.3.4. Các phẩm chất, năng lực cần có của tổ trưởng chuyên môn
Hoạt động chuyên môn trong trường trung học chiếm vị trí đặc biệt
quan trọng, trong đó tổ chuyên môn là một tổ chức đảm nhận chức năng thực
thi nhiệm vụ chuyên môn. Do đó vai trò của tổ trưởng chuyên môn là người
trục tiếp quản lí nhiều mặt hoạt động của giáo viên và cả khối lớp, là người
22
chịu trách nhiệm trước hiệu trưởng và chất lượng giảng dạy của giáo viên và
kết quả học tập của học sinh trong tổ của mình.[1]
Để đạt được những kết quả đó, người tổ trưởng ở trường:
- Luôn gần gũi, tạo niềm tin cũng như tin tưởng các thành viên trong tổ
khi thực hiện nhiệm vụ.
- Phải làm cho tổ luôn đoàn kết, có tinh thần tương thân tương trợ lẫn
nhau trong công tác cũng như trong cuộc sống như dạy thay các đồng nghiệp
khi bệnh, khi đi học bồi dưỡng,… Thường xuyên tổ chức thăm hỏi, quyên
góp để giúp đỡ nhau khi gia đình gặp cảnh không may…
- Phát huy được vai trò các nhóm chuyên nghiên cứu trước phân môn
để kịp thời phát hiện cái khó, cái hay của từng bài dạy.
- Luôn chuẩn bị nội dung hợp tổ chu đáo. Chủ động tạo nên tình huống
dự kiến tình huống trong giáo viên để các tổ viên phải nêu quan điểm của
1.4. Đổi mới giáo dục và yêu cầu của dạy học tích hợp:
1.4.1. Đổi mới giáo dục
Thứ nhất, khi bối cảnh nước ta thay đổi lớn thì giáo dục phải tiến hành đổi
mới để đáp ứng những yêu cầu mới. Từ khi giành được Độc lập năm 1945
đến nay, nước ta đã tiến hành ba lần cải cách giáo dục vào các năm 1950,
1956, 1979 và tiến hành đổi mới giáo dục liên tục từ năm 1986 đến nay.
Trong nhiều năm qua, giáo dục nước ta quan tâm nhiều đến cải cách bậc phổ
thông nhưng thiếu giải pháp đồng bộ.
Thứ hai, với yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, đặc
biệt là yêu cầu chuyển mô hình phát triển nền kinh tế của nước ta từ chiều
rộng sang chiều sâu, cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng,
hiệu quả, đủ sức cạnh tranh, từng bước đi vào nền kinh tế tri thức, vươn lên
sánh vai cùng các nước tiên tiến trên thế giới, nếu không có những chủ nhân
xứng đáng, không có nguồn nhân lực đông đảo với chất lượng cao, sẽ khó
thực hiện được mục tiêu đề ra. Đảng ta đã xác định: gắn kết chặt chẽ phát
triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, giáo
24
dục và đào tạo là một trong ba khâu đột phá để đưa nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, tạo tiền đề vững chắc
cho phát triển cao hơn trong giai đoạn sau. Như vậy cũng có thể nói rằng, đổi
mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là một trong những nhân tố quan
trọng quyết định sự thành công của công nghiệp hóa, hiện đại hóa và thực
hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
Thứ ba, trong quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng,
thực chất cạnh tranh giữa các quốc gia hiện nay là cạnh tranh về chất lượng
nguồn nhân lực. Chính vì vậy, đổi mới giáo dục đang là một xu thế tất yếu
mang tính toàn cầu. Nước nào không đổi mới, hoặc cải cách giáo dục không
thành công, nước đó sẽ mất khả năng cạnh tranh trên trường quốc tế và sẽ bị