Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 - Pdf 35

Tài liệu tuyên truyền: Đề án Tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp đến năm
2020, tầm nhìn đến năm 2030
I- Tại sao tỉnh Đồng Tháp thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp?
Từ trước đến nay, nông nghiệp luôn là ngành kinh tế chủ lực của Tỉnh, sản lượng
lúa gạo, cá tra của Tỉnh liên tục phát triển nhưng tính ổn định, tính hiệu quả trong sản
xuất không cao. Đa số người trồng lúa, nuôi cá hay sản xuất các loại nông sản khác
không xác định được khi thu hoạch sẽ bán cho ai, lãi lỗ ra sao. Các doanh nghiệp chế
biến nông sản cũng gặp khó khăn khi không cân đối được nguồn nguyên liệu sản xuất,
không tìm nguồn cung ứng ổn định với chất lượng đảm bảo yêu cầu thị trường tiêu thụ.
Từ năm 2005 đến nay, tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp có xu thế giảm
dần bởi việc tăng trưởng nông nghiệp theo chiều rộng (mở rộng diện tích sản xuất, tăng
vụ), khai thác các lợi thế tự nhiên (nuôi trồng thủy sản) đã không còn là lợi thế cạnh
tranh. Việc tăng nhanh sản lượng nông sản nhưng không cải tiến chất lượng, không gắn
kết với thị trường tiêu thụ đã khiến nông dân phải nhiều lần lao đao, thua lỗ vì không tiêu
thụ được hàng hóa. Vấn đề này không phải là vấn đề riêng của nông nghiệp Đồng Tháp
mà là vấn đề chung của cả nền nông nghiệp Việt Nam. Để giải quyết vấn đề này ở tầm
quốc gia, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 899/QĐ-TTg ngày
10/06/2013 phê duyệt Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị
gia tăng.
Khả năng cạnh tranh trong sản xuất nông nghiệp của Đồng Tháp cũng có xu thế
giảm dần và kém hơn các tỉnh trong vùng ĐBSCL. Giá trị sản phẩm trồng trọt thu được
trên 1 ha đất trồng trọt của Đồng Tháp tăng chậm so với các tỉnh trong khu vực ĐBSCL,
đến năm 2011, giá trị này là 88,82 triệu đồng/ha, thấp hơn mức bình quân chung của khu
vực là 91,1 triệu đồng/ha. Năm 2012 chỉ số này của Tỉnh là 91 triệu đồng/ha (cao nhất ở
thành phố Sa Đéc 157 triệu đồng/ha, thấp nhất huyện Tam Nông 63 triệu đồng/ha).
Năng suất lao động xã hội ngành nông nghiệp thấp: năm 2011, năng suất lao động
ngành nông-lâm nghiệp đạt 24,12 triệu đồng/năm, bằng 62,15% năng suất lao động xã
hội của Tỉnh, giảm 7,52% so với năm 2005.
Chuyển dịch cơ cấu ngành chậm: giá trị sản xuất ngành chăn nuôi chỉ chiếm 10%
tổng giá trị sản xuất nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp), tỷ lệ này
cơ bản không thay đổi trong nhiều năm. Trong lĩnh vực trồng trọt, sản xuất hoa màu, cây

lĩnh vực nông nghiệp, xuống còn khoảng 50% lao động xã hội. Phát triển đa dạng các
loại hình ngành nghề thu hút nhiều lao động, du lịch nông thôn.
- Chương trình xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã cơ
bản đạt tiêu chuẩn. Nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn lên 2 lần so với hiện nay.
Giảm tỷ lệ nghèo nông thôn 2% mỗi năm. Phát huy dân chủ cơ sở, sự tự chủ của cộng
đồng, huy động sức mạnh toàn xã hội để phát triển nông thôn.


- Từng bước hiện đại hóa nông nghiệp, ứng dụng khoa học công nghệ, cơ giới
hóa, áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn thị trường trong sản xuất các mặt hàng
chiến lược, đảm bảo an ninh sinh học trong chăn nuôi, bảo vệ môi trường.
c- Mục tiêu cụ thể đến năm 2030:
- Tốc độ tăng trưởng GDP nông - lâm - thủy sản tương đương với giai đoạn 2016
- 2020.
- Phát triển đồng bộ các vùng chuyên canh nông nghiệp có các cụm công nghiệp dịch vụ trung tâm với kết cấu hạ tầng hiện đại. Hoàn thiện kinh tế hợp tác, trang trại,
doanh nghiệp nông nghiệp, hiệp hội, hoàn chỉnh liên kết dọc theo ngành hàng, kết nối
giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh.
- Tạo bước đột phá trong thu hút đầu tư tư nhân trong và ngoài Tỉnh. Phát triển
kinh tế dịch vụ, thương mại, du lịch nông thôn để thu hút lao động nông thôn, giảm tỷ lệ
lao động nông nghiệp xuống 25% lao động xã hội.
- Cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới. Đảm bảo quy hoạch
dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn kết hài hòa với phát triển đô thị, công nghiệp.
Nâng cao thu nhập của dân cư nông thôn và đảm bảo an ninh dinh dưỡng ở nông thôn.
- Bảo vệ tài nguyên tự nhiên và bảo tồn đa dạng sinh học; thúc đẩy phát triển nền
“nông nghiệp xanh”; cải thiện căn bản năng lực phòng chống thiên tai, dịch bệnh; nâng
cao năng lực quản lý rủi ro để ứng phó với các tác động xấu của biến đổi khí hậu.
3- Quan điểm tái cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn
- Phát huy ưu thế của Tỉnh về sản xuất nông nghiệp làm động lực phát triển kinh
tế, xã hội hiệu quả và vững bền. Lấy tái cơ cấu ngành nông nghiệp làm trọng tâm tái cơ
cấu kinh tế chung của Tỉnh.

Trên cơ sở phân tích các yếu tố: Thị trường tiêu thụ trong và ngoài nước, phân
khúc thị trường tiềm năng của ngành hàng; so sánh lợi thế về giá thành sản xuất, sản
lượng hàng hóa, hệ thống canh tác, liên kết trong chuỗi giá trị, tiềm năng phát triển sản
xuất, hệ thống cơ sở hạ tầng phục vụ cho khâu sản xuất, chế biến, bảo quản tiêu thụ nông
sản. Tỉnh đã chọn lựa 5 mặt hàng chủ lực để tổ chức tái cơ cấu sản xuất: lúa gạo, cá tra,
hoa kiểng, xoài, con vịt.
Tuy nhiên, Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp là Đề án khung, có thời gian thực
hiện dài (đến năm 2030), vì vậy Đề án này sẽ có độ mở lớn, tùy tình hình phát triển về thị
trường tiêu thụ và các thay đổi về lợi thế so sánh, các tiến bộ mới trong giống cây trồng,
vật nuôi, công nghệ chế biến, bảo quản,… mà Tỉnh có thể bổ sung, điều chỉnh một số mặt
hàng chiến lược, đối với các huyện, thị cũng có thể chọn lựa những sản phẩm đặc trưng,
có thế mạnh của địa phương (ớt Thanh Bình, tôm càng xanh Tam Nông, chanh Cao Lãnh,


…) để áp dụng các giải pháp tái cơ cấu ngành hàng của Tỉnh (xây dựng giá trị ngành
hàng, quy hoạch vùng chuyên canh, phát triển ngành công nghiệp dịch vụ phát triển sản
xuất,…).
a)- Phát triển ngành hàng lúa gạo:
Phát triển ngành lúa gạo trở thành ngành xuất khẩu chiến lược quốc gia theo
hướng bền vững, đảm bảo hiệu quả, chất lượng, có giá trị gia tăng cao. Rà soát quy hoạch
vùng chuyên canh, cải thiện cơ cấu giống, tổ chức luân canh với hoa màu và thủy sản,
tăng quy mô sản xuất, áp dụng cơ giới hóa, kỹ thuật thân thiện môi trường, chủ động điều
tiết cung, mở rộng thị trường, tăng cường liên kết kinh doanh giữa nông dân và doanh
nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch, tăng cường chế biến tinh, chế biến sâu các sản phẩm
từ lúa gạo, chế biến phụ phẩm, cải thiện công tác vận tải và hậu cần hỗ trợ tiếp thị, phát
triển thị trường, xây dựng thương hiệu của lúa gạo Đồng Tháp.
b)- Phát triển ngành hàng cá tra
Phát triển ngành sản xuất cá tra thành ngành xuất khẩu chiến lược quốc gia theo
hướng bền vững, có giá trị gia tăng cao, thỏa mãn nhu cầu thị trường đa dạng và ngày
càng mở rộng. Rà soát quy hoạch và phát triển vùng nguyên liệu cá tra gắn với cụm công

kiện sống giữa cư dân nông thôn và đô thị. Giải pháp căn bản là phát triển tài nguyên con
người, nâng cao chất lượng lao động để lao động đi ra từ nông nghiệp có cơ hội tham gia
xã hội hiện đại tương lai. Thực hiện hai giải pháp đột phá là hình thành đội ngũ nông dân
chuyên nghiệp, sản xuất nông nghiệp quy mô hàng hóa lớn và thu hút các doanh nghiệp
trong các lĩnh vực tạo việc làm nhiều (dệt may, da giày…) về Tỉnh đầu tư, nối kết với các
doanh nghiệp đưa lao động đi làm việc trong và ngoài nước. Về lâu dài, phát triển kinh tế
dịch vụ và công nghiệp phục vụ nông nghiệp để thu hút hết lao động rút ra từ nông thôn.
4.3- Giải pháp thực hiện Đề án
4.3.1- Đề xuất với Nhà nước cho phép thí điểm các chính sách mới và đổi mới
thể chế để triển khai đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp Đồng Tháp.
a)- Về chính sách đất đai
- Nâng mức hạn điền lên trên 3ha nhằm phát triển kinh tế trang trại, tăng tính hiệu
quả sản xuất ở vùng chuyên canh lúa gạo. Nới lỏng quy định về quản lý đất lúa để tạo
điều kiện chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi.
- Hỗ trợ tín dụng trung hạn và dài hạn và đơn giản các thủ tục, tạo điều kiện cho
các hộ nông dân sản xuất giỏi tích tụ ruộng đất..
- Miễn hoặc giảm phí chuyển nhượng đất đai giữa các hộ nông dân trong vùng
chuyên canh đã được quy hoạch.
b)- Về chính sách thu hút đầu tư tư nhân


- Cấp 100% kinh phí từ nguồn Trung ương cho địa phương để hỗ trợ đầu tư đối
với các doanh nghiệp thuộc danh mục ưu tiên của Nghị định số 210/2013/NĐ-CP của
Chính phủ đầu tư vào các khu công nghiệp chế biến nông sản và cụm công nghiêp - dịch
vụ - thương mại theo quy hoạch của Tỉnh.
- Miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp đối với các doanh nghiệp nằm trong lĩnh
vực ưu tiên đầu tư của Tỉnh (theo tinh thần của Luật số 32/2013/QH13 ngày 19/6/2013
sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp).
- Trang trại, nhóm nông dân và HTX nông nghiệp có đăng ký được tiếp cận hỗ trợ
đầu tư như các doanh nghiệp theo Nghị định 210/2013/NĐ-CP nếu thuộc lĩnh vực ưu tiên

- Rà soát việc sử dụng đất công trên địa bàn Tỉnh, đảm bảo việc sử dụng có hiệu
quả nguồn đất công.
b)- Thu hút đầu tư tư nhân và hỗ trợ liên kết doanh nghiệp - nông dân
- Thực hiện các chính sách ưu đãi cao nhất theo quy định của Nhà nước để thu hút
các doanh nghiệp thuộc diện ưu tiên đặc biệt (sử dụng nhiều lao động như dệt may, da
giày...), các doanh nghiệp nằm trong cụm công nghiệp - dịch vụ gắn với vùng chuyên
canh và có hợp đồng liên kết với nông dân, doanh nghiệp chế biến nông thủy sản trong
vùng ngập sâu.
- Tiếp tục rà soát nhằm đơn giản thủ tục cấp phép đầu tư và đăng ký hoạt động đối
với các doanh nghiệp chế biến nông sản nói chung khác.
c)- Tăng quy mô và sử dụng hiệu quả đầu tư công
- Chuẩn bị kinh phí và quỹ đất để xây dựng hệ thống hạ tầng của Tỉnh nối kết với
các trục giao thông chính do Trung ương xây dựng, đặc biệt là các huyện vùng ngập sâu.
- Tăng đầu tư cho cơ sở hạ tầng nông thôn hoặc thủy lợi nội đồng phục vụ sản
xuất, đặc biệt hệ thống đê bao cho vùng sản xuất chuyên canh cây ăn trái và vùng hoa cây
cảnh.
- Đầu tư nạo vét kênh mương trong vùng chuyên canh nông nghiệp, đáp ứng nhu
cầu tưới tiêu, giao thông thủy thuận lợi; xây dựng thiết kế phù hợp khai thác tối đa tiềm
năng phát triển đường thủy.
- Huy động đối tác công - tư để phát triển giao thông nông thôn, cầu cảng, hệ
thống điện phục vụ sản xuất - kinh doanh nông nghiệp.
d)- Đẩy mạnh cơ giới hóa
- Hỗ trợ vốn và lãi suất tín dụng nông dân và hợp tác xã mua, bảo hành, bảo
dưỡng đi kèm với việc đào tạo sử dụng máy móc tại các vùng chuyên canh. Đặc biệt hệ
thống làm phẳng ruộng bằng công nghệ laser và máy gặt đập liên hợp cho sản xuất lúa
gạo.


- Nâng cấp cầu, đường, mở rộng quy mô đê bao để vận chuyển nông sản bằng xe
cơ giới.



- Thông qua nghiệp đoàn và phối hợp với doanh nghiệp để đảm bảo ăn ở, an ninh,
đi lại, sức khỏe, chuyển tiền và các quyền lợi chính đáng... của người lao động tại điểm
đến.
h)- Cải cách hành chính
- Đổi mới hoạt động quản lý nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp, tập trung vào
những dịch vụ công mới (phát triển thị trường, xúc tiến thương mại, quản lý chất lượng,
phòng chống rủi ro, bảo vệ môi trường…).
- Hình thành các quỹ hoạt động từ nguồn ngân sách phục vụ cho công tác cung
cấp dịch vụ công với sự tham gia đánh giá hiệu quả của cả các đối tượng được hưởng lợi.
- Xây dựng mới Trung tâm nông nghiệp huyện sát nhập từ các trạm Khuyến nông,
Bảo vệ thực vật, Thú y, Thủy sản; có tư cách pháp nhân độc lập, tự chủ, tự chịu trách
nhiệm, chịu sự chỉ đạo trực tiếp của Ủy ban nhân dân huyện và hướng dẫn chuyên môn
nghiệp vụ của cơ quan chuyên môn cấp trên.
k)- Phát triển nguồn nhân lực, tăng cường thu hút và đào tạo tri thức
- Thu hút chuyên gia: Căn cứ vào việc xác định các vị trí cần thu hút trí thức ở
Tỉnh, huyện và cơ sở (tập trung vào các bộ phận nghiên cứu, dịch vụ kỹ thuật, dịch vụ
công) cân đối với khả năng chi trả của ngân sách để hình thành quỹ lương và trợ cấp thỏa
đáng để thu hút chuyên gia đáp ứng đủ trình độ vào những vị trí then chốt.
- Thu hút cán bộ trí thức: Khuyến khích các cơ quan sử dụng cán bộ trí thức để
tăng hiệu quả công việc (chọn lựa cán bộ có năng lực, trẻ; khoán quỹ lương, trao quyền
tự chủ để lấy thu bù chi cho các đơn vị, hỗ trợ nhà ở, tạo điều kiện bảo hiểm y tế, hỗ trợ
học tập cho con cái…).
- Đào tạo và thu hút trí thức trẻ về công tác tại địa bàn nông thôn: cấp học bổng
những năm cuối cho các sinh viên giỏi, ưu tiên vào biên chế, cho vay vốn mở dịch vụ nếu
ở khu vực tư nhân, trợ cấp cho các HTX hoặc doanh nghiệp sử dụng trí thức trẻ, tiến
hành đào tạo, cung cấp thông tin, hỗ trợ thủ tục hành chính…
- Thu hút chuyên gia, trí thức từ các Viện nghiên cứu và Trường đại học làm việc
bán thời gian tại Đồng Tháp: đặt hàng mua sản phẩm và dịch vụ khoa học – công nghệ,

- Củng cố và đổi mới tổ chức sản xuất cho 5 ngành hàng chủ lực của Tỉnh là lúa
gạo, cá tra, xoài, vịt và hoa kiểng.
- Đổi mới thể chế.
- Định hướng thị trường và hoạt động xúc tiến thương mại.
- Xây dựng cụm công nghiệp dịch vụ trung tâm.
- Chương trình phân bổ lại lực lương lao động nông thôn.
- Tháo gỡ các khó khăn vướng mắc và xin cơ chế riêng trong thực hiện thí điểm
tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp.


- Thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới gắn với đề án tái cơ cấu ngành
nông nghiệp nhằm nâng cao thu nhập, đảm bảo an sinh xã hội cho dân cư nông thôn.
III- Vai trò tuyên truyền, vận động trong tổ chức thực hiện Đề án.
Để thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp tỉnh Đồng Tháp thành công đòi
hỏi phải có thay đổi về tư duy, hành động, sự đồng thuận từ người sản xuất, doanh
nghiệp, hệ thống chính quyền từ cơ sở đến Tỉnh, sự quan tâm hỗ trợ cơ chế, chính sách
của Trung ương, việc thực hiện phải trải qua nhiều giai đoạn để đạt dần các mục tiêu đề
ra. Trong quá trình thực hiện lâu dài, với sự biến động của nhiều yếu tố chủ quan và
khách quan, các chỉ tiêu cụ thể (về số lượng), mặt hàng chủ lực có thể có sự điều chỉnh,
bổ sung. Vấn đề quan trọng trong khi thực hiện là xây dựng phương pháp tổ chức, tư duy
đổi mới để áp dụng rộng hơn với các đối tượng, thích ứng linh hoạt hơn với các biến
động bên trong lẫn bên ngoài.
Vấn đề tuyên truyền, phổ biến cho người dân, doanh nghiệp và cả hệ thống chính
trị hiểu được nội dung, mục tiêu và giải pháp thực hiện là nội dung hàng đầu trong kế
hoạch triển khai thực hiện Đề án, là cơ sở tạo nên sự quan tâm, sự đồng thuận của xã hội
đối với Đề án./.
Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Đồng Tháp




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status