bộ quốc phòng
học viện chính trị
nguyễn Sỹ HọA
THựC HIệN BìNH ĐẳNG DÂN TộC ở TÂY NGUYÊN
HIệN NAY THEO TƯ T-ởng hồ chí minh
Chuyờn ngnh : Ch ngha xó hi khoa hc
Mó s
: 62 22 85 01
luận án tiến sĩ triết học
NGI HNG DN KHOA HC
1. GS, TS Trnh Quc Tun
2. TS Lờ i Ngha
Hà Nội - 2010
Lời cam đoan
Tôi xin cam đoan đây là công
trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số
liệu, trích dẫn trong luận án là trung
thực và có xuất xứ rõ ràng, luận án
ch-a từng đ-ợc công bố trong bất kỳ
NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ
22
MINH – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1 Bình đẳng dân tộc và tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng
dân tộc ở Việt Nam
22
2.2 Thực chất và vai trò của thực hiện bình đẳng dân tộc ở
Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
50
Chƣơng 3 THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
TRONG THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở
TÂY NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƢ TƢỞNG HỒ
73
CHÍ MINH
3.1 Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo
tư tưởng Hồ Chí Minh - thực trạng và nguyên nhân
73
3.2 Những vấn đề đặt ra trong thực hiện bình đẳng dân tộc ở
Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh
104
Chƣơng 4 PHƢƠNG HƢỚNG VÀ GIẢI PHÁP TIẾP TỤC
THỰC HIỆN TỐT HƠN NỮA BÌNH ĐẲNG DÂN
TỘC Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY THEO TƢ
115
TƢỞNG HỒ CHÍ MINH
4.1 Những nhân tố tác động và phương hướng thực hiện bình
đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh
115
4.2 Những giải pháp cơ bản nhằm thực hiện tốt hơn nữa bình đẳng
CT
03
Chính sách dân tộc
CSDT
04
Chính trị quốc gia
CTQG
05
Chủ nghĩa xã hội
CNXH
06
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
CNH, HĐH
07
Dân tộc thiểu số
NQ
13
Quân đội nhân dân
QĐND
14
Quyết định
QĐ
15
Tỉnh uỷ
TU
16
Trang
tr.
17
Trung ương
của Đảng và Nhà nước ta. Để biến những tư tưởng, giá trị bình đẳng thành
hiện thực trong đời sống các dân tộc ở Việt Nam, vấn đề tiên quyết là phải
trung thành và tiếp tục vận dụng sáng tạo quan điểm chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực hiện BĐDT trên thực tế nhằm phát huy sức
mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, góp phần vào thắng lợi của sự nghiệp
xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN hiện nay.
Tây Nguyên là vùng chiến lược về kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh
của cả nước; là địa bàn cư trú của 45 dân tộc, nhưng trình độ phát triển kinh tế
- xã hội của các dân tộc không đều nhau, nơi đang tiềm ẩn những nhân tố bất
ổn định về vấn đề dân tộc, BĐDT. Do đó, giải quyết vấn đề dân tộc nói chung
và thực hiện BĐDT nói riêng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự phát
triển Tây Nguyên, là vấn đề có tính nguyên tắc trong thực thi CSDT nhằm
bảo đảm quyền bình đẳng của các dân tộc và phát huy khối đại đoàn kết dân
tộc trên địa bàn, góp phần “xây dựng Tây Nguyên giàu về kinh tế, vững về
chính trị, phát triển nhanh về văn hoá - xã hội, mạnh về quốc phòng, an ninh,
tiến tới xây dựng Tây Nguyên thành vùng kinh tế động lực”[27, tr.2].
Trong những năm gần đây, Đảng và Nhà nước ta đã quán triệt, vận dụng
tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT vào thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên đạt
được kết quả tích cực; đời sống mọi mặt của đồng bào các dân tộc, nhất là
6
đồng bào các DTTS từng bước được nâng cao, quyền bình đẳng mọi mặt từng
bước thể hiện trong đời sống của các dân tộc. Tuy nhiên, trong thực hiện
BĐDT trên địa bàn còn những hạn chế, khuyết điểm nhất định. Biểu hiện có
lúc, có nơi nhận thức chưa đầy đủ, thậm chí hiểu chưa đúng tư tưởng Hồ Chí
Minh về BĐDT; việc tổ chức thực hiện BĐDT thiếu sáng tạo, có sự sai lệch,
vi phạm dẫn đến hiệu quả trên thực tế chưa cao; các chính sách hỗ trợ xoá đói,
giảm nghèo vùng DTTS chưa được triển khai tích cực và hiệu quả chưa đạt
được như mong muốn. Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm cho
tốt BĐDT, từng bước khắc phục sự chênh lệch về trình độ phát triển giữa các
dân tộc. Đây là giải pháp góp phần làm thất bại mọi âm mưu, thủ đoạn của các
thế lực thù địch lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để chống phá cách mạng
nước ta trên địa bàn Tây Nguyên. Do đó, thực hiện BĐDT theo tư tưởng Hồ
Chí Minh là vấn đề vừa cấp bách, vừa có ý nghĩa cơ bản, lâu dài, góp phần đưa
Tây Nguyên cùng cả nước tiến lên CNXH.
Từ những lý do trên, tác giả chọn đề tài: “Thực hiện bình đẳng dân tộc
ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh” làm luận án tiến sĩ
Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học. Đề tài này có ý nghĩa lý
luận, thực tiễn thiết thực, vừa cấp bách vừa cơ bản, lâu dài.
2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích:
Nghiên cứu đề xuất những luận cứ khoa học nhằm thực hiện tốt BĐDT ở
Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
* Nhiệm vụ:
- Nghiên cứu, làm rõ nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
BĐDT ở Việt Nam và những vấn đề lý luận về thực hiện BĐDT ở Tây
Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
8
- Đánh giá đúng thực trạng, chỉ rõ nguyên nhân và phát hiện những vấn
đề cấp bách đặt ra cần tập trung giải quyết trong thực hiện BĐDT ở Tây
Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
- Xác định phương hướng và đề xuất những giải pháp cơ bản nhằm thực
hiện tốt hơn nữa BĐDT trên địa bàn Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh.
3. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
* Đối tượng:
Nghiên cứu vấn đề thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên theo tư
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận án góp phần làm sáng tỏ nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về BĐDT; cung cấp một số cơ sở lý luận và thực tiễn cho lãnh đạo
Đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội thực hiện tốt hơn CSDT,
BĐDT, góp phần làm thất bại âm mưu phá hoại của các thế lực thù địch, xây
dựng địa bàn Tây Nguyên giàu mạnh và phát triển bền vững. Luận án có thể
được dùng làm tài liệu nghiên cứu, giảng dạy những nội dung có liên quan ở
các nhà trường trong và ngoài quân đội.
7. Kết cấu của luận án
Luận án gồm phần mở đầu, 4 chương (8 tiết), kết luận, danh mục công
trình khoa học của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án, danh
mục tài liệu tham khảo và phụ lục.
10
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến tƣ tƣởng Hồ Chí Minh,
quan điểm của Đảng và Nhà nƣớc ta về vấn đề dân tộc, chính sách dân
tộc và bình đẳng dân tộc
1.1.1. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến tư tưởng Hồ Chí Minh
về vấn đề dân tộc và bình đẳng dân tộc
Ở nước ta, tư tưởng Hồ Chí Minh là đối tượng của một khoa học mới Hồ Chí Minh học, đang được triển khai nghiên cứu một cách nghiêm túc, hệ
thống, toàn diện và đạt được những thành tựu quan trọng. Trong đó, tư tưởng
của Người về vấn đề dân tộc và BĐDT đã được nhiều nhà khoa học quan tâm
nghiên cứu. TS Hoàng Trang - TS Phạm Ngọc Anh, trong cuốn sách “Tư
tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội”[115],
đã đề cập tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân tộc và BĐDT ở cấp độ quốc
gia - dân tộc trong quan hệ quốc tế; khẳng định thực chất vấn đề dân tộc là
1.1.2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến vấn đề dân tộc, thực hiện
chính sách dân tộc và bình đẳng dân tộc của Đảng và Nhà nước ta
Về vấn đề dân tộc: trên cơ sở nhận thức đúng vị trí chiến lược của vấn đề
dân tộc trong cách mạng XHCN, Đảng và Nhà nước ta đã đề ra quan điểm,
CSDT đúng đắn, phù hợp với từng giai đoạn cách mạng. Tại Hội nghị Trung
ương lần thứ Bảy (Khoá IX) tháng 3 năm 2003, Đảng ta ra nghị quyết chuyên
đề Về công tác dân tộc nhằm tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò chiến lược cơ
bản, lâu dài của vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc; chỉ ra thành tựu, hạn chế và
nguyên nhân của công tác dân tộc trong thời gian qua; trên cơ sở đó xác định
những quan điểm, nguyên tắc, mục tiêu, nội dung, giải pháp thực hiện công
tác dân tộc trong thời gian tới. Các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước đã
quan tâm nghiên cứu về vấn đề này. Trong đó, bài “Mấy vấn đề bức thiết đối
12
với các vùng dân tộc thiểu số hiện nay”[59] của đồng chí Nông Đức Mạnh, đã
phân tích những vấn đề cấp bách đặt ra đối với đồng bào các DTTS hiện nay,
để chỉ đạo việc vận dụng trong quá trình hoạch định CSDT nhằm xây dựng
khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước.
Dưới nhiều cách tiếp cận khác nhau, các nhà khoa học đã có những công
trình mang tính lý luận và thực tiễn sâu sắc tập trung nghiên cứu vấn đề dân tộc
ở Việt Nam, có liên quan đến vấn đề mà tác giả luận án này đang nghiên cứu.
Trong đó, có cuốn sách “Quan hệ giữa các tộc người trong một quốc gia dân
tộc”[126] của GS Đặng Nghiêm Vạn; công trình “Góp phần nghiên cứu dân tộc
học Việt Nam”[18] của GS. TS Phan Hữu Dật đã đưa ra cách tiếp cận hợp lý về
khái niệm dân tộc, nguồn gốc, quá trình hình thành một số dân tộc ở Việt Nam,
đặc điểm kinh tế - xã hội ở một số vùng DTTS, quan hệ dân tộc ở nước ta…
Những vấn đề nghiên cứu trong công trình này góp phần làm cơ sở cho Đảng,
Nhà nước ta tham khảo để hoạch định CSDT phù hợp với giai đoạn cách mạng
hiện nay. Tuy nhiên, tác giả chưa bàn trực tiếp đến vấn đề BĐDT trong quan hệ
Vấn đề BĐDT và việc tổ chức thực hiện BĐDT ở nước ta đã có nhiều
công trình nghiên cứu. Trong đó có cuốn sách “Bình đẳng dân tộc ở nước ta
hiện nay - vấn đề và giải pháp”[123] của GS. TS Trịnh Quốc Tuấn, đã tập trung
nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về BĐDT ở Việt Nam. Tác giả đã
luận giải một số khía cạnh nhận thức về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc,
những vấn đề đặt ra trong quá trình thực hiện bình đẳng giữa các dân tộc ở
vùng dân tộc, miền núi ở nước ta. Trên cơ sở trình bày lý luận chủ nghĩa Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT, đặc điểm dân tộc, quá trình lãnh đạo
và tổ chức thực hiện CSDT ở Việt Nam, tác giả đã đề xuất hệ thống nhóm giải
pháp thực hiện BĐDT ở nước ta. Đây là những giải pháp có thể tham khảo và
vận dụng đối với từng vùng trong cả nước. Tuy nhiên, vấn đề thực hiện BĐDT
ở Tây Nguyên cần được nghiên cứu một cách cụ thể và đầy đủ.
14
Các tác giả: Hoàng Đức Nghi với bài “Xoá đói giảm nghèo ở miền núi,
vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn”[94] và Hà Quế Lâm “Xoá đói
giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta hiện nay - thực trạng và giải
pháp”[50], đã nghiên cứu vấn đề cơ bản của thực hiện BĐDT ở nước ta là xoá
đói, giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, miền núi và vùng đồng bào DTTS.
Trong đó, các tác giả đề cập khá rõ những giải pháp nhằm đẩy nhanh quá
trình xoá đói, giảm nghèo ở vùng DTTS.
Trong cuốn sách “Bảo đảm bình đẳng và tăng cường hợp tác giữa các
dân tộc trong phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta hiện nay”[12], do GS. TS
Hoàng Chí Bảo (Chủ biên), đã phân tích lý luận về dân tộc, quan hệ dân tộc
và CSDT theo quan điểm đổi mới của Đảng, đánh giá thực trạng, phát hiện
các vấn đề quan hệ dân tộc - tộc người và thực hiện CSDT ở các vùng trọng
điểm, đề xuất phương hướng, quan điểm, giải pháp chung thực hiện bình đẳng
và tăng cường hợp tác giữa các dân tộc ở nước ta. Trong đó, nhiều nội dung
được các tác giả bàn đến có liên quan đến vấn đề BĐDT ở Tây Nguyên. Như
vấn đề bảo đảm bình đẳng gắn với tăng cường đoàn kết giữa các dân tộc là
tập hợp những bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Mặt trận,
Bộ Quốc phòng về Tây Nguyên nói chung khá toàn diện. Tổng Bí thư Nông
Đức Mạnh - “Tây Nguyên vùng đất giàu đẹp của Tổ quốc”; Thủ tướng Nguyễn
Tấn Dũng - “Phát triển nhanh và bền vững vùng Tây Nguyên”; Chủ tịch nước
Trần Đức Lương - “Để Tây Nguyên phát triển ngang tầm cùng cả nước”; Chủ
tịch Uỷ ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Phạm Thế Duyệt - “Đồng
bào các dân tộc qua 60 năm đoàn kết xây dựng và bảo vệ Tổ quốc theo lời dạy
của Chủ tịch Hồ Chí Minh”; Mai Văn Năm, Phó trưởng ban thường trực Ban
Chỉ đạo Tây Nguyên - “Tây Nguyên quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết
10”; Thượng tướng Nguyễn Văn Được, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng - “Thế trận
lòng dân Tây Nguyên” và những bài của các đồng chí lãnh đạo các tỉnh ở Tây
Nguyên. Trong những bài viết trên, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước,
ban, ngành, địa phương đã tập trung phân tích những đặc điểm địa lý, tự nhiên,
16
kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc, truyền thống… và xác định những quan điểm
chỉ đạo, cụ thể hoá những chủ trương, chính sách phát triển kinh tế - xã hội phù
hợp với tính đặc thù Tây Nguyên.
Về vấn đề dân tộc và quan hệ dân tộc ở Tây Nguyên, trong thời kỳ thực
dân Pháp xâm lược, một số công trình của các tác giả người Pháp có quan
điểm tiến bộ khi nghiên cứu về các dân tộc ở Tây Nguyên, như:
G.Condominas Về người M’nông Ga; J. Dournes Về người Gia Rai; Bulbe Về
người Mạ… Trong đó, các tác giả đã khảo cứu về nguồn gốc, văn hoá, tín
ngưỡng, phong tục của một số dân tộc đã sinh sống lâu đời ở Tây Nguyên.
Kết quả của các nghiên cứu đó tuy chưa toàn diện và ban đầu chỉ nhằm phục
vụ cho công cuộc xâm lược của thực dân Pháp đối với nước ta và Tây
Nguyên, nhưng trong đó chứa nhiều nội dung bổ ích được nhiều nhà Dân tộc
học Việt Nam kế thừa và phát triển.
Trong thời kỳ 1954 - 1975, người Mỹ đã tăng cường nghiên cứu về các
nghiên cứu: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về dân tộc và quan hệ dân tộc ở
Tây Nguyên”[21] và cuốn sách chuyên khảo “Xây dựng và củng cố khối đại
đoàn kết dân tộc ở Tây Nguyên”[22]. Tác giả đã trình bày quan điểm chủ nghĩa
Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về vấn đề dân tộc, đoàn kết dân tộc; nhận định xu hướng phát triển quan hệ dân
tộc sự tác động ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế, chính trị, văn hoá, tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống và quan hệ giữa các dân tộc ở Tây Nguyên; đánh giá quá
trình xây dựng khối đoàn kết các dân tộc ở Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, từ
đó đề xuất một số phương hướng giải quyết vấn đề dân tộc, đoàn kết các dân tộc
Tây Nguyên. Tuy nhiên, vấn đề BĐDT có quan hệ mật thiết và là cơ sở của đoàn
kết, tác giả mới chỉ đề cập trên một số khía cạnh nhất định.
Bài “Giải quyết việc làm và thu nhập trong quá trình xoá đói giảm
nghèo ở Tây Nguyên”[92] của TS Nguyễn Văn Nam, đã đánh giá khái quát
18
những kết quả và hạn chế trong tạo việc làm và tăng thu nhập cho đồng bào
các DTTS trong quá trình xoá đói, giảm nghèo, xác định những nội dung cơ
bản nhằm giải quyết vấn đề việc làm và thu nhập bằng các chính sách hỗ trợ
cho đồng bào. Đây là một trong những nội dung trọng tâm trong thực hiện
BĐDT ở Tây Nguyên.
Hiện nay, giữ vững ổn định chính trị là vấn đề tác động trực tiếp đến sự
phát triển bền vững ở Tây Nguyên; đồng thời là điều kiện rất cơ bản để thực
hiện bình đẳng giữa các dân tộc trên địa bàn. Từ góc nhìn đó, cuốn sách “Một
số giải pháp góp phần ổn định và phát triển ở Tây Nguyên hiện nay”[45], do
PGS. TS Phạm Hảo làm chủ biên, đã phân tích tình hình dân tộc, quan hệ dân
tộc và sự tác động của nó đến sự ổn định chính trị, lý giải nguyên nhân, rút ra
bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp đồng bộ nhằm giữ vững ổn định
chính trị trong quá trình phát triển bền vững ở Tây Nguyên. Luận án tiến sĩ
Triết học của Nguyễn Trường Sơn “Phát huy vai trò bộ đội địa phương trong
xây dựng hệ thống chính trị cơ sở làm thất bại chiến lược “diễn biến hoà
Những công trình khoa học nghiên cứu về Tây Nguyên đã đề cập nhiều
lĩnh vực với những đối tượng, phạm vi, phương pháp tiếp cận khác nhau,
nhưng đây thực sự là tài liệu quan trọng để tác giả tham khảo, kế thừa trong
nghiên cứu đề tài này.
1.2.2. Những vấn đề liên quan đến đề tài chưa được nghiên cứu
Một là, những công trình khoa học nêu trên đã luận giải những góc độ
khác nhau của tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT, nhưng tư tưởng của Người
về BĐDT trong quan hệ giữa các dân tộc ở Việt Nam chưa được trình bày
một cách hệ thống. Do đó, tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT ở Việt Nam là
vấn đề đặt ra cần nghiên cứu một cách cơ bản, hệ thống từ nguồn gốc đến nội
dung và vai trò của hệ thống tư tưởng của Người đối với thực hiện BĐDT ở
nước ta, góp phần cung cấp cơ sở lý luận trực tiếp cho việc thực hiện BĐDT ở
Tây Nguyên hiện nay và những năm tiếp theo.
20
Hai là, Tây Nguyên là vùng trọng điểm của cả nước, nơi có nhiều nét
đặc thù về kinh tế, văn hoá, xã hội, dân tộc, tôn giáo, quốc phòng - an ninh.
Do đó, Đảng, Nhà nước và các nhà khoa học đã quan tâm đầu tư nghiên cứu
một cách khá toàn diện. Nhưng hiện nay, vấn đề thực hiện BĐDT ở Tây
Nguyên theo tư tưởng Hồ Chí Minh gắn với Cuộc vận động học tập và làm
theo tư tưởng, tấm gương đạo đức của Người vẫn đang đặt ra nhiều khía cạnh
phải tìm hiểu và giải quyết. Cho nên, nghiên cứu về thực hiện BĐDT ở Tây
Nguyên trên cơ sở vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh là vấn đề vừa có
tính lý luận sâu sắc vừa có tính thực tiễn thiết thực, góp phần thực hiện tốt
hơn nữa BĐDT trên địa bàn.
Ba là, tuy các nhà khoa học đã tập trung nghiên cứu khá sâu vấn đề dân
tộc, thực hiện CSDT ở Tây Nguyên, nhưng khảo sát và đánh giá cụ thể kết
quả thực hiện BĐDT trên địa bàn theo tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được làm
rõ. Do đó, khảo sát thực trạng, chỉ ra những vấn đề cấp bách đặt ra cần giải
cách hệ thống. Đó là: tư tưởng Hồ Chí Minh về BĐDT trong quan hệ giữa các
dân tộc ở Việt Nam; thực chất vấn đề thực hiện BĐDT ở Tây Nguyên theo tư
tưởng Hồ Chí Minh; thực trạng, nguyên nhân, những vấn đề đặt ra cần giải
quyết và cần tìm những giải pháp đột phá trực tiếp nâng cao hiệu quả thực
hiện BĐDT ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ Chí Minh.
Như vậy, dưới góc độ chính trị - xã hội, nghiên cứu một cách cơ bản vấn
đề “Thực hiện bình đẳng dân tộc ở Tây Nguyên hiện nay theo tư tưởng Hồ
Chí Minh” là đề tài độc lập, không trùng lặp với các công trình khoa học đã
công bố, có ý nghĩa lý luận cơ bản và thực tiễn cấp thiết hiện nay.
22
Chƣơng 2
THỰC HIỆN BÌNH ĐẲNG DÂN TỘC Ở TÂY NGUYÊN HIỆN NAY
THEO TƢ TƢỞNG HỒ CHÍ MINH – NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
2.1. Bình đẳng dân tộc và tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về bình đẳng dân
tộc ở Việt Nam
2.1.1. Quan niệm về bình đẳng và bình đẳng dân tộc ở Việt Nam
* Bình đẳng
Trong quá trình phát triển của xã hội loài người, con người luôn có nhu
cầu vươn tới sự bình đẳng trong quan hệ giữa người với người, giữa các nhóm
người, các dân tộc và giữa các quốc gia - dân tộc. Tuy nhiên, bình đẳng luôn
phụ thuộc vào trình độ kinh tế - xã hội ở mỗi giai đoạn lịch sử nhất định.
Dưới chế độ cộng sản nguyên thuỷ, bình đẳng ở trình độ sơ khai, đó là sự
“cào bằng tương đối”. Bước vào chế độ chiếm hữu nô lệ, khi xuất hiện giai
cấp, nhà nước và tình trạng áp bức, bóc lột thì sự bất bình đẳng giữa người
với người diễn ra phổ biến.
Trong xã hội phong kiến phương Đông, học thuyết Nho giáo coi sự bình
đẳng là quyền vốn có của con người trong một “xã hội đại đồng”. Tuy nhiên,
quyền ấy lại phụ thuộc vào “Trời” và chỉ bình đẳng trước “Trời”, còn ở xã hội
Hiện nay, các học giả nước ngoài tiếp cận bình đẳng chủ yếu ở khía cạnh
quyền, nghĩa vụ, cơ hội gắn liền với công bằng xã hội. Trong tác phẩm “Lý
thuyết về công lý”, John Rawls cho rằng, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi
cho mỗi cá nhân không phân biệt sự khác biệt bẩm sinh và địa vị xã hội, thì
chỉ có trong “xã hội lý tưởng”; còn “trong thể chế xã hội hiện thực thì sự công
bằng, bình đẳng không đòi hỏi xã hội phải cố gắng san phẳng những điều kiện
bất lợi với mong muốn tạo được sự ngang bằng giữa mọi người”[129, tr.86].
Thực chất, đó là quan điểm cổ vũ chủ nghĩa tự do mới, đề cao lợi ích cá nhân
của giai cấp tư sản trong xã hội tư bản. Klanx Khiôpke nhấn mạnh “bình đẳng
kiểu ra lệnh”, “chủ nghĩa bình quân”, nhằm làm sâu sắc sự bất bình đẳng xã
hội bằng phương cách chủ yếu là thông qua pháp luật để duy trì và bảo vệ sự
áp bức của giai cấp thống trị đối với nhân dân lao động.
24
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, bình đẳng là một giá trị xã
hội hướng con người đến sự hoà hợp với nhau và được xem xét trong nhiều
mối quan hệ: giữa người với người, nhóm xã hội này với nhóm xã hội khác,
dân tộc này với dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác… diễn ra trên
mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội và trong mối quan hệ giữa
quyền lợi - nghĩa vụ, cống hiến - hưởng thụ. Bình đẳng là kết quả của quá
trình đấu tranh lâu dài và phát triển cùng với sự phát triển lịch sử - xã hội. Để
có bình đẳng hoàn toàn trên thực tế phải xoá bỏ tận gốc mọi sự áp bức, bóc lột
và xây dựng thành công chủ nghĩa cộng sản trên phạm vi toàn thế giới.
Hồ Chí Minh quan niệm bình đẳng là “bình quyền”. Đó là quyền của
mỗi người dân được sống, được tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc; bình
đẳng gắn liền với chế độ dân chủ và đối lập với “bất bình đẳng”, mọi sự bất
bình đẳng đều phải xoá bỏ; bình đẳng luôn gắn với độc lập, tự do, hạnh phúc,
là “bình đẳng thật” chứ không phải “bình đẳng giả dối” của đế quốc, thực dân.
Từ những dẫn giải trên, tác giả quan niệm: Bình đẳng là nhu cầu tự
có chung những đặc điểm sinh hoạt văn hoá vật chất, văn hoá tinh thần, tạo
nên bản sắc của văn hoá dân tộc; các thành viên có chung ý thức tự giác dân
tộc (sự tự ý thức về dân tộc mình từ nguồn gốc nhân chủng, ngôn ngữ, sắc
thái văn hoá đến tên gọi; ý thức tự khẳng định sự tồn tại và phát triển của dân
tộc mình). Ý thức tự giác dân tộc là kết quả tích hợp của các yếu tố trên và trở
thành đặc trưng quan trọng nhất để phân định dân tộc này với dân tộc khác.
Ngoài ra, “dân tộc” còn được dùng với hàm nghĩa chỉ DTTS (như người dân
tộc mà chúng ta vẫn từng nói là hàm ý chỉ DTTS).
Theo nghĩa thứ hai, dân tộc là một cộng đồng người cùng chung sống
trên một lãnh thổ, có chung một chế độ kinh tế, thể chế chính trị, nền văn
hoá, có một ngôn ngữ chung để giao tiếp và có chung đặc điểm tâm lý dân
tộc tạo nên ý thức quốc gia - dân tộc. Trong đó, cùng chung một thể chế
kinh tế, chính trị - xã hội là đặc trưng quan trọng; cùng chung một nền văn