Phần 1: MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn SKKN
Tiếp tục thực hiện chủ đề năm học 2015-2016 là tiếp tục đổi mới mạnh
mẽ phương pháp dạy và học nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của
học sinh; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải
quyết các vấn đề thực tiễn. Đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các
hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh. Đẩy mạnh
ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học đặc biệt chú
trọng giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh thông qua việc điều
chỉnh nội dung dạy học theo hướng tinh giản, theo tinh thần Nghị quyết số 29NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo
Ngoài ra, đáp ứng những yêu cầu đổi mới về phương diện phương pháp,
đáp ứng tốt hơn Chuẩn kiến thức và kĩ năng quy định thì việc làm phong phú,
sinh động, khắc sâu bài học…bằng một kỹ thuật mới đó là tổ chức các đơn vị
kiến thức trên hệ thống sơ đồ, ta vẫn gọi là sơ đồ tư duy, hay bản đồ tư duy. Nó
không chỉ giúp cho học sinh có sự hiểu biết sâu rộng, dễ tái hiện kiến thức Ngữ
văn mà còn góp phần chắp cánh cho những phương pháp dạy học đặc trưng của
bộ môn này. Đồng thời, tạo hứng thú để học sinh tham gia học tập tích cực, kiểu
như: “ có thích mới nhích tư duy”.
Thực tế việc vận dụng sơ đồ tư duy vào một số tiết dạy ở bộ môn Ngữ văn,
tôi nhận thấy đã đem lại những hiệu quả nhất định. Tuy nhiên để tiến đến sử
dụng lâu dài và đem lại hiệu quả tối ưu tôi đã tiến hành tìm hiểu, nghiên cứu
những cơ sở khoa học của nó và vận dụng sao cho phù hợp có hiệu quả nhất với
đặc trưng của bộ môn Ngữ văn và với đối tượng học sinh là người dân tộc Mông
như ở trường tôi. Do đó, tôi chọn sáng kiến : “Một số kinh nghiệm sử dụng
SĐTD trong dạy học môn Ngữ Văn 9 ở trường PTDTBT THCS Chế Cu Nha.”
Mong rằng với những kinh nghiệm này có thể giúp các đồng nghiệp ít nhiều
trong việc làm phong phú thêm phương pháp, kĩ thuật dạy học trong môn Ngữ
1
2
Phần 2: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ ( NỘI DUNG CỦA SKKN)
1. Cơ sở lý luận của SKKN
Căn cứ Hướng dẫn số 791/HD-BGDĐT ngày 25/6/2013, số 2653/ QĐBGDĐT ngày 25 tháng 07 năm 2014 của Bộ GDĐT giáo dục định hướng phát
triển năng lực học sinh.
Căn cứ Số 70 / CTr-TƯ ngày 20 tháng 1 năm 2014 của Tỉnh ủy Yên Bái và Số
113/KH-HU ngày 07 tháng 05 năm 2014. Số 28 CTr-HU ngày 26 tháng 7 năm 2014
về thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần
thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo
dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Số 591/SGDĐT-GDTrH ngày 04/9/2015 của Sở Giáo dục và Đào tạo về việc
Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2015 - 2016. Thực hiện
hướng dẫn số 110/PGDĐT-THCS, ngày 10 tháng 9 năm 2015V/v Hướng dẫn
nhiệm vụ chuyên môn cấp trung học cơ sở năm học 2015 - 2016 của Phòng
Giáo dục và Đào tạo Mù Cang Chải các đơn vị trường thực hiện các nhiệm vụ
giáo dục cấp Trung học cơ sở năm học 2015 - 2016
- Căn cứ vào kế hoạch năm học của trường ....................................
- Căn cứ kế hoạch chuyên môn năm học 2015 -2016.
Căn cứ vào những yêu cầu đổi mới, cải tiến phương pháp dạy học theo
hướng tích cực hóa hoạt động và phát triển năng lực tư duy của học sinh trong
việc học tập môn Ngữ văn. Đáp ứng được yêu cầu chuẩn kiến thức, kĩ năng của
môn học mà Bộ giáo dục đã quy định.
Ngữ văn là một môn học thuộc nhóm khoa học xã hội. Đây là môn học có
vai trò rất quan trọng trong đời sống và trong sự phát triển tư duy của con người.
3
Nhiều công trình nghiên cứu đã cho thấy tính hiệu quả của việc hình
dung tri thức thông qua một sơ đồ hình nhánh, mỗi nhánh mang một thông tin
ngắn gọn được phát triển từ một vấn đề lớn đặt ở trung tâm. Một sơ đồ tư duy
cho phép ta thỏa sức vạch ra các ý tưởng, suy nghĩ đầy đủ trước khi đưa ra một
quyết định. Nếu cần xây dựng một kế hoạch làm việc, phân tích một vấn đề…thì
sơ đồ tư duy mang đến những giá trị lớn hơn nhiều so với việc bạn đặt bút viết
từ đầu đến cuối.
2. Thực trạng của SKKN
1.Về lịch sử nghiên cứu sáng kiến về "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
môn Ngữ Văn" thực tế đã có nhiều sáng kiến và ở mỗi sáng kiến đều nêu lên các
phương pháp sử dụng, vận dụng SĐTD vào giảng dạy, còn ở sáng kiến này tôi
chỉ đề cập đến việc sử dụng các phương pháp đó có sao cho phù hợp với đối
tượng học sinh trường tôi
2. Đối với giáo viên:
Trường .............................. có đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, nhiều giáo
viên đã tích cực ứng dụng công nghệ thông tin, không những tìm tòi trong công
tác soạn giảng và tiếp cận lượng lớn tư liệu dạy học. Tuy vậy về phương diện
phương pháp và kĩ thuật vẫn còn nhiều hạn chế nhất là cách thức giúp học sinh
hiểu vấn đề nhanh, nhớ kiến thức lâu và tái hiện nhanh khi cần thiết phải vận
dụng là con yếu.
Trong một số tiết học, dù vẫn cố gắng thực hiện theo chủ trương giảm tải
nhưng cách tổ chức các đơn vị kiến thức không tránh khỏi rườm rà, phải ghi
chép thành câu, đoạn hoàn chỉnh để thuận lợi cho học sinh trong quá trình học
bài cũ.
Một bộ phận giáo viên áp dụng dạy học bằng SĐTD còn mang tính hình
thức, chưa chú trọng rèn kĩ năng cho học sinh, khiến học sinh có cảm giác vẽ
5
6
Trước thực trạng đó tôi đã tiến hành khảo sát ban đầu đối với một số
học sinh lựa chọn ngẫu nhiên để khảo sát từ lớp 8B năm học 2014-2015 với
các nội dung về kiến thức, kĩ năng, thái độ đối với việc sử dụng SĐTD trong
bài học với các nội dung như sau:
*Vê kiến thức:
- Nhớ, nắm được nội dung chính của bài học.
* Về kĩ năng:
- Vẽ, trình bày kiến thức dựa trên sơ đồ
* Về Thái độ:
- Thích vẽ có sự sáng tạo khi sử dụng sơ đồ tư duy thể hiện nội dung
kiến thức.
Số
HS
được
Về kiến thức
khảo sát
Nhớ
được
chính
Về kĩ năng
Về thái độ
Trình bày
Nắm được Vẽ
được kiến thức Thích vẽ Có sáng
và việc áp dụng còn máy móc...
Tất cả những vấn đề trên bản thân tôi lúc đầu mới áp dụng cũng gặp
những khó khăn trong quá trình đưa SĐTD vào dạy học nhưng với sự cố gắng
tìm tòi học hỏi và tích lũy những kinh nghiệm có được. Tôi thấy mình cần chia
sẻ với đồng nghiệp để nâng cao hơn nữa hiệu quả của sử dụng SĐTD trong
giảng dạy Ngữ Văn 9 nói riêng và môn Ngữ Văn THCS nói chung và đối với
học sinh dân tộc " nghĩ được nhưng không diễn đạt được".
3. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề
3.1 Phương pháp vận dụng SĐTD trong quá trình dạy học Ngữ văn.
3.1.1 Đặc điểm môn Ngữ văn và PPDH Ngữ văn .
Ở góc độ của sáng kiến này tôi chỉ đưa ra một số ví dụ minh họa khi
đưa SĐTD trong môn Ngữ văn 9 và sử dụng như thế nào trong một tiết dạy 45
phút, cũng như hướng dẫn HS tạo lập SĐTD:
Đặc trưng của bộ môn Ngữ văn là có 3 phân môn. Phân môn Văn bản chủ
yếu là đọc - hiểu văn bản văn học. Cảm thụ những cái hay, cái đẹp trong tư
tưởng tình cảm cảm người viết bằng chính nhận thức của các em; phân môn
Tiếng việt hình thành cho các em kỹ năng sử dụng thành thạo tiếng việt, có
những hiểu biêt nhất định về tri thức tiếng việt, từ đó các em biết yêu quý tiếng
việt, có ý thức giữ gìn bảo vệ tiếng mẹ đẻ, góp phần hình thành nhân cách cho
các em; phân môn Tập làm văn giúp học sinh rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản.
Cả 3 phân môn này học sinh đều có thể sử dụng SĐTD để tự học.
8
Trong các giờ học Ngữ văn chúng ta có thể cho học sinh sử dụng BĐTD
để: Chuẩn bị bài mới; Củng cố kiến thức đã học; Ghi nhớ kiến thức để vận dụng;
Liên kết kiến thức trong các nội dung tích hợp.
Ở sáng kiến này tôi không đi bàn luận sâu về các phương pháp dạy ở từng
phân môn mà tôi chỉ đề cập đến việc sử dụng SĐTD vào các phân môn trong
loại bút màu khác nhau, tuy nhiên, cách thức này có nhược điểm là khó lưu trữ,
thay đổi, chỉnh sửa. Một giải pháp được hướng đến là sử dụng các phần mềm để
tạo ra sơ đồ tư duy. Một số phần mềm tiêu biểu trong thể loại “phần mềm mind
mapping” (mind mapping software).
3.2
Tiến trình một tiết dạy theo sơ đồ tư duy
Trước khi áp dụng phương pháp "Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học
môn Ngữ Văn 9 ở trường........................................” giáo viên giới thiệu cho học
sinh xem một số đoạn phim ngắn (có gửi kèm theo đĩa CD gắn chung với
SKKN) cho học sinh thấy hiệu quả của việc sử dụng sơ đồ tư duy khi ghi bài,
học bài và hướng dẫn học sinh cách vẽ sơ đồ tư duy gồm nội dung cả bài học
trên một trang giấy rất dễ học, dễ thực hiện và học sinh sẽ rất thích thú với mỗi
tác phẩm sơ đồ tư duy của mình. (Xem phim hướng dẫn phần mềm sơ đồ tư duy
đính kèm trong dĩa CD)
Với cách thể hiện gần như cơ chế hoạt động của bộ não, Bản đồ tư duy
sẽ giúp học sinh:
• Sáng tạo hơn
• Tiết kiệm thời gian
• Ghi nhớ tốt hơn
• Nhìn thấy bức tranh tổng thể
• Tổ chức và phân loại suy nghĩ của học sinh
• và nhiều vấn đề khác trong quá trình học tập…
Lập sơ đồ tư duy (hoặc sơ đồ ý tưởng) là việc bắt đầu từ một ý tưởng
trung tâm và viết ra những ý khác liên quan tỏa ra từ trung tâm.
10
11
Bước 6. Nên dùng các đường kẻ cong thay vì các đường thẳng vì các đường
cong được tổ chức rõ ràng sẽ thu hút được sự chú ý của mắt hơn rất nhiều.
Bước 7. Bố trí thông tin đều quanh hình ảnh trung tâm
Bước 8. Trình bày ý tưởng và nội dung BĐTD đã vẽ.
Sơ đồ tư duy của học sinh là tài sản riêng của học sinh: một khi học
sinh hiểu cách tạo ra những ghi chú trong sơ đồ tư duy, học sinh có thể phát huy
các quy tắc của riêng mình để làm cho nó tốt hơn. Những đề nghị sau đây có thể
giúp học sinh tăng hiệu quả của việc đó:
* Sử dụng những từ ngữ đơn giản thể hiện thông tin: Hầu hết các từ
trong cách viết bình thường đều là nhồi nhét, bởi vì chúng đảm bảo rằng thông
tin được chuyển tải đúng ngữ cảnh và trong một dạng thức dễ đọc. Trong sơ đồ
tư duy của học sinh, những từ khóa có ý nghĩa có thể chuyển tải cùng ý nghĩ như
thế một cách rõ ràng hơn. Những từ dư thừa chỉ làm sơ đồ lộn xộn
* Chữ in: Cách viết dính nhau hoặc không rõ ràng sẽ khó đọc hơn.
* Sử dụng màu sắc để tách các ý khác nhau: Điều này sẽ giúp học sinh
tách các ý ra khi cần thiết. Nó cũng giúphọc sinh làm sơ đồ trực quan hơn để gợi
nhớ lại. Màu sắc cũng giúp cho việc sắp xếp các chủ đề.
* Sử dụng những ký hiệu và hình ảnh: Khi một ký hiệu hoặc hình ảnh
có ý nghĩa gì đó với học sinh, hãy sử dụng chúng. Hình ảnh có thể giúp học sinh
nhớ thông tin hiệu quả hơn là từ ngữ.
* Sử dụng liên kết đan chéo: Thông tin trong một phần của sơ đồ có thể
liên quan đến phần khác. Khi đó, học sinh có thể vẽ những đường thẳng để chỉ
ra sự liên quan đan chéo. Việc này sẽ giúp cho học sinh thấy mức ảnh hưởng
một phần trong chủ đề đến các phần khác.
* Chú ý: Lập sơ đồ tư duy là một cách thức cực kỳ hiệu quả để ghi chú.
Các bản đồ tư duy không chỉ cho thấy các thông tin mà còn cho thấy cấu trúc
- SĐTD ghi nhớ bằng màu sắc nên ngoài việc sử dụng màu cho các nhánh thì có
thể khuyến khích học sinh sử dụng bằng hình ảnh.
15
Bước 2: Dạy bài mới : Giáo viên giới thiệu bài mới và vẽ chủ đề chính
của bài học lên bảng bằng một hình vẽ bất kì trên bảng của lớp mà không ghi bài
theo kiểu cũ và giáo viên cho học sinh ngồi theo nhóm thảo luận sơ đồ tư duy
của mỗi học sinh đã chuẩn bị trước ở nhà để đối chiếu với sơ đồ tư duy của các
bạn trong nhóm.
16
Giáo viên đặt câu hỏi chủ đề nội dung chính hôm nay có mấy nhánh lớn
cấp số 1 và gọi học sinh học sinh lên bảng vẽ nối tiếp chủ đề chia thành các
nhánh lớn trên bảng có ghi chú thích tên từng nhánh lớn.
Sau khi học sinh vẽ xong các nhánh lớn cấp số 1, giáo viên đặt câu hỏi
tiếp ở nhánh thứ nhất có mấy nhánh nhỏ cấp số 2... tương tự học sinh đã hoàn
thành nội dung sơ đồ tư duy của bài học mới ngay tại lớp. Học sinh tự chỉnh sửa
điều chỉnh bổ sung những phần còn thiếu vào sơ đồ tư duy của từng cá nhân.
Để minh họa cho sơ đồ tư duy giáo viên sẽ cho học sinh xem những
hình ảnh , đoạn phim ngắn minh họa cho rõ ý hơn của từng nhánh cấp độ 1, cấp
độ 2 ... Khi cho học sinh xem hình ảnh và phim minh họa giáo viên phải giáo
dục tư tưởng tình cảm học sinh khi có liên quan đến phần tích hợp tư tưởng đạo
đức Hồ Chí Minh, đến lịch sử địa phương của huyện Dĩ An và tỉnh Bình Dương
theo tài liệu hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo và tài liệu Lịch sử địa
phương của Sở Giáo dục và Đào tạo Bình Dương đã phổ biến đến giáo viên.
Văn đang hướng tới.
Như vậy trong quá trình dạy học giáo viên xác định nội dung kiến thức
của bài, phân định thời gian hợp lí để có thể đưa SĐTD vào tiết dạy sao cho phù
hợp với nội dung kiểu bài cũng như đối tượng học sinh.
3.5 Có thể tóm tắt các bước dạy học Ngữ văn trên lớp với SĐTD như sau:
Bước 1: HS lập SĐTD theo nhóm hay cá nhân từ gợi ý của GV. Gv có thể tạo
nhánh cấp một để gợi ý cho hs tiếp tục vẽ các nhánh ở cấp tiếp theo.
Bước 2: Cá nhân hoặc đại diện của các nhóm HS lên báo cáo, thuyết minh về
SĐTD mà nhóm mình đã thiết lập.
Bước 3: HS thảo luận, bổ sung, chỉnh sửa để hoàn thiện SĐTD về kiến thức của
bài học đó. GV sẽ là người cố vấn, là trọng tài giúp HS hoàn chỉnh SĐTD, từ đó
dẫn dắt đến kiến thức của bài học.
Bước 4: củng cố kiến thức bằng một SĐTD mà GV đã chuẩn bị sẵn hoặc một
SĐTD mà cả lớp đã tham gia chỉnh sửa hoàn chỉnh, chỉ định HS lên trình bày,
thuyết minh về kiến thức đó.
Lưu ý: - SĐTD là một sơ đồ mở nên không yêu cầu tất cả các nhóm HS có
chung một kiểu SĐTD, GV chỉ nên chỉnh sửa cho HS về mặt kiến thức, góp ý
thêm về đường nét vẽ, màu sắc và hình thức (nếu cần). Tuy nhiên với những đối
tượng học sinh học lực dưới trung bình, bước đầu chúng ta nên sử dụng SĐTD
19
vào kiểm tra bài cũ, củng cố tạo sự hứng thú cho các em bằng cách như: Sử
dụng SĐTD trống để học sinh điền thêm thông tin
3.6 Để học sinh có thể tự vẽ được SĐTD một cách thuần thục GV cần
lưu ý một số điểm như sau:
1. Cho HS làm quen với bản đồ tư duy bằng cách giới thiệu cho HS một số
“SĐTD” cùng với sự dẫn dắt của GV để các em làm quen.
Đối với môn Ngữ văn, học sinh rất hào hứng trong việc ứng dụng BĐTD để ghi
chép bài nhanh, hiệu quả, đặc biệt là trong học tiếng Việt.
Bằng sự động viên khuyến khích, có thể đây chưa là kết quả tối ưu nhất
nhưng phần nào cũng khắc phục được những hạn chế nho nhỏ trong quá trình
dạy và học bằng SĐTD trong môn Ngữ văn. 9
Kết quả thu được từ sáng kiến có so sánh với kết quả trước khi áp dụng
sáng kiến:
Bảng 1: Trước khi tiến hành áp dụng sáng kiến.
( Lớp 8B- năm học 2014-2015)
21
Số
HS
được
Về kiến thức
khảo sát
Nhớ
được
chính
Về kĩ năng
Về thái độ
Trình bày
Nắm được Vẽ
được kiến thức Thích vẽ Có sáng
ND
sáng
ND
ND chính
SĐTD
bằng
SĐTD
tạo khi vẽ
SĐTD
20=76,92% 20=76,92% 26=100% 10=38,46% 26=100% 10=38,46%
26
Qua khảo sát số học sinh biết sử dụng, trình bày kiến thức trên SĐTD mắc
dù chưa cao nhưng cũng phần nào cho thấy các em đã rất hào hứng trong việc sử
dụng SĐTD vào nội dung bài học đặc biệt là những em học sinh học trung bình,
dưới trung bình cũng đã tự tin hơn trong việc sử dụng SĐTD.
22
Phần 3: KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận.
Đổi mới Giáo dục phổ thông yêu cầu người thầy giáo chỉ là người tổ chức,
hướng dẫn còn học sinh là trung tâm, chủ động, tự tin chiếm lĩnh kiến thức. Vậy
nên phương pháp dạy học mà người thầy cung cấp cho học trò là phương pháp
tự học. Dạy học sinh tự học trong Ngữ Văn là dạy học sinh cách thức, phương
pháp chiếm lĩnh tác phẩm, đơn vị kiến thức về phương tiện rèn luyện kỹ năng.
Để thực hiện mục tiêu dạy cách học cho học sinh, người thầy có thể đa dạng hóa
các hình thức, kỹ thuật dạy học, sáng tạo và linh hoạt trong quá trình lên lớp.
Một trong các phương pháp đó người thầy giáo có thể sử dụng bản đồ tư duy
hứng. Với sản phẩm độc đáo “kiến thức + hội họa” là niềm vui sáng tạo hàng
ngày của HS và cũng là niềm vui của chính thầy cô giáo và phụ huynh HS khi
chứng kiến thành quả lao động của học trò của mình. Cách học này còn phát
triển được năng lực riêng của từng học sinh không chỉ về trí tuệ (vẽ, viết gì trên
SĐTD), hệ thống hóa kiến thức (huy động những điều đã học trước đó để chọn
lọc các ý để ghi), khả năng hội họa (hình thức trình bày, kết hợp hình vẽ, chữ
viết, màu sắc), sự vận dụng kiến thức được học qua sách vở vào cuộc sống.
Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng: Không nên quá cực đoan cho rằng BĐTD
có thể giúp người học tất cả. Trên cơ sở những kiến thức được hệ thống hoá, sơ
đồ hoá, người học còn phải biết thực hành ngôn ngữ bằng việc đọc, nói và viết.
Đối với văn bản nghị luận, việc sử dụng BĐTD hỗ trợ đọc hiểu các văn
bản sẽ là thuận lợi. Nhưng với văn bản nghệ thuật, muốn dùng BĐTD để biểu
hiện một văn bản, người học phải tìm ra mạch của văn đó (xét đơn thuần về mặt
ý). BĐTD không tái hiện được cảm xúc, không chuyển tải hết sự tinh tuý trong
cách dùng từ, đặt câu, trong nghệ thuật cấu trúc tác phẩm. Vì vậy, sử dụng
BĐTD trong dạy học là cần thiết, nhưng phải tránh được sự suy diễn khô khan
Ghi chép trên BĐTD cần: Nghĩ trước khi viết, niết ngắn gọn, viết có tổ
chức, viết lại theo ý hiểu của mình, nên chừa khoảng trống để có thể bổ sung ý
(nếu sau này cần). Điều cần tránh khi ghi chép trên BĐTD: Ghi lại nguyên cả
đoạn văn dài dòng, ghi chép quá nhiều ý vụn vặt không cần thiết, dành quánhiều
24
thời gian để ghi chép.
2. Khuyến nghị.
* Đối với trường: Tổ chức sinh hoạt chuyên môn giữa các tổ chuyên môn để
chúng tôi có cơ hội học hỏi trao đổi kinh nghiệm về các phương pháp dạy học
để có được những phương pháp dạy học hay, hiệu quả.
* Đối với tổ Chuyên môn trường: Nên tổ chức trao đổi lấy ý kiến của giáo viên