CHƢƠNG 1.
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ
TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
SẢN XUẤT
1.1. Đặc điểm của doanh nghiệp sản xuất
Doanh nghiệp là đơn vị kinh tế có tư cách pháp nhân, quy tụ các phương tiện tài
chính, vật chất và con người nhằm thực hiện các hoạt động sản xuất, cung ứng, tiêu
thụ sản phẩm hoặc dịch vụ, trên cơ sở tối đa hóa lợi ích của người tiêu dùng, thông
qua đó tối đa hóa lợi ích của chủ sở hữu, đồng thời kết hợp một cách hợp lý các mục
tiêu xã hội.
Doanh nghiệp sản xuất là một đơn vị tổ chức sản xuất mà tại đó người ta kết hợp
các yếu tố sản xuất khác nhau do người lao động thực hiện nhằm bán ra trên thị trường
những sản phẩm, hàng hóa hay dịch vụ để nhận được khoản tiền chênh lệch giữa giá
bán sản phẩm với giá thành của sản phẩm ấy.
1.2. Những vấn đề chung về chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm trong doanh
nghiệp sản xuất
1.2.1. Khái niệm và phân loại chi phí sản xuất
1.2.1.1. Khái niệm chi phí sản xuất
Sự phát sinh và phát triển của xã hội loài người gắn liền với quá trình sản xuất.
Nền sản xuất xã hội của bất kỳ phương thức sản xuất nào cũng gắn liền với sự vận
động và tiêu hao các yếu tố cơ bản tạo nên quá trình sản xuất. Nói cách khác, quá trình
sản xuất hàng hóa là quá trình kết hợp của ba yếu tố: tư liệu lao động, đối tượng lao
động và sức lao động. Đồng thời quá trình sản xuất hàng hóa cũng chính là quá trình
tiêu hao của chính bản thân các yếu tố trên. Như vậy, để tiến hành sản xuất hàng hóa,
người sản xuất phải bỏ chi phí về thù lao lao động, về tư liệu lao động và đối tượng lao
động. Qua đó, có thể kết luận như sau: “Chi phí sản xuất kinh doanh là biểu hiện bằng
tiền của toàn bộ hao phí về lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ
ra có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh trong một thời kỳ nhất định (tháng,
quý, năm).“[2, tr.91]
Yếu tố chi phí khấu hao tài sản cố định: phản ánh tổng số khấu hao tài sản cố định
phải trích trong kỳ của tất cả tài sản cố định sử dụng cho sản xuất trong kỳ.
Yếu tố chi phí dịch vụ mua ngoài: phản ánh toàn bộ chi phí dịch vụ mua ngoài dùng
trong sản xuất.
Yếu tố chi phí khác bằng tiền: phản ánh toàn bộ chi phí khác bằng tiền chưa phản
ánh ở các yếu tố trên, dùng trong hoạt động sản xuất.
b) Phân loại theo khoản mục chi phí trong giá thành sản phẩm
Căn cứ vào ý nghĩa của chi phí trong giá thành sản phẩm và để thuận tiện cho
việc tính giá thành toàn bộ, chi phí được phân chia theo khoản mục. Cách phân loại
này dựa trên công dụng của chi phí và mức phân bổ chi phí cho từng đối tượng.
Giá thành sản phẩm bao gồm 5 khoản mục chi phí sau:
Chi phí nguyên, vật liệu trực tiếp: phản ánh toàn bộ chi phí nguyên, vật liệu chính,
phụ, nhiên liệu,… tham gia trực tiếp vào việc sản xuất sản phẩm hay thực hiện lao vụ,
dịch vụ.
2
Chi phí nhân công trực tiếp: gồm tiền lương, phụ cấp lương và các khoản trích quỹ
bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo tỷ lệ
với tiền lương phát sinh.
Chi phí sản xuất chung: là những chi phí phát sinh trong phạm vi phân xưởng sản
xuất (trừ chi phí vật liệu và nhân công trực tiếp).
Chi phí bán hàng: bao gồm toàn bộ chi phí phát sinh liên quan đến tiêu thụ sản
phẩm, hàng hóa, lao vụ.
Chi phí quản lý doanh nghiệp: bao gồm những chi phí phát sinh liên quan đến quản
trị kinh doanh và quản lý hành chính trong doanh nghiệp.
Ngoài 2 cách phân loại chi phí nêu trên, chi phí sản xuất kinh doanh còn được
phân loại theo nhiều cách khác như: Phân loại theo quan hệ của chi phí với khối lượng
công việc hoàn thành; Phân loại theo quan hệ của chi phí với quá trình sản xuất,.. Các
xác định trước khi bắt đầu sản xuất sản phẩm. Tuy nhiên, khác với giá thành kế hoạch
được xây dựng trên cơ sở các định mức bình quân tiên tiến và không biến đổi trong
suốt cả kỳ kế hoạch, giá thành định mức lại được xây dựng trên cơ sở định mức chi phí
hiện hành tại từng thời điểm nhất định trong kỳ kế hoạch (thường là ngày đầu tháng)
nên giá thành định mức luôn thay đổi phù hợp với sự thay đổi của các định mức chi
phí đạt được trong quá trình sản xuất sản phẩm.
Giá thành thực tế: giá thành thực tế là chỉ tiêu được xác định sau khi kết thúc quá
trình sản xuất sản phẩm trên cơ sở các chi phí phát sinh trong quá trình sản xuất sản
phẩm.
b) Theo phạm vi phát sinh chi phí
Theo phạm vi phát sinh chi phí, giá thành được chia thành giá sản xuất và giá
thành tiêu thụ:
Giá thành sản xuất (giá thành công xưởng): là chỉ tiêu phản ánh tất cả những chi phí
phát sinh liên quan đến việc sản xuất, chế tạo sản phẩm trong phạm vi phân xưởng, bộ
phận sản xuất, bao gồm chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, nhân công trực tiếp và chi
phí sản xuất chung.
Giá thành tiêu thụ (giá thành toàn bộ): là chỉ tiêu phản ánh toàn bộ các khoản chi
phí phát sinh liên quan đến việc sản xuất, tiêu thụ sản phẩm (chi phí sản xuất, quản lý
và bán hàng). Do vậy, giá thành tiêu thụ còn gọi là giá thành đầy đủ hay giá thành toàn
bộ và được tính theo công thức:
Giá thành toàn
=
bộ của sản
phẩm tiêu thụ =
Giá thành
sản xuất của
sản phẩm
+
B
D
CPSX dở dang
cuối kỳ
Tổng giá thành sản phẩm
Qua sơ đồ ta thấy: AC = AB + BD – CD, hay:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn =
=
thành
CPSX phát sinh
CPSX dở
dang đầu kỳ
+
=
trong kỳ (đã trừ
các khoàn thu hồi
ghi giảm chi phí)
-
CPSX dở
dang cuối
hạn chế và khả năng tiềm tàng, đề xuất các biện pháp đẻ giảm chi phí, hạ giá thành
sản phẩm.
1.4. Nội dung kế toán tập hợp chi phí sản xuất
1.4.1. Đối tượng tập hợp chi phí sản xuất
“Xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất chính là việc xác định giới hạn tập
hợp chi phí mà thực chất là xác định nơi phát sinh chi phí và nơi chịu chi phí.“
[2. Tr99]
Để xác định được đối tượng kế toán chi phí sản xuất cần dựa vào các cơ sở sau:
Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất: sản xuất giản đơn hay phức tạp.
Với sản xuất giản đơn, đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là sản phẩm hay
toàn bộ quá trình sản xuất (nếu sản xuất một thứ sản phẩm) hoặc có thể là nhóm sản
phẩm (nếu sản xuất nhiều thứ sản phẩm cùng tiến hành trong một quá trình lao
động).
Với sản xuất phức tạp, đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là bộ phận, chi
tiết sản phẩm, các giai đoạn chế biến, phân xưởng sản xuất hoặc nhóm chi tiết, bộ
phận sản phẩm,...
Loại hình sản xuất: đơn chiếc, sản xuất hàng loạt nhỏ hay sản xuất hàng loạt với
khối lượng lớn.
Với sản xuất đơn chiếc và sản xuất hàng loạt nhỏ, đối tượng kế toán chi phí là các
đơn đặt hàng riêng biệt.
Đối với sản xuất hàng loạt với số lượng lớn, phụ thuộc vào quy trình công nghệ
sản xuất (đơn giản hay phức tạp) mà đối tượng kế toán chi phí sản xuất có thể là sản
phẩm, nhóm sản phẩm, chi tiết, nhóm chi tiết, giai đoạn, công nghệ,..
Yêu cầu và trình độ quản lý, tổ chức sản xuất kinh doanh: dựa trên cơ sở trình độ,
yêu cầu và tổ chức quản lý để xác định đối tượng kế toán chi phí sản xuất. Với trình độ
cao có thể chi tiết theo các góc độ khác nhau. Với trình độ thấp thì đối tượng có thể bị
hạn chế, thu hẹp lại.
1.4.2. Chứng từ và tài khoản sử dụng
1.4.2.1. Chứng từ sử dụng
nhập kho hoặc chuyển đi bán.
quan đến sản xuất sản phẩm.
Trị giá phế liệu thu hồi, giá
trị sản phẩm hỏng không sửa
chữa được.
Số dư Nợ: Chi phí sản xuất, kinh
doanh còn dở dang cuối kỳ.
TK 631: Giá thành sản phẩm.
Tài khoản này dùng để phản ánh tổng hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản
phẩm dịch vụ ở các đơn vị sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp và các đơn
vị kinh doanh dịch vụ vận tải, bưu điện, du lịch, khách sạn,. . . trong trường hợp hạch
toán hàng tồn kho theo phương pháp kiểm kê định kỳ.
7
Thang Long University Library
TK 631
Kết chuyển giá trị sản phẩm dở
dang đầu kỳ.
Kết chuyển giá trị sản phẩm
dở dang cuối kỳ.
Các chi phí sản xuất phát sinh
trong kỳ liên quan tới chế tạo sản
TK 151, 152
NVL xuất kho chế tạo
sản phẩm, tiến hành lao vụ,
TK 152
Nhập kho NVL,
dùng không hết
dịch vụ
TK 331
Giá trị NVL mua xuất dùng
trực tiếp
TK 155
Nhập kho SP
hoàn thành
TK 133
TK 142, 242
TK 157
Phân bổ giá trị CCDC phục
vụ sản xuất
Sản phẩm hoàn thành
gửi đi bán không qua
lương nghỉ phép
TK 111, 112 331
Chi phí dịch vụ mua ngoài
TK 133
Sơ đồ 1.2. Kế toán chi phí sản xuất theo phƣơng pháp kê khai thƣờng xuyên
9
Thang Long University Library
1.4.4. Kế toán chi phí sản xuất theo phương pháp kiểm kê định kỳ
Theo phương pháp kiểm kê định kỳ, Các chi phí nguyên vật liệu trực tiếp, chi phí
nhân công trực tiếp, chi phí sản xuất chung sẽ được tập hợp lên TK 631.
Cuối kỳ Công ty tiến hành kiểm kê hàng tồn kho để xác định chi phí của sản
phẩm hoàn thành, hàng hoá bán ra trong kỳ.
Giá trị SPDD đầu kỳ
TK 631
TK 154
Giá trị SPDD cuối kỳ
TK 611
NVL dùng TT chế tạo sản
phẩm
TK 632
Sơ đồ 1.3. Kế toán chi phí sản xuất theo phƣơng pháp kiểm kê định kỳ
10
1.5. Các phƣơng pháp kiểm kê, đánh giá sản phẩm dở dang
Sản phẩm dở dang là những sản phẩm chưa kết thúc giai đoạn chế biến, còn đang
nằm trong quá trình sản xuất. Để tính được giá thành sản phẩm, doanh nghiệp cần thiết
phải tiến hành kiểm kê và tính giá sản phẩm dở dang. Tùy theo đặc điểm tổ chức sản
xuất, quy trình công nghệ và tính chất của sản phẩm mà doanh nghiệp có thể áp dụng
một trong các phương pháp tính giá sản phẩm dở dang sau.
1.5.1. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu chính
Theo phương pháp này, toàn bộ chi phí chế biến được tính hết cho thành phẩm.
Do vậy, trong sản phẩm dở dang chỉ bao gồm giá trị vật liệu chính mà thôi.
Giá trị vật liệu
chính nằm trong =
sản phẩm dở dang =
Chi phí NVL
chính tồn đầu kỳ
Số lƣợng
+
=
+
thành phẩm
Chi phí NVL
chính PS trong kỳ
=
Chi phí NVL
chính tồn đầu kỳ
Số lƣợng
thành phẩm
Số lƣợng SP dở dang
+
cuối kỳ không quy đổi
=
Chi phí chế biến
tồn đầu kỳ
Số lƣợng
thành phẩm
+
=
Chi phí NVL
chính PS trong kỳ
+
=
+
=
Thang Long University Library
1.5.3. Đánh giá sản phẩm dở dang theo 50% chi phí chế biến
Để đơn giản cho việc tính toán, đối với những loại sản phẩm mà chi phí chế
biến chiếm tỷ trọng thấp trong tổng chi phí, kế toán thường sử dụng phương pháp
này. Thực chất đây là một trường hợp của phương pháp ước tính theo sản lượng ước
tính tương đương, trong đó giả định sản phẩm dở dang đã hoàn thành ở mức độ 50%
so với thành phẩm.
Giá trị sản phẩm
dở dang chƣa
hoàn thành
=
=
Giá trị NVL chính
nằm trong sản phẩm
dở dang
+
=
50% chi phí
chế biến
(6)
1.5.4. Đánh giá sản phẩm dở dang theo chi phí nguyên vật liệu trực tiếp hoặc theo
chi phí trực tiếp
Xác định kỳ tính giá thành thích hợp sẽ giúp cho việc tổ chức công tác tính giá
thành sản phẩm theo khoa học, hợp lý, đảm bảo cung cấp số liệu về giá thành sản
phẩm kịp thời, trung thực.
Trên cơ sở đặc điểm tổ chức sản xuất sản phẩm, chu kỳ sản xuất sản phẩm của
doanh nghiệp mà có thể áp dụng 1 trong 3 trường hợp sau:
Trường hợp tổ chức sản xuất nhiều, chu kỳ sản xuất ngắn và xen kẽ liên tục thì kỳ
tính giá thành là hàng tháng.
Trường hợp sản xuất mang tính chất thời vụ (sản xuất nông nghiệp), chu kỳ sản
xuất dài thì kỳ tính giá thành là hàng năm hay kết thúc mùa, vụ.
Trường hợp tổ chức sản xuất đơn chiếc hoặc hàng loạt theo đơn đặt hàng, chu kỳ
sản xuất dài, sản phẩm hoặc hàng loạt sản phẩm chỉ hoàn thành khi kết thúc chu kỳ sản
xuất thì kỳ tính giá thành thích hợp là thời điểm mà sản phẩm và hàng loạt sản phẩm
đã hoàn thành.
1.6.3. Phương pháp tính giá thành
1.6.3.1. Phương pháp trực tiếp (Phương pháp giản đơn)
Phương pháp này áp dụng cho các doanh nghiệp thuộc loại hình sản xuất giản
đơn, số lượng mặt hàng ít, sản xuất với khối lượng lớn và chu kỳ sản xuất ngắn như
các nhà máy điện, nước, các doanh nghiệp khai thác (quặng, than, gỗ,..).
Giá thành sản phẩm theo phương pháp này được tính theo công thức sau:
Tổng giá thành
sản phẩm hoàn
thành
=
=
Giá thành đơn
vị sản phẩm,
dịch vụ
1.6.3.2. Phương pháp tổng cộng chi phí
Phương pháp này áp dụng với các doanh nghiệp mà quá trình sản xuất sản phẩm
được thực hiện ở nhiều bộ phận sản xuất, nhiều giai đoạn công nghệ.
Giá thành sản phẩm được xác định bằng cách cộng chi phí sản xuất ở các bộ
phận, chi tiết sản phẩm hay tổng chi phí sản xuất của các giai đoạn, bộ phận sản xuất
tạo nên sản phẩm.
Giá thành sản phẩm= Z = C1 + C2 + …+ Cn
Trong đó:
Z: Tổng giá thành
C1, C2,…, Cn: CPSX ở các giai đoạn nằm trong giá thành
Phương pháp tổng cộng chi phí được áp dụng phổ biến trong các doanh nghiệp
khai thác, dệt, nhuộm, cơ khí chế tạo, may mặc,…
1.6.3.3. Phương pháp hệ số
Phương pháp hệ số được áp dụng trong những doanh nghiệp mà trong cùng một
quá trình sản xuất cùng sử dụng một thứ nguyên liệu và một lượng lao động nhưng thu
được đồng thời nhiều sản phẩm khác nhau và chi phí không hạch toán riêng cho từng
loại sản phẩm được mà phải hạch toán chung cho cả quá trình sản xuất. Theo phương
pháp này, trước hết, kế toán căn cứ vào hệ số quy đổi để quy các loại sản phẩm về sản
phẩm gốc, từ đó, dựa vào tổng chi phí liên quan đến giá thành các loại sản phẩm đã tập
hợp để tính ra giá thành sản phẩm gốc và giá thành từng loại đơn vị.
Tổng giá thành
=
sản xuất của
sản phẩm gốc =
Giá thành đơn
vị sản phẩm
gốc (Z0)
=
Giá thành đơn
vị sản phẩm gốc
(Z0)
X
Trong đó:
Q0 = ∑ni 1 Qi x Hi
và Qi là số lượng sản phẩm i (chưa quy đổi)
14
Hệ số quy
đổi sản
phẩm (Hi)
(11)
(10)
1.6.3.4. Phương pháp tỷ lệ
Trong các doanh nghiệp sản xuất nhiều loại sản phẩm có quy cách, phẩm chất
khác nhau như may mặc, dệt kim, đóng giày, cơ khí chế tạo (dụng cụ, phụ tùng),… để
giảm bớt khối lượng hạch toán, kế toán thường tiến hành tập hợp chi phí sản xuất theo
nhóm sản phẩm cùng loại. Căn cứ vào tỷ lệ chi phí sản xuất thực tế với chi phí sản
xuất kế hoạch (hoặc định mức), kế toán sẽ tính ra giá thành đơn vị và tổng giá thành
sản phẩm từng loại.
Giá thành đơn
Tổng
Giá trị sản
phẩm chính + CPSX dở dang đầu = phát sinh
trong kỳ
kỳ
Giá trị sản
phẩm phụ thu hồi
Giá trị sản
phẩm chính (13)
dở dang cuối
kỳ
1.6.3.6. Phương pháp liên hợp
Đây là phương pháp áp dụng trong những doanh nghiệp có tổ chức sản xuất, tính
chất quy trình công nghệ và tính chất sản phẩm làm ra đòi hỏi việc tính giá thành kết
hợp nhiều phương pháp khác nhau như các doanh nghiệp sản xuất hóa chất, dệt kim,
đóng giầy, may mặc,… Trên thực tế, kế toán có thể kết hợp phương pháp trực tiếp với
tổng cộng chi phí, tổng cộng chi phí với tỷ lệ, hệ số với loại trừ giá trị sản phẩm phụ.
1.7. Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành theo các hình thức sổ
Sổ kế toán dùng để ghi chép tập hợp chi phí sản xuất gồm hai hệ thống sổ.
Sổ kế toán tổng hợp: Được mở cho tài khoản tổng hợp, tuỳ theo hình thức kế toán
mà doanh nghiệp áp dụng mà có các sổ kế toán khác nhau.
15
Thang Long University Library
Bảng cân đối số
phát sinh
Chú thích:
Báo cáo tài chính
Ghi hàng ngày
Ghi cuối tháng hoặc định kỳ
Quan hệ đối chiếu, kiểm tra
Việc lựa chọn các hình thức tổ chức sổ kế toán có vai trò đặc biệt quan trọng
trong công tác kế toán. Lựa chọn đúng hình thức kế toán sẽ góp phần nâng cao chất
lượng thông tin kế toán. Trong điều kiện ứng dụng máy tính vào công tác kế toán. Tuỳ
thuộc vào yêu cầu của doanh nghiệp mà phần mềm kế toán được xây dựng và cài đặt
hệ thống sổ kế toán tổng hợp tương ứng với hình thức kế toán doanh nghiệp phù hợp
với chế độ sổ kế toán quy định.
16
CHƢƠNG 2.
THỰC TRẠNG KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN
XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG
TY TNHH MTV KHAI THÁC VẬT LIỆU VÀ XÂY
DỰNG VĨNH KHÁNH
2.1. Tổng quan về Công ty TNHH MTV Khai thác Vật liệu và Xây dựng Vĩnh
Khánh
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH MTV Khai thác Vật
liệu và Xây dựng Vĩnh Khánh
Sơ đồ 2.1. Cơ cấu tổ chức của Công ty
Giám đốc
Phòng Tổ chức
Phòng Tài chính
– Hành chính
– Kế toán
Văn phòng
điều hành mỏ
Khu thi công
Ghi chú:
Quan hệ chỉ đạo
Quan hệ phối hợp
(Nguồn: Phòng Tổ chức – Hành chính)
Đứng đầu là giám đốc và các phòng ban đều thuộc ban giám đốc, các tổ đội thực
hiện việc sản xuất sản phẩm hoàn thành công trình.
Trong Công ty, các bộ phận phòng ban đều có chức năng và vai trò tham mưu
cho giám đốc xây dựng kế hoạch và ra quyết định.
Chức năng, nhiệm vụ của từng bộ phận
Giám đốc
Là người đại diện theo pháp luật, người điều hành mọi công việc trong Công ty,
thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, quyết định tất cả các vấn đề liên quan đến các
hoạt động hằng ngày của Công ty, chuẩn bị và tổ chức thực hiện kế hoạch sản xuất
kinh doanh, kế hoạch đầu tư, ký kết hợp đồng.
Phòng Tổ chức – Hành chính
Thủ kho, thủ
quỹ
Kế toán CPSX và tính
giá thành sản phẩm
(Nguồn: Phòng Tài chính - Kế toán)
Kế toán trưởng: Là người đứng đầu bộ máy kế toán, Giúp việc Giám đốc về công
tác chuyên môn, phổ biến chủ trương và chỉ đạo công tác chuyên môn của bộ phận
kế toán. Kiểm tra tình hình hạch toán, tình hình tài chính về vốn, huy động, sử dụng
vốn của Công ty.
Kế toán tổng hợp: Kiểm tra đối chiếu số liệu chi tiết và tổng hợp. Kiểm tra các
định khoản nghiệp vụ phát sinh, kiểm tra sự cân đối giữa số liệu kế toán chi tiết và
tổng hợp, kiểm tra số dư cuối kỳ có hợp lý và khớp đúng với các báo cáo chi tiết.
19
Thang Long University Library
Hạch toán thu nhập, chi phí, khấu hao, TSCĐ, công nợ, nghiệp vụ khác, thuế GTGT
Theo dõi công nợ quản lý tổng quát công nợ toàn công ty. Xác định và đề xuất lập
dự phòng hoặc xử lý công nợ phải thu khó đòi toàn công ty,… Kế toán trưởng kiêm
luôn vị trí này.
Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm: Kế toán tập hợp chi phí sản
xuất và tính giá thành sản phẩm có nhiệm vụ hạch toán, tập hợp, phân bổ các chi phí
phục vụ cho quá trình sản xuất và tiến hành tính giá thành sản phẩm. Cung cấp
thông tin cho giám đốc Công ty để có các quyết định hợp lý để tiết kiệm chi phí. Kế
toán trưởng kiêm luôn vị trí này.
Thủ quỹ và thủ kho: Là người quản lý quỹ tiền mặt tại Công ty và thủ kho Công ty
theo dõi vật tư, công cụ dụng cụ tại kho Công ty, tình hình nhập - xuất vật liệu,
cả chi phí được tập hợp cho quá trình sản xuất và tính giá thành nên công ty cũng
không có sản phẩm dở dang đầu kỳ và cuối kỳ.
2.2.2.1. Kế toán tập hợp chi phí nguyên vật liệu trực tiếp
Công ty tiến hành khai thác trực tiếp hỗn hợp gồm cát, đất, đá, sỏi,.. trực tiếp từ các
mỏ lên và đem đi sàng tuyển, rửa nên không có chi phí nguyên vật liệu trực tiếp tham
gia vào quá trình sản xuất.
2.2.2.2. Kế toán tập hợp chi phí nhân công trực tiếp
Công ty có 9 lao động chính và nhiều lao động thời vụ.
Tiền lương công nhân trực tiếp sản xuất bao gồm các khoản sau:
Tiền lương chính: Đây là khoản tiền được tính dựa trên Số ngày công và Mức
Lương. Mức lương là cố định và Số ngày công là biến đổi.
Tiền ăn ca: đây là khoản tiền ăn phụ cấp hàng tháng cho mỗi công nhân tại mỏ
khai thác.
Các khoản Bảo hiểm phải trả: Do Công ty trả tiền cho công nhân tự đóng Bảo
hiểm và được trả vào tiền lương của công nhân.
Chi phí nhân công trực tiếp được kế toán hạch toán vào tài khoản 154.
Ví dụ: Anh Tô Văn Sáng là Lái xe tải phục vụ quá trình khai thác, có số ngày công
là 23 công. Với mức lương là 110.000đ/công ta được:
Tiền lương
Tiền ăn ca
23 x 110.000
Thực lĩnh
2.530.000đ
690.000đ
3.220.000đ
Cuối tháng, Kế toán hạch toán tiền lương phải trả, như sau:
Tổng
số
công
Ngày trong tháng
Chức
vụ
1
2
3
4
5
6
7
8
9
10
11
22
x
x
x
x
x
x
x
x
x
1. Tô Văn
Sáng
Lái
xe
x x x
x x
x x x x x x
x
x
x
x
x
x
x
x
4. Diên Văn
Lái
x x x
x x x x x
x
x
x
x
24
26
27
28
29
x
x
x
x
x
x
x
x
x
23
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
x
nhân
6. Nguyễn
Ngọc Tiến
Lái
xe
…
23
x
x x
x
x x x
x
x
x
x
x
x
Công
ĐVT: đ
Tiền ăn ca
Tổng thực lĩnh
1.
Bùi Xuân Pa
G. Đốc
120.000
23
2.760.000
690.000
3.450.000
2.
Đinh Duy Hinh
K. Toán
Lái máy
110.000
23
2.530.000
690.000
3.220.000
5.
Diên Văn Lập
Lái xe
110.000
23
2.530.000
690.000
3.220.000
6.
8.
Trần Trung Thuận
Công nhân
110.000
23
2.530.000
690.000
3.220.000
9.
Nguyễn Ngọc Tiến Lái xe
110.000
23
2.530.000
690.000
3.220.000
Chi phí sản xuất chung của Công ty bao gồm: Chi phí nhiên liệu, chi phí khấu
hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí sửa chữa TSCĐ.
Chi phí khấu hao tài sản cố định: Chi phí này được hạch toán vào tài khoản 154.
Ví dụ: Tháng 11/2014 Công ty mua một máy xúc DOOSAN với giá 500.000.000đ
dự kiến sử dụng trong 10 năm, số năm trích khấu hao: 10 năm. Tháng 1/2015 bắt đầu
đưa vào sử dụng. Chi phí khấu hao được tính như sau:
Tỷ lệ trích khấu hao theo phương pháp đường thẳng: 1/10 x 100 = 10%
Chi phí khấu hao 1 năm
Chi phí khấu hao 1 tháng
4.166.000đ.
500.000.000 x 10%
50.000.000/12
Giá trị còn lại cuối tháng 1/2015
50.000.000đ
4.166.667đ. Kế toán làm tròn xuống
500.000.000 - 4.166.000 = 495.834.000đ
Vào tháng 1 năm 2015, Công ty có 7 TSCĐ hữu hình đăng ký trích khấu hao.
Cuối tháng kế toán tiến hành trích khấu hao cho cả 7 TSCĐ hữu hình này:
Nợ TK 154
20.254.000
Nợ TK 642
BẢNG ĐĂNG KÝ TÍNH TRÍCH KHẤU HAO TSCĐ HH NĂM 2015
“THEO QĐ SỐ: 203/2009 – BTC”
TT
Tên TSCĐ
Biển hiệu
Nguyên giá
Năm sử
dụng
TG sử
dụng
GTCL
31/12/2014
Mức trích
KH/ tháng
Số khấu
hao cả năm
GTCL
31/12/2015
I
18.000.000
14.198
2. Máy xúc bánh lốp
974.545.455
01/2011
10
999.793.360
8.917.000
107.004.000
892.789.360
14N–003.60
15.237.091
11/2011
6
7.181.091
6
61.949.090
1.290.000
15.480.000
46.469.090
Xe
14C-052.27
90.909.090
11/2012
6
60.597.090
1.263.000
15.156.000
45.441.090
Máy xúc bánh lốp
1.797.248.284 20.466.000
245.600.000 1.551.648.284
(Nguồn: Phòng Tài Chính – Kế Toán)
Bảng 2.3. Bảng đăng ký trích khấu hao TSCĐ hữu hình năm 2015
25
Thang Long University Library