Kết quả thực hiện mô hình tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại thành phố hải phòng, năm 2015 - Pdf 35

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ Y TẾ

TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y DƯỢC HẢI PHÒNG

NGUYỄN THỊ MƠ
BÁO CÁO THỰC TẬP TAI CHI CỤC DÂN SỐ
Thời gian: từ 25/4-1/5/2016

TÊN ĐỀ TÀI: “Kết quả thực hiện mô hình
tư vấn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi dựa vào cộng đồng
tại thành phố Hải Phòng, năm 2015”.

HẢI PHÒNG - 2016
1


I.

ĐẶT VẤN ĐỀ

Với sự tiến bộ của khoa học kĩ thuật, sự phát triển của kinh tế xã hội, đời
sống con người càng được nâng cao, tuổi thọ con người người ngày càng tăng, dân số
Việc Nam đang có xu hướng già hóa nhanh cả về tỷ lệ và số lượng tuyệt đối. Theo
Tổng điều tra biến động dân số và kế hoạch hóa gia đình (01/4/2012), tỷ trọng người
cao tuổi trong dân số tăng nhanh từ 7,2% vào năm 1989 lên 8,2% vào năm 1999,
9,9% vào năm 2011 và 10,2% vào năm 2012. Dự báo tỷ lệ này có thể sẽ tăng đột biến
và đạt 16,8% vào năm 2029 và 22% vào năm 2050.
Tại Việt Nam, 21% người cao tuổi được hưởng trợ cấp hưu trí hoặc mất sức
và 70% còn lai sống chủ yếu bằng nỗ lực của chính mình. Khi tuổi cao, sức chống đỡ

người cao tuổi dựa vào cộng đồng tại thành phố Hải Phòng, năm 2015”. Với mục
tiêu:
Đánh giá kết quả việc thực hiện mô hình tư vấn, chăm sóc sức khỏe người
cao tuổi dựa vào cộng đồng tại thành phố Hải Phòng, năm 2015.

II.
2.1.

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

Khái niệm người cao tuổi
Người cao tuổi là một khái niệm lịch sử, gây nhiều tranh cãi trên bình diện tiếp

cận của các khoa học, trình độ phát triển của xã hội và các nền văn hóa.
Trong cuốn Bách khoa quốc tế về xã hội học (International encyclopedia of
sociology) phần Người cao tuổi và sự quan tâm của các tổ chức xã hội khi đưa ra
2


khái niệm về người cao tuổi các tác giả phân chia theo độ tuổi như sau:
+ 65 - 74: người cao tuổi trẻ; 75 - 84: trung cao tuổi; > 84: nhóm già.
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) lại phân chia các lứa tuổi của người già:
+ 60 - 74: người cao tuổi; 75 - 90: người già; > 90: người già sống lâu.
Về mặt Pháp luật chung, theo Điều 2 trong Luật Người cao tuổi (11/2009) qui
định người cao tuổi là “Công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. Gần đây ở Việt
Nam, khái niệm người cao tuổi được sử dụng phổ biến, tuy nhiên, về khoa học thì
người già hay người cao tuổi đều được dùng với ý nghĩa như nhau.
2.2.

Người cao tuổi trên thế giới và ở Việt Nam

đang diễn ra với tốc độ ngày càng nhanh, qui mô ngày càng lớn. Quá trình già hóa dân
số ở Việt Nam là sẽ “già ở nhóm già nhất”, nghĩa là tốc độ tăng và số lượng người cao
tuổi ở độ tuổi cao nhất (từ 80 tuổi trở lên) sẽ ngày càng lớn. Số liệu từ bốn cuộc Tổng
điều tra Dân số và Nhà ở giai đoạn 1979 - 2009 cho thấy, tỷ lệ NCT ở nhóm tuổi thấp
nhất (từ 60-69) tăng chậm, trong khi tỷ lệ NCT ở nhóm cao tuổi trung bình (70-79) và
già nhất (80+) có xu hướng tăng nhanh hơn. Dự báo của GSO (2010) cho giai đoạn
2009 - 2049, khi Việt Nam bước vào giai đoạn dân số “già” cũng là lúc nhóm dân số
cao tuổi nhất tăng với tốc độ cao nhất.
So với các quốc gia khác trên thế giới, thậm chí với nhiều nước phát triển hoặc có
mức thu nhập bình quân đầu người cao hơn, tốc độ già hóa dân số Việt Nam khá cao.
Cụ thể, số năm để tỷ lệ dân số từ 65 tuổi trở lên của Việt Nam tăng từ 7% lên 14% tổng
dân số (hay thời gian để dân số quá độ từ giai đoạn “già hóa” sang “già") là ngắn hơn
nhiều nước: Pháp mất 115 năm, Thụy Điển mất 85 năm, Mỹ mất 69 năm, Nhật Bản và
Trung Quốc mất 26 năm, trong khi Việt Nam chỉ mất 20 năm. Với điều kiện kinh tế, xã
hội phát triển như hiện nay thì đây thực sự là thách thức lớn cho Việt Nam trong việc
thích ứng với một dân số “già hóa" nhanh.
Cơ cấu người cao tuổi hiện nay cho thấy, ở Việt Nam đa phần NCT sống ở nông
thôn, là nông dân và làm nông nghiệp dù rằng quá trình đô thị hóa đang diễn ra nhanh
chóng ở Việt Nam. Tổng điều tra Dân số năm 2009 cho thấy có 72,9% NCT sống ở
nông thôn. Trong số NCT, chỉ có khoảng 16 - 17% được hưởng lương hưu hoặc mất

4


sức, hơn 10% hưởng trợ cấp người có công với nước. Như vậy, còn trên 70% NCT
hiện nay sống bằng lao động của mình, bằng nguồn hỗ trợ của con cháu và gia đình.
Trong khi đó, ở nông thôn ruộng đất ít, năng suất, thu nhập thấp, ít có tiết kiệm ph ng
khi bất trắc tuổi già. Thực tế này đòi hỏi chính sách đối với NCT cần hướng đến nông
thôn, cần xây dựng và triển khai chính sách bảo hiểm xã hội cho nông dân, đẩy mạnh
nghiên cứu các hình thức hoạt động phù hợp cho NCT ở nông thôn, đặc biệt NCT cô

làm 3 nhóm: các yếu tố về hành vi, lối sống (thói quen hút thuốc, lạm dụng rượu bia,
chế độ dinh dưỡng không hợp lý (ăn ít rau, nhiều thịt...), thói quen ít vận động; các yếu
tố về môi trường (môi trường tự nhiên, môi trường chính trị, xã hội, kinh tế); các yếu tố
nguy cơ không thay đổi được (tuổi, giới tính, chủng tộc...). Điều đáng nói là nguy cơ
mắc các bệnh không lây nhiễm tăng dần theo tuổi do sự phơi nhiễm trong một thời gian
dài các bộ phận chức năng của cơ thể và giảm khả năng hệ thống miễn dịch. Năm
1996, bệnh lây nhiễm chiếm tỷ lệ mắc là 37%, trong đó chết là 33,0%; bệnh không lây
nhiễm theo thứ tự là 50,0% và 43,0%; đến năm 2005, bệnh lây nhiễm giảm còn 25,0%
và 16,0%; còn các bệnh không lây nhiễm lại tăng cao 62,0%, trong đó tỷ lệ chết là
61,0%. Vì vậy, đối với người cao tuổi Việt Nam, bệnh không lây nhiễm lại càng trở
nên nghiêm trọng hơn và việc điều trị là rất tốn kém do bệnh thường chỉ được phát hiện
ở giai đoạn muộn.
Người cao tuổi tại Hải Phòng cũng nằm trong tình trạng chung của người cao tuổi
trong cả nước phải đối mặt với nhiều tiềm ẩn của bệnh tật và nghèo đói, cũng phải đối
mặt với gánh nặng bệnh tật kép. Người cao tuổi phải đối mặt với nguy cơ tàn phế do cơ
chế hao mòn của quá trình lão hóa và tác động của các căn bệnh mạn tính. Tàn phế đe
dọa mạnh mẽ đến khả năng sống độc lập của người cao tuổi.
2.4.

Các mô hình chăm sóc sức khỏe người cao tuổi
Từ khi đất nước đổi mới đến nay, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm, tạo

điều kiện, mở ra nhiều mô hình quản lý và CSSK cho NCT hiệu quả, phù hợp với đối
tượng và từng vùng miền. Để phát huy lâu dài, bền vững và hiệu quả các mô hình
chăm sóc người cao tuổi, cần phải có sự quan tâm tham gia của tất cả các ban, ngành,
đoàn thể và toàn thể cộng đồng.
2.4.1. Mô hình chăm sóc người cao tuổi tại gia đình

6




Mô hình y tế viễn thông trong tư vấn, CSSK NCT là một mô hình hiện đại, qua
đó góp phần giảm bớt số lượng trang thiết bị, nhân lực và các tổ chức y tế, đặc biệt là ở
những vùng khó khăn, vùng xa trung tâm. Ở Việt Nam hiện nay có rất nhiều phương
tiện thông tin đại chúng dành những trang viết, khoảng thời gian quý báu trên truyền
hình để đưa thông tin về y học như Truyền hình Hà Nội có mục Y học bốn phương,
Sức khoẻ trong cuộc sống hôm nay, O2 TV..., các trang web thảo luận trực tuyến về
các kiến thức y học... đã cung cấp một lượng lớn kiến thức nhằm nâng cao sức khỏe
cho người dân. Mô hình sử dụng sự chỉ dẫn các chuyên gia trong nước cũng như nước
ngoài từ xa để mổ những ca khó được truyền hình trực tiếp thông qua mạng điện tử.
Tuy nhiên, việc triển khai xây dựng mô hình này còn gặp nhiều khó khăn do vướng
mắc về kỹ thuật cũng như sự nhận thức và khai thác công nghệ thông tin của cộng
đồng.
2.4.3. Mô hình chăm sóc sức khỏe cho người cao tuổi tại bệnh viện
Đối với loại mô hình này ở Việt Nam đã hình thành và đi vào hoạt động. Đó
chính là Viện Lão khoa với mô hình chăm sóc sức khoẻ miễn phí dành cho NCT. Đồng
thời, thông qua thẻ BHYT dành cho NCT diện nghèo, cô đơn và những NCT từ 80 tuổi
trở lên được miễn phí khi KCB tại các bệnh viện. Hàng năm, NCT còn được các bác sĩ
tại các bệnh viện trên địa bàn về tận khu vực cư trú của từng Hội NCT để khám bệnh,
điều trị bệnh và phát thuốc định kỳ. Điều đó góp phần làm tăng thêm niềm tin cho
NCT yên tâm điều trị bệnh tật và sống có ích cho xã hội. Tuy nhiên, với tấm thẻ bảo
hiểm đi khám họ sẽ phải đối đầu với sự phức tạp và khó khăn trong thủ tục hành chính.
Mặt khác, một số cơ sở y tế còn thiếu giường bệnh, bắt buộc NCT phải nằm ghép, chờ
đợi... Để khắc phục vấn đề này, nhiều bệnh viện tư nhân, các mô hình bệnh viện liên
kết, có vốn đầu tư nước ngoài đã được thành lập. Các loại hình ở các bệnh viện trên ra
đời nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc NCT như dịch vụ điều dưỡng, chăm sóc NCT
theo yêu cầu của Bệnh viện điều dưỡng-phục hồi chức năng, điều trị bệnh nghề nghiệp
TP. HCM và Bệnh viện khách sạn Hồng Ngọc ở Hà N ô i . . Dù với hình thức chăm sóc



9


chúng, tổ chức các cuộc hội thảo về gương NCT trong tuyên truyền, vận động thực
hiên chính sách DS-KHHGĐ; phát triển kinh tế, xây dựng gia đình hạnh phúc, tập huấn
cho cán bộ y tế các cấp về chăm sóc sức khỏe, phục hồi chức năng cho NCT, thành lập
các câu lạc bộ ‘‘Người cao tuổi giúp người cao tuổi”....
Có thể nói, mô hình CSSK NCT ở cộng đồng đã đáp ứng được nhu cầu của NCT
nói chung và NCT ở khu vực nông thôn nói riêng về thông tin, kỹ năng rèn luyện, giữ
gìn sức khỏe theo hướng dự phòng tại cộng đồng, rẻ tiền, phù hợp với điều kiện và
trình độ của NCT ở khu vực nông thôn; đáp ứng được phương châm xã hội hóa trong
công tác CSSK NCT (huy động NCT, gia đình họ hàng, chính quyền, chuyên môn và
các ban, ngành đoàn thể cùng tham gia).
Tại Hải Phòng mô hình này thực hiện và đưa lại rất nhiều thành công, và lợi ích
cho cộng đồng góp phần ổn định đời sống, an sinh xã hội, và góp phần giúp phát triển
kinh tế của thành phố.

III. KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ ÁN “TƯ VẤN VÀ CHĂM SÓC NGƯỜI CAO
TUỔI DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG TẠI HẢI PHÒNG, NĂM 2015”
Bảng 3.1: Các hoạt động đã triển khai để thực hiện đề án năm 2015
Các hoạt động
Các chỉ tiêu
Tuyên truyền trên các phương tiện Số tin/ bài phát sóng trên truyền hình
Số tin/bài phát sóng trên đài phát thanh
10


Số tin/bài đăng trên báo tỉnh
thông tin đại chúng


Năm 2011

Năm 2015

4

6

12

16

Số huyện
Số xã

11


Tuyên truyền trên các phương
tiện thông tin đại chúng
Các tin/ bài phát sóng trên TTĐC

36

35

17000

5300

cấp kinh phí vì thế các hoạt động diễn ra nhiều hơn, còn trong năm 2015 là năm cuối
của đề án nên các cấp, các ban ngành, các đơn vị thực hiện đã làm quen với hoạt động
của đề án, và nhờ các hoạt động diễn ra trong những năm trước đó, đã nâng cao kiến
thức của người dân của mô hình, người dân đã tự giác tham gia các hoạt động, và các
hoạt động truyền thông đã có chất lượng hơn trước. Vì vậy các hoạt động của năm
2015 tuy ít nhưng vẫn đạt được hiệu quả đề ra.

12


IV.

KẾT LUẬN

Mô hình triển khai đã mang lại rất nhiều hiệu quả thiết thực:
-

Đã hình thành được mạng lưới chăm sóc người cao tuổi tại cộng đồng có

-

kiến thức và kỹ năng cơ bản đáp ứng yêu cầu.
Sức khỏe thể chất và tinh thần của người cao tuổi được cải thiện thông qua
các hoạt động dựu phòng, tự chăm sóc và chăm sóc của gia đình, cộng đồng,

-

và toàn hệ thống chăm sóc người cao tuổi.
Tăng khả năng tiếp cận dịch vụ tư vấn và chăm sóc cho người cao tuổi.
Góp phần giảm chi phí xã hội cho việc điều trị các bệnh tật phát sinh ở người


thân trong gia đình. Tuyên truyền nâng cao nhận thức của các nhà lãnh đạo cộng đồng
đối với công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi; động viên, khuyến khích gia đình,
cộng đồng trong việc chăm sóc và phát huy vai trò người cao tuổi; tăng cường nguồn
lực trong công tác chăm sóc sức khỏe người cao tuổi.

2.

Tăng cường các hoạt động văn hóa, thể dục thể thao, vui chơi giải trí phù

hợp với người cao tuổi; hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành các câu
lạc bộ văn hóa, thể thao của người cao tuổi ở địa phương.

14




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status