Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh thanh hóa thực trạng và giải pháp - Pdf 35

LỜI NÓI ĐẦU
Thanh Hóa là một có địa hình phức tạp , gồm nhiều huyện vùng cao. Khi
bước vào thực hiện công cuộc đổi mới, Thanh Hóa gặp không ít khó khăn cả về địa
hình, khí hậu và xuất phát điểm kinh tế chủ yếu là thuần nông. Trong những năm
qua, với quyết tâm cao Thanh Hóa đã từng bước chuyển tư nền kinh tế thuần nông
tự cấp tự túc sang nền kinh tế sản xuất hàng hoá và thực hiện chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH-HĐH.
Nhìn lại 10 năm đổi mới, kinh tế Thanh Hóa liên tục phát triển, GDP tăng
đều qua các năm, tỷ lệ hộ đói nghèo giảm đáng kể, cơ sở hạ tầng phát triển.
Một trong những yếu tố góp phần làm nên sự thành công của Thanh Hóa đó
chính là hoạt động đầu tư. Sự nỗ lực của tỉnh trong việc gia tăng đầu tư đã đem lại
cho kinh tế Thanh Hóa những kết quả đáng khích lệ. Tuy nhiên, bên cạnh đó hoạt
động đầu tư của tỉnh trong những năm qua còn tồn tại nhiều khó khăn bất cập cần
phải được khắc phục như: đầu tư toàn xã hội còn thấp, hiệu quả và chất lượng đầu
tư một số ngành còn chưa cao, sức cạnh tranh còn yếu, cơ cấu đầu tư chuyển dịch
chậm chưa phát huy lợi thế so sánh của từng ngành, từng vùng, năng lực sản xuất và
kết cấu hạ tầng chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Chính
vì vậy, việc nâng cao hiệu quả đầu tư, đầy mạnh đầu tư trên địa bàn tỉnh trong
những năm tới là vấn đề nổi cộm cần được quan tâm hàng đầu. Vì lý do này, chuyên
đề " Đầu tư phát triển bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa thực trạng và giải pháp ” được hoàn thành với mong muốn đóng góp
một phần vào việc giải quyết vấn đề trên.

1


CHƯƠNG I: THỰC TRẠNG ĐẦU TƯ BẰNG NGUỒN VỐN
NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC TỈNH THANH HÓA
I. KHÁI QUÁT ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ XÃ HỘI TỈNH THANH HÓA

1. Điều kiện tự nhiên



chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh cũng như của vùng Bắc Trung Bộ theo hướng
CNH, HĐH.
- Thanh Hóa có nhiều dân tộc anh em sinh sống, có nền văn hóa rất đa dạng
về ngôn ngữ, phong tục tập quán... Đây là một lợi thế lớn để khai thác phục vụ phát
triển du lịch, song cũng đặt ra nhiệm vụ hết sức quan trọng trong vấn đề giữ gìn
khối đại đoàn kết các dân tộc và ổn định chính trị xã hội. Vùng núi phía Tây của
tỉnh rộng lớn, địa hình phức tạp, giao thông cách trở, kết cấu hạ tầng yếu kém, kinh
tế xã hội chậm phát triển… đặt ra nhiều vấn đề cần giải quyết cả về kinh tế xã hội
và an ninh quốc phòng.
1.2. Đặc điểm địa hình
Địa hình ở Thanh Hoá đa dạng, có hướng thấp dần từ Tây sang Đông và chia
thành 3 vùng rõ rệt:
* Vùng núi và trung du: gồm 11 huyện (Như Xuân, Như Thanh, Thường
xuân, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hoá, Quan Sơn, Mường Lát, Ngọc Lặc, Cẩm
Thuỷ và Thạch Thành) với diện tích tự nhiên 7999 km2 (chiếm 71,8% diện tích tự
nhiên toàn tỉnh). Đây là vùng nối liền giữa hệ núi cao phía Tây Bắc và hệ núi
Trường Sơn phía Nam. Độ cao trung bình ở vùng núi từ 600 - 700 mét, độ dốc trên
25o, vùng trung du có độ cao trung bình 150-200 mét, độ dốc từ 150 đến 200. Vùng
có địa hình phức tạp, chia cắt mạnh gây trở ngại lớn cho phát triển kinh tế và xây
dựng kết cấu hạ tầng.
* Vùng đồng bằng: gồm 10 huyện (Thọ Xuân, Thiệu Hoá, Yên Định, Đông
Sơn, Vĩnh Lộc, Triệu Sơn, Nông Cống, Hà Trung, TP Thanh Hoá và TX. Bỉm Sơn)
với diện tích tự nhiên 1905 km2 (chiếm 17,1% diện tích tự nhiên toàn tỉnh). Đây là
vùng được bồi tụ bởi hệ thống sông Mã, sông Yên. Vùng có địa hình xen kẽ giữa
vùng đất bằng với các đồi thấp và núi đá vôi độc lập, độ cao trung bình từ 5 - 15
mét, một số nơi trũng như Hà Trung có độ cao chỉ từ 0 - 1 mét. Nhìn chung vùng
đồng bằng có địa hình tương đối bằng phẳng thuận lợi cho phát triển nông nghiệp
và công nghiệp.

nhất là sản xuất nông nghiệp và đời sống dân cư.
2. Các tài nguyên thiên nhiên chính
2.1. Tài nguyên đất
Theo kết quả phúc tra thổ nhưỡng của FAO- UNESCO, tỉnh Thanh Hoá có 8
nhóm đất chính với 20 loại đất khác nhau và được phân bố như sau:
- Nhóm đất xám: Diện tích 717.245 ha, chiếm 64,6% diện tích tự nhiên toàn tỉnh,
phân bố chủ yếu ở vùng trung du miền núi, thuộc các huyện Quan Hoá, Bá Thước, Như
Xuân, Thường Xuân, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lặc, Thạch Thành, Lang Chánh... Đất có tầng
dầy, dễ thoát nước, thích hợp cho phát triển lâm nghiệp và các cây công nghiệp dài
ngày, cây ăn quả như cao su, cà phê, chè, cam, chanh, dứa...
- Nhóm đất đỏ: Diện tích 37.829 ha, chiếm 3,4% diện tích tự nhiên, phân bố
ở độ cao trên 700 mét tại các huyện: Quan Hoá, Lang Chánh, Thường Xuân. Nhóm
đất này có tầng dày, thành phần cơ giới từ nhẹ đến trung bình, ít chua nên thích hợp
với nhiều loại cây trồng và khoanh nuôi tái sinh rừng. Tuy nhiên, do phân bố ở địa

4


hình cao, chia cắt mạnh và dễ bị rửa trôi nên việc khai thác sử dụng gặp nhiều khó
khăn và cần có biện pháp bảo vệ đất.
- Nhóm đất phù sa: Diện tích 191.216 ha, chiếm 17,2% diện tích tự nhiên,
phân bố chủ yếu ở các vùng đồng bằng, ven biển. Đất có thành phần cơ giới thường
là thịt nhẹ, ít chua, giàu chất dinh dưỡng nên có chất lượng tốt, thích hợp với nhiều
loại cây trồng, nhất là các loại cây ngắn ngày như lương thực, hoa màu và cây công
nghiệp ngắn ngày khác.
- Nhóm đất tầng mỏng: Diện tích 16.537 ha, chiếm 1,49% diện tích đất tự
nhiên, phân bố chủ yếu ở vùng trung du và các dãy núi độc lập ở đồng bằng ven
biển như Nông Cống, Thiện Hoá, Yên Định, Hoằng Hoá, Hà Trung, Hậu Lộc, Tĩnh
Gia, Đông Sơn...Đặc điểm của nhóm đất này là có tầng mỏng và bị xói mòn trơ sỏi
đá, trên cần được đầu tư, cải tạo và đưa vào khai thác.

rừng, phân bố chủ yếu ở vùng núi phía Tây và một số ít ở ven biển. Chức năng của
rừng là phòng hộ đầu nguồn các sông lớn như sông Chu, sông Mực, sông Bưởi, Hồ
Yên Mỹ... và phòng hộ ven biển.
- Rừng đặc dụng bao gồm Vườn quốc gia Bến En, Vườn quốc gia Cúc
Phương và các Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Hu, Pù Luông, Xuân Liên, với tổng diện
tích 76.457,9 ha, chiếm 14,5% diện tích có rừng. Chức năng của rừng là bảo tồn đa
dạng sinh học, hệ động thực vật quí hiếm, nghiên cứu khoa học, du lịch sinh thái và
bảo vệ môi trường….
- Rừng sản xuất có diện tích 276.857 ha, chiếm 54,1% diện tích có rừng; tập
trung ở vùng đồi núi thấp và vùng trung du.
Rừng của Thanh Hoá chủ yếu là rừng lá rộng với hệ động thực vật khá
phong phú, đa dạng về giống loài. Về thực vật có các loại gỗ quý như lát, pơmu,
trầm hương, lim, sến, vàng tâm…; các loại thuộc họ tre có luồng, nứa, vầu, giang,
bương, tre…; ngoài ra còn có mây, song, dược liệu, cây thả cánh kiến… Tuy nhiên
trong những năm cuối thập kỷ trước do bị khai thác quá mức nên chất lượng rừng
giảm sút nghiêm trọng, các loại thực vật quí hiếm như lim, lát… chỉ còn rải rác ở
một số địa bàn vùng cao, vùng sâu, vùng xa, địa hình hiểm trở và tại các khu bảo
tồn, vườn Quốc gia.
Về động vật, có thể nói hệ động vật rừng ở Thanh Hóa trước đây rất phong
phú, nhưng do trong nhiều năm bị săn bắt bừa bãi nên đã bị giảm sút nhiều. Tuy
nhiên hiện nay vẫn thuộc loại phong phú so với nhiều tỉnh khác ở Bắc Bộ. Trong
một số khu rừng còn xuất hiện các loài bò rừng, nai, hoẵng, vượn, khỉ, lợn rừng và
nhiều loại chim, thú, bò sát khác… Đặc biệt một số nơi còn có các loài động vật quý
như hổ, báo, gấu, gà lôi, công trĩ… Riêng ở Vườn quốc gia Bến En hiện còn hệ
động vật rất phong phú gồm 162 loài chim, 53 loài thú, 39 loài bò sát…, trong đó có
nhiều loài quý hiếm không chỉ đối với Việt Nam mà còn đối với cả thế giới, do vậy
cần được bảo vệ nghiêm ngặt.
Tóm lại, rừng của Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng về chủng loại rừng
và lâm sản, nhưng chất lượng rừng thấp. Do địa hình phức tạp, giao thông cách trở
nên công tác quản lý và bảo vệ rừng gặp nhiều khó khăn; Tình trạng đốt nương làm

quả điều tra ban đầu cho thấy, toàn tỉnh có 14 điểm có dấu hiệu khác thường về
nhiệt độ, thành phần hoá, lý trong nước, nhưng chưa có nguồn nào được nghiên cứu
chi tiết. Hiện mới phát hiện nước khoáng ở một số khu vực như: lỗ khoan 12 tại Ga
Nghĩa trang thuộc xã Hoằng Trung, huyện Hoằng Hoá; lỗ khoan 31 xã Đông Yên,
huyện Đông Sơn và các lỗ khoan UNICEF ở xã Quảng Yên, huyện Quảng Xương...
2.4. Tài nguyên biển
Thanh Hoá có bờ biển dài 102 km (từ cửa Càn, Nga Sơn đến Hà Nẫm, Tĩnh
Gia); vùng lãnh hải rộng hơn 1,7 vạn km2. Vùng biển và ven biển Thanh Hoá có tài

7


nguyên khá phong phú, đa dạng, trong đó nổi bật là tài nguyên thuỷ sản, tài nguyên
du lịch biển và tiềm năng xây dựng cảng và dịch vụ hàng hải.
* Về tài nguyên thuỷ sản: Vùng biển Thanh Hoá chịu ảnh hưởng của các
dòng hải lưu nóng và lạnh tạo thành những bãi cá, tôm có trữ lượng lớn so với các
tỉnh phía Bắc. Tại vùng biển Thanh Hoá đã xác định có hơn 120 loài cá, thuộc 82
giống, 58 họ gồm 53 loài cá nổi, 69 loài cá đáy và các loại hải sản khác. Tổng trữ
lượng hải sản ước khoảng 140.000 - 165.000 tấn; khả năng khai thác từ 60.000 70.000 tấn/năm, trong đó cá nổi chiếm hơn 60% và cá đáy chiếm gần 40%.
* Về tiềm năng xây dựng cảng: Với bờ biển dài và nhiều cửa lạch, Thanh Hoá
có tiềm năng rất lớn về xây dựng cảng và phát triển vận tải biển, trong đó đáng chú
ý nhất là khu vực Nghi Sơn. Đây là khu vực được đánh giá có điều kiện thuận lợi
nhất của vùng ven biển từ Hải Phòng đến Nam Hà Tĩnh. Tại đây trong tương lai sẽ
xây dung cụm cảng nước sâu lớn trong vùng (gắn với Khu kinh tế Nghi Sơn) với 3
khu cảng chính là cảng tổng hợp Nghi Sơn, cảng cho Khu liên hợp lọc hóa dầu và
các cảng chuyên dùng cho nhà máy xi măng, nhà máy nhiệt điện và nhà máy đóng
tầu Nghi Sơn... tạo điều kiện để Thanh Hóa mở rộng giao lưu hàng hoá với các tỉnh
trong nước và với thế giới.
Tóm lại, Thanh Hoá có bờ biển dài, có tiềm năng lớn về khai thác, nuôi trồng
thuỷ sản, phát triển du lịch, phát triển cảng và vận tải biển... Đây là lợi thế rất lớn để

khoáng, công nghiệp sản xuất xi măng, công nghiệp vật liệu xây dựng
Ngoài ra, còn có nhiều loại khoáng sản khác như chì kẽm, Ăngtimon, Niken Coban, đồng, thiếc, thiếc-vonfram, Manhezit, Asen, thuỷ ngân, Barit, Pyrit, Berin,
Môlip đen, cát kết (chất trợ dung), sét trắng. Mác sa lít, Fensfat, cát thuỷ tinh, đá
xây dựng, đá granit, đá thạch anh và than chì, than đá và than bùn… tuy trữ lượng
không lớn nhưng có giá trị cao, có thể khai thác ở quy mô nhỏ phục vụ phát triển
công nghiệp địa phương.
3. Đặc điểm kinh tế xã hội
3.1.Về kinh tế:
* Về tốc độ tăng trưởng
Tốc độ tăng trưởng bình quân 2001-2005 là 9,1%/năm và dự kiến 11,5% giai
đoạn 2006-2010; trong đó nông lâm nghiệp và thủy sản tăng 4,2%/năm, công
nghiệp - xây dựng tăng 15,8%/năm và dịch vụ tăng 12,2%/năm. Điều đáng chú ý là
tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh có xu hướng tăng dần vào các năm cuối kỳ của
kế hoạch 5 năm, tạo đà tăng trưởng thuận lợi cho thời kỳ tiếp theo.

9


Bảng 1: Tốc độ tăng trưởng kinh tế thời kỳ 2001 - 2010
Đơn vị: Tỷ đồng, giá CĐ
Tăng BQ (%/n.)
Chỉ tiêu
Tổng GDP

2000

2005

DK 2010 2001-


4,3

4.4

4,2

- Công nghiệp và XD

2243.7

4535.0

9461.0

15,5

15.1

15,8

- Dịch vụ

2531.2

3739.0

6638.0

10,1


11,9

- Đầu tư nước ngoài

366.3

763.0

2100.0

19,1

15.8

22,4

1. Theo ngành kinh tế

2. Theo khu vực kinh tế

Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Thanh Hoá và số liệu Sở KH&ĐT
* Về quy mô nền kinh tế
Bảng 2: Tình hình thu chi ngân sách của tỉnh Thanh Hoá
Đơn vị: Triệu đồng
TT

Chỉ tiêu

2000


4.246.230

6.600.000

II

Tổng chi trên địa bàn

2.032.504

6.379.102

10.000.000

1

Chi đầu tư phát triển

315.520

1.042.253

6.000.000

Tr.đó: Chi đầu tư XDCB

295.009

1.016.103


45
40
35
30
lâm nghiệp

25

công nghiệp,xây dựng
20

dịch vụ

15
10
5
0
2000

2005

DK 2010

Cơ cấu kinh tế của Thanh Hoá cũng từng bước chuyển dịch theo hướng tích
cực, tỷ trọng công nghiệp-xây dựng trong tổng GDP ngày càng tăng lên. Năm
2007, cơ cấu giữa 3 khối ngành nông lâm nghiệp - công nghiệp, xây dựng - dịch vụ
trong tổng GDP của tỉnh là 28,4-36,8-34,8 so với 31,6%-35,1%-33,3% năm 2005 và
39,6%-26,6%-33,8% (năm 2000); dự kiến năm 2010, các con số tương ứng là
24,1%-40,6%-35,3%. Nền kinh tế của tỉnh đang hình thành rõ nét cơ cấu kinh tế:
công nghiệp-dịch vụ-nông nghiệp. Đây là một kết quả đáng khích lệ trong chuyển


20
10

7

4.1

3.6

0
2000

2005

DK 2010

Với chính sách phát triển kinh tế thị trường theo định hướng XHCN và
chuyển đổi mô hình quản lý các doanh nghiệp quốc doanh, cơ cấu thành phần kinh
tế của tỉnh đã chuyển dịch phù hợp dần với cơ chế thị trường. Khu vực kinh tế ngoài
quốc doanh được phát triển, chiếm ưu thế trong sản xuất nông nghiệp và các ngành
dịch vụ.
* Cơ cấu thành thị và nông thôn: Hiện nay 67,2% số lao động của Thanh
Hóa làm việc trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp với gần 90% dân số sống ở khu vực
nông thôn, nhưng tổng giá trị gia tăng của khu vực nông lâm nghiệp chỉ chiếm
28,4% trong GDP của tỉnh. Điều đó cho thấy, quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
từ khu vực nông lâm nghiệp sang các lĩnh vực khác diễn ra rất chậm. Mức chênh
lệch về thu nhập giữa lao động nông lâm nghiệp với lao động trong các ngành nghề
khá cao, khoảng cách giàu nghèo giữa thành thị và nông thôn cũng ngày càng lớn.
* Cơ cấu vùng: Kinh tế các vùng đều tăng trưởng nhanh, nhưng đang có xu

Trung tâm kỹ thuật thực hành-hướng nghiệp . Về cơ bản đáp ứng nhu cầu dạy và
học trên địa bàn toàn tỉnh, kể cả ở các xã vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Số trường
đạt chuẩn quốc gia ở bậc tiểu học là 251 trường (đạt 34,5%), bậc THCS là 67
trường (đạt 10,3%) và bậc THPT là 7 trường (đạt 6,9%); Đội ngũ giáo viên được bổ
sung thường xuyên, từng bước hoàn thiện về cơ cấu và nâng cao chất lượng giảng
dạy, đáp ứng ngày càng tốt hơn yêu cầu phát triển sự nghiệp giáo dục của tỉnh.
Công tác giáo dục dạy nghề và đào tạo chuyên nghiệp có bước phát triển mạnh cả
về số lượng và chất lượng; và khá phong phú về loại hình đào tạo.
Công tác khoa học-công nghệ và quản lý tài nguyên-môi trường đã có
chuyển biến rõ rệt cả trong nhận thức cũng như triển khai ứng dụng vào thực tiễn
sản xuất.
Mạng lưới y tế được xây dựng khá hoàn thiện từ tỉnh đến xã phường, các cơ
sở y tế được đầu tư cơ bản về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị; nguồn nhân lực ngày
càng được tăng cường. Năm 2009, trên địa bàn tỉnh có 736 cơ sở khám chữa bệnh
bao gồm 37 bệnh viện(tuyến tỉnh 10 bệnh viện; 01 bệnh viên dân lập); 29 phòng

13


khám khu vực, 1 bệnh viện điều dưỡng, 1 khu điều trị bệnh phong và 634 trạm y tế
xã, phường với tổng số 7.691 cán bộ y tế định biên , trong đó có 1.591 bác sỹ và
134 dược sỹ có bằng đại học và trên đại học, trung bình 4,3 bác sỹ/1vạn dân . Số
giường bệnh hiện có 4.790gường, trung bình 12,8 giường/1vạn dân; 100% xã có
trạm y tế, 57% xã đạt 10 tiêu chuẩn quốc gia về y tế... Đến tháng 8/2009, Bệnh viện
nhi quy mô 200 giường đã đi vào hoạt động.
Văn hoá - thông tin. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn
hoá” mà trọng tâm là xây dựng nếp sống văn hoá, gia đình làng bản, cơ quan văn
hoá, thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới xin, ma chay, lễ hội... phát triển
mạnh và thu nhiều kết quả. Số làng văn hoá, cơ quan văn hoá tăng nhanh
3.3.Dân số

Bảng 3: Tổng vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Đơn vị: triệu đồng,%
Chỉ tiêu Đơn vị
Tổng
vốn đầu
tư toàn
xã hội

2005

2006

2007

2008

2009

đồng

839,199

1,060,377

1,808,479

2,560,683

4,664,774


Triệu
đồng

%

161635000

185102000

208100000

580000000

416200000

0.52

0.57

0.87

0.44

1.12

Từ kết quả cụ thể trong Bảng 3, ta có thể thấy tổng vốn đầu tư từ năm 20052009 đạt 10933512 triệu đồng, tăng gấp 7 lần so với thời kỳ 1991 – 1995 và gấp 4
lần so với thời kì 1996 – 2000, bình quân đạt 2186700 triệu đồng/ năm. Có thể nói
đây là một bước phát triển đáng ghi nhận mà tỉnh đã đạt được trong thời kỳ kế
hoạch của tỉnh 2006 – 2010. Quy mô vốn đầu tư toàn tỉnh có xu hướng tăng qua các
năm, năm sau cao hơn năm trước, giai đoạn sau cao hơn giai đoạn trước. Cụ thể là


16


qua hình thức hỗ trợ tín dụng đầu tư phát triển nhà nước… Nguồn vốn đầu tư toàn
xã hội bao gồm:
 Vốn ngân sách nhà nước
 Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước
 Vốn đầu tư của các doanh nghiệp nhà nước
 Vốn đầu tư tư nhân
 Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài

17


Bảng 4 : Quy mô nguồn vốn đầu tư phát triển tỉnh Thanh Hóa
Năm
2005

2006

2007

2008

2009

Chỉ tiêu

Đơn vị

Tỷ trọng

%

100

26.3869359

Quy mô

triệu đồng

1808.479

374.43

30

Tỷ trọng

%

100

20.7041386

1.65885255

Quy mô


8.08720851

30

Một số
nguồn bổ

Vốn trái phiếu
CP

ODA

148

0

44.75

17.63

0

5.332466

123.417

28

121.5



3.574837434 40.02411824
25

496.159

2.357652043 46.79081119 11.63897369
626.528

700.305

34.64391901 38.72342449
890.642

1113.914

1.366822836 34.78142355 43.50065978
80

18

Nguồn vốn
TW hỗ trợ

1012.872

3127.909

1.714981262 21.71320626 67.05381654



19


Bảng 5 : Tình hình thu hút vốn đầu tư (giá hiện hành)
1996 - 2000

2001 - 2005

Tỷ đ.

%

Tỷ đ.

%

Tỷ đ.

%

Tổng đầu tư

14.823,5

100

22.014,2

100


16.100

36,2

3

Vốn đầu tư nước ngoài

5.315,8

35,9

124.9

0,6

11.400

25,6

4

Vốn khác

514,6

3,5

1.607.7


2008

2009

Tổng vốn đầu tư Triệu
toàn xã hội
đồng

839,199 1,060,377 1,808,479 2,560,683

4,664,774

Vốn đầu tư từ
Triệu
ngân sách nhà
đồng
nước

764,449

4,485,974

Tốc độ tăng lien
hoàn vốn NSNN

%

VĐT
NSNN/


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status